Lebrument Norbert
Người đọc Hà Hữu Nga
[Tr.381] Trong tác phẩm của mình, Merleau-Ponty không hướng đến một định nghĩa khép kín và tuyệt đối về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm giác; tư tưởng của Merleau-Ponty về bản chất là một ‘sự trở lại với hiện tượng’, nơi tư tưởng cố gắng lắng nghe hiện tượng cảm giác trước khi nói ‘về’ những gì nó nên là. Tuy nhiên, trong quá trình này, sự suy ngẫm của Merleau-Ponty về cấu trúc hành vi và Hiện tượng học tri giác sẽ vấp phải vấn đề về cơ thể được coi là điểm tựa của mối quan hệ giữa ngôn ngữ và các giác quan. Do đó, mục tiêu của bài viết này là theo dõi vận động tư tưởng của Merleau-Ponty khi ông cố nắm bắt các liên hệ ban đầu kết nối ngôn ngữ và cảm giác trong thân thể. Sự vận động này cuối cùng dẫn Merleau-Ponty đến việc đặt câu hỏi về vị trí của thân thể để thiết lập một triết học về biểu đạt không còn lệ thuộc vào hiện tượng học tri giác.
Lời giới thiệu
Những nhận xét sơ bộ để hiểu về hiện tượng thân thể
Khi Merleau-Ponty nói về thân thể trong Hiện tượng học Tri giác, ông tìm kiếm một nơi có thể giải thích được đời sống tự nhiên của loài người, để khám phá trong đó điều gì làm cho mọi hành động của ý thức trở nên khả thể, nhưng đồng thời, điều đó lại liên tục thoát khỏi ý thức cấu thành. Điều này có nghĩa là, từ ‘Cấu trúc hành vi’ và ‘Hiện tượng học Tri giác’ trở đi, đời sống tự nhiên của chủ thể, theo cách hiểu của Merleau-Ponty, hoàn toàn là một sức mạnh có tính ý hướng, không bị khách thể hóa, và hoàn toàn là tồn tại của thân thể. Do đó đối với Merleau-Ponty, thân thể sở hữu một vị thế rất đặc biệt và mơ hồ, vì một mặt, nó là thứ phân biệt chúng ta với vật vô tri vô giác, như một hòn đá, mặt khác, nó là thứ ngăn cản chúng ta trở thành một thực thể hoàn toàn thuộc về tinh thần.
[Tr.382] Đối với Merleau-Ponty, trái ngược với quan niệm được truyền thống triết học đưa ra, cơ thể không chỉ đơn thuần là nơi diễn ra cảm xúc, hay đúng hơn, chính ý nghĩa của thuật ngữ affectivité ‘cảm xúc’ cần được xem xét lại, được thấm nhuần một ý nghĩa mới. Nếu cơ thể là cảm xúc, thì cảm xúc đó là dấu ấn mà thế giới khả giác để lại trên nó, tức là bởi thực thể được cảm nhận, dấu ấn này thể hiện tính vận động của nó, tức là hình thức tương tác của nó với thế giới. Cơ thể vừa là nơi mà một trường hiện tượng có thể mở ra, tạo tiền đề cho tôi bị ảnh hưởng bởi các giác quan—theo nghĩa này, nó mang tính chủ động—nhưng nó cũng là phương tiện mà qua đó tôi có thể phản ứng, đáp lại sự cảm nhận của các giác quan bằng cách thể hiện những gì chúng báo hiệu cho tôi khi tôi cảm nhận chúng. Ví dụ, khi đi lại trong nhà, tôi không va vào đồ đạc hay tường, không phải vì tôi biết cách định hướng, mà vì cơ thể tôi nhạy cảm với trải nghiệm giác quan từ tường, đồ đạc, đồng thời, nó thể hiện một chuyển động phù hợp nhất với những yêu cầu biểu đạt của thế giới cảm tính được thể hiện bởi các bức tường, đồ nội thất và các vật thể khác.
Trong những điều kiện này, ý tưởng xuất hiện cho rằng cơ thể không chỉ đơn thuần là một vật chứa đựng ấn tượng, mà còn thực hiện một sự biểu đạt trong mối quan hệ độc đáo với các giác quan, với thực thể được nhận thức tương tác với nó. Bắt đầu từ phân tích sơ bộ này, mục đích của bài viết là làm rõ cách thức và bằng những cách nào cơ thể có vai trò then chốt trong việc hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và các giác quan trong các tác phẩm ban đầu của Merleau-Ponty. Để làm được điều đó, trước tiên chúng ta phải mô tả các hiện tượng tri giác và biểu đạt, để chúng ta có thể nắm bắt được cách cơ thể là nơi mà lời nói – và do đó ngôn ngữ – có thể được nhận thức trong sự xuất hiện của nó như một sự biến đổi của các giác quan, một sự chuyển đổi từ cái riêng sang cái chung. Tiếp theo, mô tả về hành động nói dẫn đến xem xét sự khác biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ được nói ra; một khác biệt mà ta có thể nắm bắt đầy đủ quan điểm của Merleau-Ponty về cơ thể trong các tác phẩm sớm của ông, nhưng cũng nhận ra những hạn chế của quan điểm đó.
Cách thức mô tả khả năng ban đầu của cơ thể trong việc tạo ra và tri giác ý nghĩa
Hiện tượng tri giác như một mối quan hệ ban đầu với thế giới khả giác
Để nắm bắt được tri giác là gì, người ta phải đặt mình vào một mối quan hệ với thế giới trước bất kỳ phán đoán nào về thế giới; nói cách khác, hiện tượng học của Merleau-Ponty nằm ở trung tâm của l’expérience antéprédicative kinh nghiệm tiền vị ngữ. Đối với Merleau-Ponty, đó là vấn đề thiết lập lại đối thoại với thế giới và sự vật khả giác, bằng cách quan niệm rằng trước bất kỳ sự khái niệm hóa nào về chúng, kinh nghiệm giác quan mang lại cho chúng ta, thông qua cơ thể, một sự tiếp xúc với [tr.383] l’être thứ hiện hữu mà tư duy không bao giờ có thể nắm bắt được bởi vì nó luôn luôn vô thức cấu thành cùng với nó. Như vậy, tri giác thiết lập chủ thể trên hai cấp độ: một mặt, thông qua cơ thể tri giác của tôi, tôi tiếp cận sự vật như chúng vốn có, chứ không phải thông qua bất kỳ sự biểu hiện nào; mặt khác, tri giác, thông qua thể xác của tôi, là một hiện tượng cảm giác thuộc về chính tôi, và theo nghĩa này, nó là ấn tượng của một chủ thể trong mối quan hệ với thực tại.
Đây là nghịch lý mà trải nghiệm tri giác ngay lập tức mang lại và khiến nó trở nên mơ hồ: quả thực, tri giác về một sự vật diễn ra ở nơi nó hiện hữu, ở vị trí thực sự của nó, nhưng đồng thời, sự hiện diện này, thông qua một cơ thể tri giác, lại diễn ra bên trong một chủ thể. Chính sự tồn tại của nghịch lý này cho thấy rằng nếu: “je voulais traduire exactement l’expérience perceptive, je devrais dire qu’on perçoit en moi et non pas que je perçois. Toute sensation comporte un germe de rêve ou de dépersonnalisation comme nous l’éprouvons par cette sorte de stupeur où elle nous met quand nous vivons vraiment à son niveau. Sans doute, la connaissance m’apprend bien que la sensation n’aurait pas lieu sans une adaptation de mon corps, par exemple qu’il n’y aurait pas de contact déterminé sans un mouvement de ma main. Mais cette activité se déroule à la périphérie de mon être, je n’ai pas plus conscience d’être le vrai sujet de ma sensation que de ma naissance ou de ma mort” (Merleau-Ponty, 1945, p. 249). “Tôi muốn dịch chính xác trải nghiệm tri giác, tôi sẽ phải nói rằng điều gì đó được tri giác bên trong tôi, chứ không phải là tôi tri giác. Mỗi cảm giác đều chứa đựng một mầm mống của giấc mơ hoặc giải nhân cách hóa, như chúng ta trải nghiệm thông qua loại trạng thái mê man mà nó gây ra khi chúng ta thực sự sống ở cấp độ của nó. Không nghi ngờ gì nữa, tri thức dạy tôi rằng cảm giác sẽ không xảy ra nếu không có sự thích nghi của cơ thể tôi, chẳng hạn, sẽ không có sự tiếp xúc rõ ràng nếu không có chuyển động của bàn tay tôi. Nhưng hoạt động này diễn ra ở vùng ngoại vi hiện hữu của tôi; tôi không ý thức được mình là chủ thể thực sự cảm giác của mình mà là về sự ra đời hay cái chết của mình” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 249).
Tri giác về cái khả giác bởi cơ thể sẽ được chủ thể trải nghiệm như một thứ “giải cá nhân hóa” nhất định của hiện hữu, một sự mất mát ipséité bản ngã [Ipséité chỉ ‘cái tôi’, ‘đồng nhất tính’ hoặc ‘tính duy nhất’ của một cá nhân, phân biệt người đó với những kẻ khác; khái niệm này tập trung vào ý thức về việc là chính mình. HHN], trong đó một mối quan hệ vô danh với cái khả giác—đối tượng được tri giác—sẽ nảy sinh. Nhưng khi Merleau-Ponty nói về “giải cá nhân hóa”, về một đời sống tự nhiên nhất định của chủ thể diễn ra theo phương thức “vô danh”, về “cái một” phi cá nhân, thì những thuật ngữ này phải được hiểu là biểu hiện của một ý định hoạt động mà không cần biểu hiện của một sự vật, của một sự tồn tại tự nhiên vốn dĩ là sự tồn tại của cơ thể. Hơn nữa, chính khi sự phản tư cố gắng nắm bắt kinh nghiệm tri giác bằng cách đặt tên cho nó mà sự hòa giải (giữa hai trạng thái sống) này trở nên không thể tìm thấy. Đúng là, như Merleau-Ponty nhận thấy trong Hiện tượng học Tri giác, khi phép phản tư tìm cách đặt nền tảng cho kinh nghiệm tri giác, thì kinh nghiệm tri giác lại trở nên bí ẩn: làm thế nào cơ thể tôi có thể tiếp cận những gì không phải là chính nó, nắm bắt điều này hay điều kia, từ những trạng thái vốn có của nó? Đây là cách mà các triết học thực nghiệm và duy tâm đặt ra hiện tượng tri giác [tr.384], và với một sức sống mới, Merleau-Ponty cố gắng làm sáng tỏ bản chất thực sự của nó.
Thật vậy, đối với Merleau-Ponty, không phải điều hiển nhiên là vật được nhận thức thông qua hành động tri giác – như các triết gia thực nghiệm và duy tâm xem xét – là một vật có chiều rộng và không gian; hơn nữa, liệu nó có phải là một vật hay không? Nói rằng tri giác cho tôi tiếp cận với một vật đã là nói quá nhiều về những gì tri giác mang lại cho tôi: tất cả những gì tôi có thể nói là, thông qua cơ thể mình, một điều gì đó được trao cho tôi. Cũng như thông qua tri giác về một vật, tôi trải nghiệm một thực tại nhất định, thì không có gì cho tôi quyền nói về trải nghiệm này như một tập hợp các trạng thái chủ quan. Tương tự, vấn đề không phải là suy nghĩ về việc tri giác theo cách mà tri thức luận hình dung: thực tế, nếu chủ thể tri giác là kẻ tổ chức những gì được tri giác thông qua một hành động tổng hợp, thì họ phải vượt lên và suy nghĩ về vấn đề tri giác, tổ chức các khía cạnh khác nhau của sự vật, điều này có nghĩa là mất đi sự hiện thân của tri giác trong một cơ thể duy nhất, sự thiếu hiểu biết về tính siêu việt của sự vật và chiều sâu của chính nó. Đây là vấn đề mà Merleau-Ponty minh họa khi ông nói với chúng ta rằng “faut que le sujet percevant, sans quitter sa place et son point de vue, dans l’opacité du sentir, se tende vers des choses dont il n’a pas d’avance la clé et dont cependant il porte en lui-même le projet” “chủ thể tri giác, không rời bỏ vị trí và quan điểm của mình, trong sự mơ hồ của cảm xúc, thì phải phấn đấu hướng tới những cánh cửa khóa mà họ không có chìa khóa từ trước nhưng lại ấp ủ trong thâm tâm cái dự định đó” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 377).
Cơ thể là biểu hiện chính yếu mối quan hệ của chúng ta với thế giới
Đối với Merleau-Ponty, khi cơ thể tri giác, nó đồng thời đã tạo ra trường tri giác mà trong đó mọi tri giác có thể xảy ra; theo nghĩa này, sự bác bỏ của Merleau-Ponty đối với các quan niệm thực nghiệm và duy tâm về tri giác dường như là hợp lý, bởi vì trong cơ thể hiện thân cả một bản ngã siêu nghiệm và một bản ngã thực nghiệm, nghĩa là thực tế của việc tri giác một điều gì đó và điều kiện khả tính của trải nghiệm đó: “Le corps, en tant qu’il a des ‘conduites’ est cet étrange objet qui utilise ses propres parties comme symbolique générale du monde et par lequel en conséquence nous pouvons ‘fréquenter’ ce monde, le ‘comprendre’ et lui trouver une signification” “Cơ thể, trong chừng mực nó có ‘các hành vi’, là vật thể kỳ lạ này sử dụng các bộ phận của chính nó như một biểu tượng chung của thế giới và do đó chúng ta có thể ‘thường xuyên’ lui tới thế giới này, ‘hiểu’ nó và tìm thấy ý nghĩa trong đó” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 274).
Trong Hiện tượng học Tri giác, khi cơ thể tri giác một điều gì đó, nó không có mối quan hệ trực diện đơn giản với điều đó; cơ thể thu thập ý nghĩa của nó, một ý nghĩa sau đó khiến sự vật phụ thuộc vào tổ chức biểu tượng vốn có của cơ thể và hoạt động vận động của nó. Khi chúng ta tri giác một điều gì đó, chúng ta không suy nghĩ, chúng ta không khách thể hóa sự vật được tri giác [tr.385], cũng như chúng ta không tự hình dung nó bằng cách suy nghĩ về nó; thay vào đó, chúng ta hướng về sự vật, và đồng thời, chúng ta hòa làm một với cơ thể của mình, “qui en sait plus que nous sur le monde, sur les motifs et les moyens qu’on a d’en faire la synthèse” “thứ biết nhiều hơn chúng ta về thế giới, về động cơ và phương tiện mà chúng ta tổng hợp nó” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 276).
(Merleau-Ponty, 1945, p. 276). Theo nghĩa này, rõ ràng là cơ thể, như một cấu trúc biểu tượng, được hiểu dựa trên khái niệm hình thức mà Merleau-Ponty mượn từ tâm lý học hình thái. Cơ thể biểu tượng, như một hình thức, cho phép sự kết hợp của các bộ phận khác nhau, theo nghĩa trải nghiệm cảm giác về một sự vật sẽ khác nhau tùy thuộc vào giác quan tri giác nó. Mỗi giác quan sở hữu trường tri giác riêng và có thể mở ra một cách thức nhận thức nhất định về sự vật. Sự phân hóa trải nghiệm cảm giác theo từng giác quan cho thấy các giác quan giao tiếp với nhau, có ý nghĩa trong mối quan hệ với nhau bằng cách cùng tồn tại: “Les sens sont distincts les uns des autres (...) chacun d’eux apporte avec lui une structure d’être qui n’est jamais transposable. (...). Et nous pouvons le reconnaître sans compromettre l’unité des sens. Car les sens communiquent” “Các giác quan khác biệt với nhau (...) mỗi giác quan mang theo một cấu trúc hiện hữu không bao giờ có thể hoán đổi được. (...). Và chúng ta có thể nhận ra điều này mà không làm tổn hại đến nhất tính của các giác quan. Bởi vì các giác quan giao tiếp với nhau” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 259). Sự giao tiếp giữa các giác quan được hiện thực hóa trước hết trong cái mà Merleau-Ponty gọi là tri giác synesthésique ‘liên giác’, và điều này xuất phát từ thực tế là, trong trải nghiệm tri giác, mỗi giác quan mở ra một quan điểm và tiết lộ thế giới cảm giác của nó xung quanh một sự điều chỉnh nhất định của sự vật được tri giác; các giác quan ‘communiquent par leur noyau significatif’ ‘giao tiếp thông qua cốt lõi biểu nghĩa của chúng’ (Merleau-Ponty, 1945, tr. 260).
Do đó, cơ thể duy trì sự đối thoại với các giác quan, trong đó mỗi giác quan đều tham gia, biến cơ thể thành kho chứa một số tri thức cảm giác nhất định. Tuy nhiên, dường như nghịch lý khi cho rằng cơ thể, vốn là tự nhiên, lại sở hữu tri thức riêng của nó, bởi điều này tương đương với việc gán cho cơ thể một quyền năng chủ quan thường được gán cho ý thức. Vì vậy, lại xuất hiện sự mơ hồ khi xác định điều gì là thuộc về bản chất của cơ thể, điều mà Merleau-Ponty diễn đạt bằng cách nói rằng “le corps ni l’existence ne peuvent passer pour l’original de l’être humain, puisque chacun présuppose l’autre et que le corps est l’existence figée ou généralisée et l’existence une incarnation perpétuelle” “cả cơ thể lẫn sự tồn tại đều không thể được coi là nguồn gốc của con người, vì mỗi cái đều giả định cái kia, và cơ thể là sự tồn tại cố định hoặc khái quát hóa, còn sự tồn tại là một hiện thân vĩnh cửu” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 194). Điều này có nghĩa là sự sống của cơ thể—vì nó luôn mở—pha trộn những gì mà bản chất nhất định luôn cung cấp cho nó với những gì mà sự tồn tại có thể cung cấp: trong những điều kiện này, không thể chuyển dịch thông qua cơ thể những gì thuộc về bản chất và sự tồn tại của nó. Tương tự, người ta không thể xác định chính xác vị trí cụ thể cho sức mạnh biểu đạt của cơ thể, trừ khi coi nó là vô danh; thật vậy, nếu [tr.386] cơ thể tôi tri giác được điều gì đó, thì đó là vì nó có khả năng tiếp nhận và truyền đạt ý nghĩa cho điều được tri giác, và do đó, theo một nghĩa nào đó, điều đó cũng có tính biểu đạt như cơ thể: “Le sens d’une chose habite cette chose comme l’âme habite le corps : il n’est pas derrière les apparences; le sens du cendrier (du moins son sens total et individuel, tel qu’il se donne dans la perception) n’est pas une certaine idée du cendrier qui en coordonne les aspects sensoriels et qui serait accessible à l’entendement seul, il anime le cendrier, il s’incarne en lui avec evidence” “Ý nghĩa của một sự vật cư ngụ trong sự vật đó giống như linh hồn cư ngụ trong cơ thể: nó không nằm sau vẻ bề ngoài; ý nghĩa của cái gạt tàn thuốc (ít nhất là ý nghĩa tổng thể và riêng lẻ của nó, như được thể hiện trong tri giác) không phải là một ý niệm nhất định về cái gạt tàn thuốc phối hợp các khía cạnh cảm giác của nó và chỉ có thể tiếp cận được bằng lý trí, nó làm cho cái gạt tàn thuốc sống động, nó được thể hiện trong đó bằng chứng cứ” (Merleau-Ponty, 1945, trang 369).
Đoạn văn này chứa đựng một cách diễn đạt về đặc tính biểu cảm của sự vật, điều này khiến chúng ta tin rằng, giữa cơ thể và cảm giác, Merleau-Ponty đã phần nào suy nghĩ về những gì mà Hiện tượng học Tri giác chưa diễn đạt rõ ràng—tức là khái niệm về thể xác—ngay cả khi ông đã sử dụng các thuật ngữ như ‘kết nối’ hay ‘giao hòa’ để biểu thị nguồn gốc thống nhất của ý nghĩa và cảm giác. Đối với Merleau-Ponty, sự vật và cơ thể có mối tương quan với nhau, và điều này đúng trong suốt sự tồn tại, và khi làm như vậy, các mối liên hệ “entre les choses ou entre les aspects des choses étant toujours médiatisés par notre corps, la nature entière est la mise en scène de notre propre vie ou notre interlocuteur dans une sorte de dialogue” “giữa các sự vật hoặc giữa các khía cạnh của sự vật luôn được cơ thể của chúng ta làm trung gian, toàn bộ tự nhiên là sự dàn dựng cuộc sống của chính chúng ta hoặc kẻ đối thoại của chúng ta trong một loại đối thoại” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 369-370). Trong những điều kiện này, dường như cơ thể sở hữu một vị thế đặc quyền: “Le corps est le véhicule de l’être au monde (...) car s’il est vrai que j’ai conscience de mon corps à travers le monde, qu’il est, au centre du monde, le terme inaperçu vers lequel tous les objets tournent leur face, il est vrai pour la même raison que le corps est le pivot du monde” “Cơ thể là phương tiện của sự hiện hữu trong thế giới (...) bởi vì nếu đúng là tôi ý thức được cơ thể mình trên khắp thế giới, và nó - ở trung tâm của thế giới - là đối tượng vô hình mà tất cả các vật thể đều hướng mặt về, thì cũng đúng vì lý do tương tự: cơ thể là trục quay của thế giới” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 97). Cơ thể là phương tiện giúp tôi di chuyển trong không gian của một nơi, cảm nhận mọi vật, hoặc có những ham muốn, trong một mối quan hệ với thế giới luôn luôn rộng mở: do đó, cơ thể tạo nên nền tảng mà trên đó một chuỗi các mối quan hệ mở và vô định giữa ý thức của tôi và thế giới là khả thể.
Bài luận mô tả sự xuất hiện của một ý nghĩa cơ thể được thiết lập trong ngôn ngữ lời nói
Một cơ thể làm cho ý nghĩa trở nên dễ nghe
Do đó, có thể hiểu được rằng phân tích gặp khó khăn với ngôn ngữ. Và, như Merleau-Ponty đã cảnh báo chúng ta, vấn đề ngôn ngữ “plus clairement qu’aucun autre, apparaît à la fois comme un problème spécial et comme un problème qui contient tous les autres, y compris celui de la philosophie” “rõ ràng hơn bất kỳ vấn đề nào khác, xuất hiện vừa như một vấn đề đặc biệt vừa như một vấn đề bao hàm tất cả các vấn đề khác, kể cả vấn đề triết học” (Merleau-Ponty, 1965, tr. 88). Nếu Merleau-Ponty coi ngôn ngữ là một trở ngại [tr.387] của hiện tượng học, thì điều đó không phải là không có lý do. Thật vậy, nếu lập trường hiện tượng học đòi hỏi phải thoát khỏi thái độ tự nhiên nơi mọi thứ tồn tại trong chính nó, thì đó là để suy nghĩ về các hành động có tính ý hướng đến sự vật.1 Giờ đây, cách tiếp cận này, cũng là cách tiếp cận của tất cả các phép quy giản hiện tượng học, trung hòa tính tích cực của sự tồn tại của thế giới, không phải để phủ nhận sự tồn tại của thế giới, mà để đặt câu hỏi về ý nghĩa của sự tồn tại của thế giới này. Từ quan điểm đó, ngôn ngữ, khi được xem xét như một đối tượng nghiên cứu hiện tượng học, xuất hiện trong sự phản tư như một punctum caecum một điểm mù, bởi vì ngôn ngữ đã hoạt động trong sự phản tư về ý nghĩa của các hành động có tính ý hướng của chúng ta.
Vậy điều mà Merleau-Ponty quan tâm là hiểu được ngôn ngữ, nếu nó là nguồn gốc, xuất hiện như thế nào từ một thế giới vô thức mà cơ thể tôi tri giác. Nói cách khác, nếu ngôn ngữ là nơi khởi nguồn mà ý nghĩa được hé mở cho một ý thức, thì liệu ý nghĩa đó chẳng phải đã được ban tặng cùng với tri giác mà cơ thể chúng ta cung cấp hay sao? Câu hỏi mà Merleau-Ponty đặt ra về ngôn ngữ nhằm mục đích xác định xem liệu có sự đồng-cội nguồn với tri giác trong hiện hữu của ngôn ngữ hay không, và nếu có, sự đồng-cội nguồn này được tạo ra như thế nào. Đây là điều mà chúng ta sẽ cố gắng xem xét, chủ yếu dựa vào Chương VI, “Cơ thể như là Biểu hiện và Lời nói”, chương kết thúc phần “Cơ thể” trong Hiện tượng học Tri giác; một chương mà Merleau-Ponty tiết lộ rằng các điều kiện cho phép sự xuất hiện của lời nói đã có mặt trong cơ thể. Từ chương có tựa đề “Không gian tính của Cơ thể Thích hợp”, Merleau-Ponty đã mô tả sự xuất hiện của ý nghĩa ngay trong trái tim của một cơ thể biểu đạt; một cơ thể, thông qua mối quan hệ của nó với thế giới khả giác, với thế giới được tri giác, thực sự cư ngụ trong ý nghĩa biểu đạt nó: “L’expérience du corps nous fait reconnaître une imposition du sens qui n’est pas celle d’une conscience constituante universelle, un sens qui est adhérent à certains contenus. Mon corps est ce noyau significatif qui se comporte comme une fonction générale (...). En lui nous apprenons à connaître ce nœud de l’essence et de l’existence que nous retrouvons en général dans la perception” “Trải nghiệm của cơ thể khiến chúng ta nhận ra một sự áp đặt ý nghĩa không phải là ý thức cấu thành phổ quát, một ý nghĩa gắn liền với những nội dung nhất định. Cơ thể tôi là cốt lõi quan trọng này hoạt động như một chức năng tổng quát (...). Trong đó, chúng ta học cách nhận biết nút thắt của bản chất và sự tồn tại mà chúng ta thường tìm thấy trong tri giác” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 172).
Trong chương “Cơ thể như là Biểu đạt và Lời nói”, thì Lời nói dường như là thứ hiện thực hóa ngôn ngữ trong tính đặc thù của nó; nhưng nó chỉ xuất hiện bằng cách theo đuổi hành động biểu đạt mà cơ thể thể hiện, chỉ dịch chuyển đỉnh điểm của hành động đó. Thật vậy, lời nói khi đó được coi là đỉnh điểm của ý nghĩa thầm lặng được khai mở bởi sự giao thoa giữa cơ thể và sự vật. Khi làm như vậy, chúng ta phải hiểu ý nghĩa của ý nghĩa thầm lặng này được hiện thực hóa mà không cần sự hỗ trợ cảm giác của ngôn từ, và đồng thời, mang lại cho lời nói khả năng được hiện thực hóa. Khái niệm về hình thức làm sáng tỏ hơn nữa ý nghĩa được hàm chứa. Thật vậy, toàn thể được tổ chức mà hình thức gọi tên là một sự thống nhất mang tính biểu nghĩa hòa nhập với sự đa dạng mà nó tổ chức. Do đó, khả tính đạt được ý nghĩa ở trung tâm của cảm giác không nằm ngoài cơ thể tôi; ý nghĩa được cơ thể tôi tri giác chỉ thể hiện một hành vi có ý nghĩa tự thân, mà nhìn lại, thông qua cử chỉ của nó, tự thể hiện như là biểu nghĩa.
Vẫn cần phải hiểu làm thế nào biểu tượng cơ thể này có thể giải thích được sự l’expression verbale biểu đạt bằng khẩu ngữ. Thật vậy, lời nói chủ yếu phụ thuộc vào các dấu hiệu và quy tắc ngữ pháp đặc thù của một ngôn ngữ, điều này, về mặt lý thuyết, không phù hợp với tính tự phát của ý nghĩa được tri giác. Tuy nhiên, lời nói dường như tiếp nhận ý nghĩa được thể hiện bởi cơ thể, hướng nó đến ngôn ngữ. Trên thực tế, mỗi từ, ngoài việc được tích hợp vào các quy tắc của một ngôn ngữ, tự nó là sự thống nhất giữa ý nghĩa và dấu hiệu; một sự thống nhất không phải là bất biến, bởi vì mối quan hệ biểu nghĩa mà từ ngữ mang lại cho ý thức chỉ có thể thực hiện được thông qua tiếng vang mà nó tạo ra trong mối quan hệ với chính nó và với các yếu tố khác biệt với nó. Do đó, cần phải xem xét sự thống nhất vốn có của một dấu hiệu và ý nghĩa của nó được hiện thực hóa bởi biểu đạt bằng khẩu ngữ, để hiểu rằng, đối với Merleau-Ponty, nhất tính biểu nghĩa này khác với ý nghĩa vốn có trong trường tri giác ở những gì nó cho phép chúng ta thiết lập.
Ghi lại Hiện tượng tính của Cử chỉ Lời nói
[Phenomenalité Tính hiện tượng đề cập đến phẩm chất hoặc trạng thái của một ‘hiện tượng’—sự xuất hiện hoặc có thể cảm nhận được bằng các giác quan và tâm trí; đó là đặc điểm thể hiện bản thân, tập trung vào cách mọi thứ được trải nghiệm, quan sát hoặc xuất hiện trong ý thức hơn là thực tại tiềm ẩn của chúng.HHN] Ngay từ đầu chương ‘Cơ thể như là Biểu đạt và Lời nói’, Merleau-Ponty đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hiện tượng lời nói: “Nous venons de découvrir “en le corps” une intentionnalité et un pouvoir de signification. En cherchant à décrire le phénomène de la parole et l’acte exprès de signification, nous aurons chance de dépasser définitivement la dichotomie classique du sujet et de l’objet” “Chúng ta vừa khám phá ra ‘trong cơ thể’ một ý hướng tính và một sức mạnh biểu nghĩa. Bằng việc tìm cách mô tả hiện tượng lời nói và hành động biểu nghĩa rõ ràng, chúng ta sẽ có cơ hội vượt qua một cách dứt khoát sự phân đôi kinh điển giữa chủ thể và khách thể” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 203). Thật vậy, trên thực tế, việc có một ngôn ngữ, việc sở hữu nó, trước hết và trên hết, là quy định sự tồn tại của “hình ảnh ngôn từ”, của các biểu tượng, khi chúng ta phát âm hoặc nghe các từ: các từ sẽ để lại cho chúng ta dấu vết về sự tồn tại thực tế của chúng: lời nói khi đó sẽ là sự chuyển dịch của tư tưởng, sự hình thành của một ý định nguyên thủy mà ý thức là kẻ khởi xướng. Đây là điều mà Merleau-Ponty bác bỏ: biểu đạt bằng khẩu ngữ quả thực là điều cho phép hiện thực hóa một suy nghĩ, nhưng suy nghĩ này đã tìm thấy nguồn gốc của nó ở cốt lõi của tri giác. Thật vậy, khi tôi nói, tôi tri giác một đối tượng [tr.389] là kẻ sẽ được suy nghĩ bằng cách gọi tên. Chính trong chuyển động của biểu đạt, điều mà nó hướng tới được hiện diện với tôi; nếu không tri giác được ý nghĩa cần được hình dung, tôi không thể hình thành ý niệm về sự vật được biểu đạt, vì thiếu khả năng tri giác một cái gì đó, và, theo nghĩa này, biểu đạt về cơ bản là cảm tính và lý tưởng.
Do đó, hiện tượng lời nói không thể chỉ được quy giản thành sự hỗ trợ cảm giác cho tư duy; trái lại, tư duy và lời nói vận động trong sự bao trùm lẫn nhau, bởi vì ý nghĩa nằm trong những từ ngữ được nói ra, và ngôn ngữ làm cho ý nghĩa trở nên dễ nhận biết. Nói là thực hiện cử chỉ mà qua đó một chủ thể, thông qua cơ thể của mình, thể hiện một ý nghĩa, đánh dấu sự phá vỡ hệ thống tri giác bằng cách hướng tới lý tưởng hóa mà nó sẽ trở thành. Merleau-Ponty diễn đạt điều này bằng cách nói rằng “faut donc reconnaître comme un fait dernier cette puissance ouverte et indéfinie de signifier par laquelle l’homme se transcende vers un comportement nouveau ou vers autrui ou vers sa propre pensée à travers sa parole” “do đó, chúng ta phải thừa nhận như một sự thật tối thượng về sức mạnh biểu đạt mở và vô định mà nhờ đó con người vượt lên chính mình hướng tới một hành vi mới, hoặc hướng tới kẻ khác, hoặc hướng tới tư tưởng của chính mình thông qua lời nói của mình” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 226). Nhưng cử chỉ của lời nói vẫn khác biệt với bất kỳ hành vi cử chỉ nào khác của cơ thể tôi. Thật vậy, lời nói là sản phẩm của ý nghĩa thông qua một cử chỉ cơ thể, nhưng ý nghĩa này vẫn tồn tại, trường tồn trong hình thức biểu đạt của nó; với lời nói, một tiềm năng biểu đạt bằng khẩu ngữ được lắng đọng, tạo thành nền tảng của liên chủ thể tính, nơi khả tính một chủ thể giao tiếp với các chủ thể khác được thiết lập. Sự khác biệt mà cử chỉ lời nói tạo ra so với các hành vi cử chỉ của cơ thể tôi chính là khả tính cho phép tôi xem xét lại ý nghĩa mà tôi đã diễn đạt, và do đó, suy ngẫm về những biểu nghĩa đã được tạo ra.
Do đó, lời nói được đặc trưng bởi hai chuyển động chính: một mặt, nó hướng đến một ý nghĩa nhất định, thông qua các biểu tượng, và thể hiện ý định của một suy nghĩ liên quan đến những gì nó nghĩ. Mặt khác, lời nói biểu lộ bất kỳ ý hướng mang tính biểu nghĩa nào bằng các từ ngữ mà, do tính độc nhất có thể nhận biết được của chúng, ngăn cản việc biến chúng thành dự án của một suy nghĩ minh bạch với chính nó. Nếu ngôn ngữ được hoàn thiện bằng cách tự làm cho mình bị lãng quên để nhường chỗ cho tư tưởng, thì bản chất mờ đục, hay, theo cách nói của Merleau-Ponty, ‘tính mơ hồ cơ bản’ của ngôn ngữ, ngăn cản chúng ta tin rằng quá trình xóa bỏ lời nói để nhường chỗ cho tư tưởng này được thực hiện đầy đủ. Bởi vì nếu đúng như vậy, chúng ta sẽ không còn tri giác được bất cứ điều gì, ngay cả khi đang nói, vì chúng ta sẽ tự động được đưa vào một thế giới lý tưởng được tạo nên từ những ý niệm trong suốt, nơi mà, thiếu sự trung gian của giác quan, chúng ta sẽ không thể tri giác được các đối tượng được tri giác.
[P.390] Điều làm cho hiện tượng lời nói trở nên đặc thù là nó hướng đến mục tiêu của cái phổ quát thông qua tư tưởng mà nó thiết lập, nhưng đó là một tư tưởng được đánh dấu bằng dấu ấn của tính đặc thù bởi trực giác độc đáo đang hoạt động trong đó: “La parole est l’excès de notre existence sur l’être naturel. Mais l’acte d’expression constitue un monde linguistique et un monde culturel, il fait retomber à l’être ce qui tendait au-delà” “Lời nói là sự vượt quá tồn tại của chúng ta so với hiện hữu tự nhiên. Nhưng hành động biểu đạt tạo nên một thế giới ngôn ngữ và một thế giới văn hóa, nó đưa trở lại hiện hữu những gì đã vượt ra ngoài” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 229). Điều này dẫn đến việc Merleau-Ponty phân biệt giữa hai loại lời nói, từ nói và từ được nói ra: “On pourrait distinguer une parole parlante et une parole parlée. La première est celle dans laquelle l’intention significative se trouve à l’état naissant. Ici l’existence se polarise dans un certain “sens” qui ne peut être défini par aucun objet naturel, (...), elle créé la parole comme appui empirique de son propre non-être (...). Mais l’acte d’expression constitue un monde linguistique et un monde culturel (...). De là la parole parlée qui jouit des significations disponibles comme d’une fortune acquise” “Người ta có thể phân biệt giữa từ nói và từ được nói ra. Loại thứ nhất là loại mà ý định mang ý nghĩa đang ở trạng thái sơ khai. Ở đây, sự tồn tại được phân cực trong một ‘ý nghĩa’ nhất định mà không thể được định nghĩa bởi bất kỳ đối tượng tự nhiên nào, (...), nó tạo ra lời nói như là sự hỗ trợ thực nghiệm cho sự phi-hiện hữu của chính nó (...). Nhưng hành động biểu đạt tạo nên một thế giới ngôn ngữ và một thế giới văn hóa (...). Do đó, lời nói nói ra, vốn có những ý nghĩa sẵn có như thể chúng là một vận may được tích lũy vậy” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 229). Điều này không nên được hiểu là có hai loai lời nói khác biệt không thể cứu vãn, mà đúng hơn là, nhận ra một hiện tượng duy nhất của lời nói, tùy thuộc vào ngữ cảnh cụ thể của hành động diễn đạt bằng khẩu ngữ, sẽ hoặc chỉ dựa vào những kiến thức ngôn ngữ đã được tiếp thu, hoặc sẽ tái tạo, trong những kiến thức đã được tích lũy này, một lối mở dẫn đến một ý nghĩa chưa từng tồn tại trước đó: “Telle est cette fonction que l’on devine à travers le langage, qui se réitère, s’appuie sur elle-même, ou qui, comme une vague, se rassemble et se reprend pour se projeter au-delà d’elle-même” “Đó là chức năng mà chúng ta có thể đoán được thông qua ngôn ngữ, chức năng tự lặp lại, tự dựa vào chính nó, hoặc giống như một làn sóng, tập hợp lại và tái cấu trúc để tự vươn ra ngoài chính nó” (Merleau-Ponty, 1945, tr. 229-230).
________________________________
(Còn nữa…)
Nguồn: Lebrument Norbert (2013). Le corps comme pivot des rapports du langage et du sensible chez le premier Merleau-Ponty. In RECHERCHES QUALITATIVES – Hors Série – numéro 15 – pp. 381-396.
Note
1. Nếu Merleau-Ponty coi ngôn ngữ là một trong những phương hướng chính của nghiên cứu hiện tượng học, thì ông hoàn toàn đúng. Thật vậy, nếu lập trường hiện tượng học giả định việc trung hòa thái độ tự nhiên—nơi mọi thứ tồn tại trong chính nó, thể hiện một tính khẳng định thực tế—thì đó là để phân tích các hành động có tính ý hướng nhắm vào sự vật và là nguồn gốc của chúng. Theo nghĩa này, phép quy giản hiện tượng học là một sự đoạn tuyệt với sự mê hoặc bản năng mà thế giới tác động lên mọi ý thức, vì nó nhằm mục đích tiết lộ tính hiện tượng của thế giới, một tính hiện tượng được tạo ra bởi ý thức, bởi vì không có thế giới nào tồn tại ngoại trừ và thông qua ý thức.
Références
Merleau-Ponty, M. (1942). La structure du comportement. Paris : Presses universitaires de France.
Merleau-Ponty, M. (1945). Phénoménologie de la perception. Paris : Gallimard.
Merleau-Ponty, M. (1960). Signes. Paris : Gallimard.
Merleau-Ponty, M. (1964). Le visible et l’invisible. Paris : Gallimard.
Merleau-Ponty, M. (1965). Éloge de la philosophie et autres essais. Paris : Gallimard.
Merleau-Ponty, M. (1969). La prose du monde. Paris : Gallimard.
Norbert Lebrument có nền tảng ban đầu về triết học. Ông là giảng viên khoa học quản lý tại Đại học Auvergne, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Quản lý Clermont (CRCGM - EA-3849); nghiên cứu của ông tập trung chủ yếu vào trí tuệ kinh tế, quản lý tri thức và lý thuyết nền tảng.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét