Powered By Blogger

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2022

Bản thể luận trong Khảo cổ học và Nhân học: Con người, Sự vật và Hậu nhân văn luận (I)

Fredrik Fahlander

Người dịch: Hà Hữu Nga

[Tr.69] Mối quan hệ giữa khảo cổ học và nhân học đã được tranh luận hết lần này đến lần khác trong nhiều năm (ví dụ: Burnham và Kingsbury 1979; Garrow và Yarrow 2010; Gosden 1999; Gramsch 2000; Orme 1981). Đã có cả sự đối kháng và nhiều lần kêu gọi hợp tác và trao đổi lý thuyết giữa các chiến hữu. Từ một quan điểm bên ngoài, cuộc tranh luận đôi khi sôi nổi có vẻ gây tò mò vì cả hai lĩnh vực đều có chung một mục tiêu: hiểu được sự đa dạng của con người và những cách thức mà con người sống và tương tác trong các thế giới khác nhau.1 Yarrow (2010) và Lucas (2010) gần đây cho rằng nhận thức về các lĩnh vực nhân học và khảo cổ học luôn tập trung vào sự thiếu sót trong khảo cổ học - chủ thể vắng mặt - đã tạo ra bất đối xứng khó khắc phục. Thật vậy, chỉ làm việc với sự vật và dấu vết của hành động (khảo cổ học) thì không giống như làm việc với sự vật và con người (nhân học). Tuy nhiên, sự phân biệt này dựa trên một bản thể luận trong đó con người và thế giới vật chất được coi là thuộc về các lĩnh vực riêng biệt (văn hóa và tự nhiên). Trong những năm gần đây, chúng ta đã chứng kiến ​​sự xuất hiện của tân duy vật luận trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn, cho thấy sự phân phối lại hành động từ lĩnh vực con người sang thế giới vật chất. Nhưng đây không chỉ đơn giản là vấn đề liên kết tác tố với sự vật và đối tượng, mà còn là sự thay thế con người như một xuất phát hợp lý (nhân trung tâm luận) để nhận thức con người và phi người với tư cách là không thể tách rời về mặt bản thể luận (Webmoor 2007; Witmore 2007: 546).

Một câu hỏi được đặt ra là liệu một quan điểm phi nhân trung tâm luận như vậy tập trung nhiều hơn vào thế giới vật chất thì có thể [tr.70] loại bỏ tầm quan trọng của các cuộc phỏng vấn và quan sát thực tiễn xã hội điển hình của nghiên cứu điền dã nhân học truyền thống hay không. Khảo cổ học cũng bị ảnh hưởng bởi một bước ngoặt quan điểm như vậy vì nó bao gồm một quan điểm khác về chất liệu không chỉ là sản phẩm của văn hóa mà còn là kẻ đồng-sáng tạo văn hóa. Thật vậy, sự thay thể của con người như một điểm xuất phát tự nhiên và cho trước chắc chắn có những phân nhánh đối với cả nhân học và khảo cổ học. Câu hỏi đặt ra là hậu quả của sự thay đổi đó sẽ sâu rộng đến mức nào? Nó có đem nhân học và khảo cổ học lại gần nhau hơn, thậm chí có thể gộp chúng lại với nhau, hay hai ngành sẽ còn khác nhau hơn nữa? Trong cả hai trường hợp, nó sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta nghiên cứu các xã hội loài người, cho dù là đương đại hay trong quá khứ. Chương này tôi khảo sát khối nghiên cứu định hướng-vật chất đa dạng và không đồng nhất này để chỉ ra một số lĩnh vực mà mối quan hệ giữa khảo cổ học và nhân học có thể bị ảnh hưởng.

Khảo cổ học và Nhân học: Lịch sử Quan hệ Vướng víu

Theo nghĩa rộng, “chủ thể vắng mặt” luôn làm cho mối quan hệ giữa khảo cổ học và nhân học trở nên không cân bằng. Người ta thường lập luận rằng việc thiếu người cung cấp thông tin và khả năng quan sát trực tiếp quá trình khiến khảo cổ học chỉ là công việc phỏng đoán hoặc đơn giản là sự phản ánh các ý tưởng đương thời (ví dụ: Martin 2013: 1; Piccini và Holtorf 2009). Sự khác biệt về quan niệm này trong bản chất và chất lượng của dữ liệu là một lý do tạo ra sự phân chia giữa nhân học và khảo cổ học. Nó đã dẫn đến thâm hụt trao đổi về mặt lý thuyết giữa hai ngành, vì dòng ý tưởng chính theo truyền thống là một chiều (Garrow và Yarrow 2010: 1). Ngoài ra, độ trễ thời gian điển hình về mặt lý thuyết giữa hai ngành này đã cản trở khảo cổ học, vì các mô hình, thuật ngữ, lĩnh vực nghiên cứu và lý thuyết thường được vật chất hóa và phát triển trong nhân học theo mục tiêu và đối tượng nghiên cứu của nó (con người) trước khi tìm đường vào khảo cổ học. Mối quan hệ thất thường này đã dẫn đến các tranh luận và thảo luận kém hiệu quả hoặc ít mang tính xây dựng.

Một vấn đề đặc biệt bị ảnh hưởng là cuộc tranh luận liên quan đến việc sử dụng (sai) suy luận loại suy trong khảo cổ học (Fahlander 2004, 2008). Ý tưởng cơ bản của phép loại suy là nếu hai đối tượng giống nhau ở một số khía cạnh thì chúng cũng có thể giống nhau ở những khía cạnh khác. Vì vậy, liệu các thuộc tính của một đối tượng được biết rất rõ có thể được coi là hiện diện trong một đối tượng tương tự nhưng ít được biết đến hơn không? Ví dụ, suy luận tương tự thường không có vấn đề gì trong vật lý, nhưng lại vận hành kém hiệu quả hơn khi nó được áp dụng cho các sản phẩm văn hóa. Các nhà khảo cổ học bỏ ra trong nhiều năm để cố gắng bảo vệ việc sử dụng các phép loại suy nhân học và nghiên cứu khảo cổ-dân tộc học. Một số đã cố gắng phân biệt các phép loại suy “xấu” với “tốt” (Hodder 1982; Orme 1981), hoặc cố gắng nâng cao giá trị khoa học của chúng (ví dụ: David và Cramer 2001: 45; Roux 2007), trong khi [tr.71] những người khác chỉ đơn giản lập luận rằng phép loại suy là không thể tránh khỏi dù chúng ta có thích hay không (Kaliff và Østigård 2004: 82–84). Các khái quát hóa xuyên văn hóa theo thời gian và không gian có thể vận hành trong các khuôn khổ tiến hóa nghiêm ngặt, nhưng lại ít phù hợp với các phương pháp tiếp cận theo ngữ cảnh được khảo cổ học diễn giải ủng hộ. Thực tiễn xã hội và lối sống hiếm khi phù hợp với những mô hình đơn giản và hiếm khi được coi là đối tượng so sánh. Đời sống xã hội quá phức tạp và thường ở trạng thái lai tạp liên tục khiến nó khó mà tuân theo được các quy luật giống như các đối tượng vật lý (Fahlander 2007). Thực hiện một phép loại suy đơn giản từng phần liên quan đến việc sử dụng và mục đích của một chiếc rìu đá không giống với việc thực hiện phép loại suy về vũ trụ học hay hệ tư tưởng. Mặc dù chúng ta có thể nuông chiều những phép loại suy đơn giản, nhưng chúng ta càng leo cao hơn trên nấc thang suy luận của Hawke, thì những suy luận loại suy càng vô nghĩa hoặc dễ gây hiểu nhầm.

Một ví dụ về phép loại suy không đúng chỗ như vậy là cuốn sách gần đây của Ian Hodder về Çatal Hüyük, The Leopard's Tale – Chuyện Con báo (2006). Ông mở đầu bằng cách biện luận cho sự cần thiết của phép loại suy nhân học để “hiểu được sự kỳ lạ và ‘tha tính’ của điểm đến trong thời gian sâu thẳm của chúng ta” (Hodder 2006: 32). Để so sánh, ông bắt nguồn từ nghiên cứu của Raymond Firth (1936) về hòn đảo Tikopia nhỏ và xa xôi như một minh họa chính cho “một kiểu xã hội quy mô nhỏ tương tự.” Từ giả định cơ sở này, Hodder lý giải rằng cấu trúc xã hội ở Çatal Hüyük tập trung vào quan hệ họ hàng và dòng dõi, một câu nói sáo rỗng về nhân học nói chung với rất ít hỗ trợ trong dữ liệu được khai quật. Trên cơ sở đó, ông kết luận rằng: “Con người có lẽ gắn bó chặt chẽ với gia đình, dòng dõi và tính vật chất của ngôi nhà. Vòng đời của họ và vòng đời của những ngôi nhà gắn bó chặt chẽ với nhau. Bản sắc gắn liền với tổ tiên và ký ức xã hội” (Hodder 2006: 108, 228). Thứ bản sắc đó có lẽ có thể nói về bất kỳ xã hội quy mô nhỏ nào sống trong các ngôi nhà.

Đối với một nhà nhân học hiện đại, việc đọc các văn bản khảo cổ học mà bỏ qua 50 hoặc 60 năm nghiên cứu gần đây nhất và chỉ quy chiếu vào các nghiên cứu dân tộc học thuộc địa hẳn là rất đáng chán. Trong trường hợp cụ thể này, Firth đã rút lại nhiều luận điểm ban đầu của mình về người Tikopia trong một cuốn sách sau này và hòn đảo này cũng là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận trong nhiều năm (Firth 1959). Sự cám dỗ trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nghiên cứu dân tộc học có lẽ là điều dễ hiểu vì nhiều văn bản ban đầu được cấu trúc như những câu chuyện kể vẽ nên một hình ảnh sống động về nền văn hóa được đề cập. Nhân học đương đại phức tạp hơn nhiều và không đưa ra những câu chuyện kể đơn giản như vậy, do đó khiến chúng khó sử dụng làm cơ sở cho phép loại suy trong nghiên cứu khảo cổ học. May mắn thay, những phép loại suy cùn cũng ngày càng ít gặp trong khảo cổ học. Điều này có lẽ là do việc nhận thức rõ hơn về tính phức tạp của văn hóa, nhưng cũng bởi vì khoảng cách giữa chúng ta và họ, cũng như khoảng cách giữa hiện đại và tiền hiện đại, không còn được coi là sự phân đôi đơn giản. Nhân học ngày nay không còn nghiên cứu điền dã ở một nơi xa xôi nào đó trên thế giới mà thiên về tìm hiểu các mối quan hệ xã hội và tộc người vốn ít gắn chặt với các ranh giới tiến hóa và văn hóa nghiêm ngặt (ví dụ: Goslinga 2012; Hastrup 2013; MacClancy 2002).

[Tr.72] Một xu hướng tương tự cũng thấy rõ trong khảo cổ học. Thay vì chỉ chuyển sang nghiên cứu về “kẻ khác”, nguồn cảm hứng cho các diễn giải trong khảo cổ học giờ đây đến từ nhiều nguồn khác nhau, chẳng hạn như triết học, xã hội học, nghiên cứu văn hóa và thậm chí cả văn hóa đại chúng (Garrow và Shove 2007, Gosden 2010: 110, Martin 2013: 1). Xu hướng này đặc biệt đáng chú ý trong mối quan tâm ngày càng tăng đối với quá khứ lịch sử và đương đại, làm mờ ranh giới giữa khảo cổ học, nhân học và dân tộc học (ví dụ: González-Ruibal 2008; Olsen 2013). Nhìn bề ngoài, việc sử dụng ngày càng nhiều lý thuyết xã hội ở phạm vi rộng hơn có thể được coi đơn giản là một kiểu loại suy khác, nhưng điều đó chỉ đúng ở một mức độ nào đó. Ví dụ, lý thuyết cấu trúc của Anthony Giddens (1986) hay Lý thuyết-Mạng-Tác nhân (ANT) của Bruno Latour (2005) liên quan đến các khía cạnh nhận thức luận chung của thực tiễn xã hội, cung cấp một mô hình rộng lớn về cách chúng ta có thể hiểu đời sống xã hội. Tất nhiên, người ta nên nhớ rằng những lý thuyết này được phát triển với các xã hội đã công nghiệp hóa, và những khuôn khổ như vậy có thể không được áp dụng trực tiếp khi phân tích các xã hội quy mô nhỏ trong quá khứ (Fahlander 2001:20; Hicks 2010: 96). Tuy nhiên, như đã gợi ý, mối quan hệ không gập ghềnh này giữa nhân học và khảo cổ học - trong đó các lý thuyết dựa trên sự quan sát của người tham gia và những kẻ cung cấp thông tin (con người và sự vật) được coi là tốt hơn so với các nghiên cứu chỉ dựa trên sự vật - có thể bị thay đổi khi áp dụng quan điểm phi-nhân trung tâm luận. Trong một bản thể luận như vậy, câu hỏi về chủ thể vắng mặt trong khảo cổ học có thể trở nên thừa và do đó cũng cần có những phép loại suy rập khuôn và những khái quát hóa xuyên văn hóa. Do đó, đáng để xem xét sâu hơn về nhận thức luận và bản thể luận của tư tưởng tân duy vật luận để đánh giá những tác động của nó đối với cách làm việc với một khái niệm phức tạp về con người và không phải con người trong quá khứ cũng như hiện tại. Hơn nữa, tôi thảo luận về cách những quan điểm này đã được áp dụng và hiểu tương ứng trong khảo cổ học và nhân học.

Nhân Trung tâm luận và Hậu Nhân văn luận

Sau một giai đoạn được đặc trưng bởi kiến ​​tạo luận xã hội và nhiều loại chủ đề chịu ảnh hưởng hậu-cấu trúc luận tập trung vào diễn ngôn, dường như có sự bão hòa các nghiên cứu nhấn mạnh tính đa nguyên vô tận và ý nghĩa trôi nổi trong các ngành khoa học xã hội. Mối quan tâm gần đây đối với vật chất tập trung vào các chất rắn dường như hoàn toàn phù hợp để đáp ứng nhu cầu hồi sinh lý thuyết (ví dụ: Carlile et al. 2013; Hekman 2010). Tuy nhiên, nó không phải là một lĩnh vực nghiên cứu đồng nhất, điều hiển nhiên từ các thuật ngữ khác nhau (ví dụ: các quan điểm đối xứng, bước ngoặt vật chất, bước ngoặt bản thể luận, duy vật luận mới, bản thể luận định hướng-đối tượng hoặc hậu nhân văn luận). Các nghiên cứu định hướng-vật chất thay vào đó bao gồm ít nhiều các quan điểm cấp tiến khác nhau, từ: xã hội học về sự vật” vẫn thúc đẩy quan điểm nhân văn về cái xã hội, thông qua quan điểm đối xứng, đến quan điểm phi nhân trung tâm luận và hậu nhân văn luận (hình 3.1). Họ [tr.73] đều có chung mối quan tâm về chất liệu nhưng ở một số điểm lại không tương thích về mặt nhận thức luận và bản thể luận. Điểm mấu chốt là mức độ khác biệt của chúng từ quan điểm nhân trung tâm luận sang lập trường phi nhân trung tâm luận.

Ví dụ, lĩnh vực tiêu dùng và nghiên cứu văn hóa vật chất nói chung là lấy con người làm trung tâm. Ở đây, chất liệu (nói chung là sự vật và đối tượng) được thảo luận chủ yếu như là sự phản ánh của các cấu trúc xã hội và của các hệ tư tưởng (xem, ví dụ, Hicks 2010 có tài liệu tham khảo). Mặc dù sự vật và chất liệu được nhấn mạnh, được nghiên cứu và đề cao trong các cách tiếp cận này, nhưng các nghiên cứu về văn hóa vật chất vẫn chủ yếu quan tâm đến diễn ngôn về sự vật từ quan điểm của con người (Fahlander 2008). Tuy nhiên, gần đây, mối quan tâm đến tính xã hội của sự vật đã phát triển thành một mặt đối lập triệt để hơn đối với quan điểm nhận trung tâm luận về thế giới. Các cách tiếp cận tân duy vật luận, hay hậu nhân văn luận như vậy có chung mối quan tâm giống nhau về tính vật chất, nhưng cũng liên quan đến sự phê phán chống lại quyền bá chủ của diễn ngôn trong kiến ​​tạo luận xã hội. Nguồn cảm hứng chính cho các cách tiếp cận phi nhân-trung tâm luận như vậy được tìm thấy trong Lý thuyết Mạng Tác nhân (ANT), đã dần dần được chấp nhận ngày càng nhiều trong các ngành khoa học xã hội trong những thập kỷ gần đây (ví dụ: Callon và Law 1995; Latour 1990, 2005). ANT không phải là một chương trình hay phương pháp với các nguyên tắc riêng biệt, mà là một bộ công cụ được xác định một cách lỏng lẻo hơn để hiểu cách thức hoạt động của tính xã hội của sự vật. Nó chia sẻ một số mối quan tâm của nghiên cứu tiêu dùng và văn hóa vật chất nhưng là một khuôn khổ tham vọng hơn. Latour thực hiện việc giải cấu trúc cổ điển các lý thuyết và khái niệm của chúng ta về xã hội và đời sống xã hội, sau đó tập hợp lại các mảnh dưới dạng mạng tác nhân. Giải cấu trúc của Latour về cơ bản là sự đúc kết và làm phẳng các phân đôi như tự nhiên-văn hóa, vĩ mô-vi mô và con người-vật chất. Ông có thể làm điều này bằng cách thay thế sự tập trung một mặt từ “các lực lượng xã hội” và mặt khác là các tác nhân xã hội, bằng cách thay vì tập trung vào các mối quan hệ của chúng với tư cách là các mạng tác nhân. Do đó, ANT là một sự tái khái niệm hóa triệt để về thế giới bao gồm các mạng quan hệ con người và vật chất.

Latour (2005:76) lập luận rằng con người và sự vật không phải là hai phạm trù khác nhau có thể tách rời về mặt nhận thức luận. Sự vật và đối tượng không chỉ đơn giản là những người ngoài cuộc im lặng mà là những tác nhân - những bộ phận tích hợp trong quá trình xã hội. Latour chỉ ra một loạt các tình huống trong đó sự vật thay thế con người - có thể nói là hành động thay thế cho họ. Chẳng hạn, dây thép gai có thể thay thế người chăn cừu và chó, gờ giảm tốc [tr.74] khiến người lái xe phải giảm tốc độ xe, v.v. (Latour 1990; 2005: 77). Việc thừa nhận tính xã hội nhất định của sự vật (tác tố vật chất) đã dẫn đến một cuộc tranh luận hơi tẻ nhạt trong các ngành khoa học xã hội về việc liệu khái niệm agency tác tố cũng có thể áp dụng cho các vật thể không phải con người hay không. Chẳng hạn, trong các ví dụ trên, mọi thứ được thiết kế để hoạt động theo những cách cụ thể và khó có thể lập luận rằng chúng tự thân hành động. Tuy nhiên, tác tố là một khái niệm phức tạp không nhất thiết phải liên quan đến loại tính chủ ý mà chúng ta thường gán cho con người. Ý tưởng về sức mạnh tác tố của vật chất trong ANT không nên được hiểu theo nghĩa có chủ ý như trong truyền thống hiện tượng học, mà theo khuôn khổ các mối quan hệ (Callon và Law 1995: 485; xem Barad 2003: 817).

Sự vật không có thuộc tính nội tại hoặc đồng nhất tính tiên nghiệm: bản thân chúng cũng không mang tính xã hội (Latour 2005: 159). Thay vào đó, chính mối quan hệ tương hỗ của chúng với các tác nhân khác (con người và không phải con người) đã xác định chúng. Theo nghĩa tương tự như lập luận của Michel Foucault (1977) rằng quyền lực không phải là thứ được sở hữu, mà là thứ được thực hiện, thì tác tố được coi là một khía cạnh quan hệ, sắp xảy ra, thay vì là phẩm chất của các cá nhân và các đối tượng nhất định. Ví dụ, trong trường hợp người lái xe giảm tốc độ ô tô khi đối mặt với gờ giảm tốc, Latour lập luận rằng hành động này được xúi giục vì người lái, chiếc xe và gờ giảm tốc tạo thành một mối quan hệ tạm thời mà tất cả đều trực tiếp tham gia vào hành động do tài xế thực hiện. Việc mọi người cam kết với vạn vật không phải là một cái nhìn sâu sắc mới lạ, nhưng yếu tố phi-nhân trung tâm luận trong ANT khiến nó trở nên khác biệt hoàn toàn so với cách nó được sử dụng trong nhân học và khảo cổ học. Như Watts (2013:13) gần đây đã tóm tắt sự khác biệt này: “Giờ đây, hoàn toàn tách biệt với một thế giới bao gồm các chủ thể biết (con người) và các đối tượng phải được biết (mọi thứ khác), chúng ta có những thế giới chứa đầy con người và/hoặc không phải con người và được định nghĩa bởi sự xuất hiện và giao thoa của các mối quan hệ cụ thể.”

Quan điểm quan hệ, định hướng-vật chất hoàn toàn không phải là duy nhất đối với ANT; có một số luồng tư tưởng liên quan theo những cách khác nhau đã tìm cách đưa cái “vật chất” vào các khuôn khổ nhận thức luận khác nhau. Đáng chú ý nhất là ký hiệu học vật chất của Donna Haraway (1991, 2008), chủ nghĩa hiện thực tác tố của Karen Barad (2003, 2007), Praxography [Là một khái niệm mô tả phương pháp cụ thể của nghiên cứu dựa trên lý thuyết thực hành. Nó tập trung vào nghiên cứu các thực hành như là đơn vị phân tích cốt lõi. Do đó, Praxiography được liên kết với một thể riêng biệt của việc xây dựng lý thuyết về lý thuyết thực hành và bắt đầu từ sự thừa nhận rằng lý thuyết và phương pháp tạo thành các gói riêng biệt và cần được suy nghĩ cùng nhau. Nó không bị giới hạn trong một phương pháp riêng biệt mà bắt đầu từ sự thừa nhận rằng các phương pháp, chẳng hạn như phỏng vấn hoặc phân tích văn bản, cần được định dạng lại để phục vụ các tiêu điểm cụ thể của lý thuyết thực hành. HHN] thực hành học của Anne Marie Mol (2002) và bản thể luận định hướng-đối tượng (OOO) do Graham Harman (2002, 2009) và Levi Bryant (2011) chủ trương. Ở đây không có chỗ để đi sâu vào chi tiết của những chuỗi tư tưởng khá phức tạp này, nhưng đủ để nói rằng tất cả chúng đều liên quan đến những câu hỏi về nhận thức luận và bản thể luận tương tự như những câu hỏi mà ANT đã nhắm đến. Sự nhấn mạnh vào cái không phải con người, bác bỏ kiến ​​tạo luận xã hội để ủng hộ một bản thể luận phi-nhân trung tâm luận, đôi khi được gọi là hậu nhân văn luận. Quả thực, trái ngược với các nghiên cứu về văn hóa vật chất, quan điểm phi-nhân trung tâm luận không chỉ đơn giản là vấn đề “thêm tính vật chất vào rồi khuấy lên” mà còn bao hàm một quan điểm hoàn toàn khác về xã hội. Nó không chỉ là một bước ngoặt vật chất, mà còn là một bước ngoặt bản thể luận. Như Levi Bryant đã nói [tr.75]: “Con người là các hiện hữu và là các hiện hữu đang hiện hữu, họ không phải là trung tâm của hiện hữu, cũng không phải là điều kiện cần thiết để hiện hữu” (Bryant 2011: 130). Nếu chúng ta xem xét các lập luận của hậu nhân văn luận một cách nghiêm túc, thì nó có thể hoàn toàn định nghĩ lại mối quan hệ giữa nhân học và khảo cổ học cũng như cái cách mà chúng ta hiểu về thế giới.

Vạn vật và Con người: Duy vật luận mới trong Khảo cổ học & Nhân học

Mặc dù khó có thể phân biệt rõ ràng giữa khảo cổ học và nhân học, nhưng đại khái có thể rút gọn thành một sự khác biệt đơn giản: nhân học chủ yếu nghiên cứu con người và sau đó là văn hóa vật chất của họ để hiểu một nền văn hóa cụ thể, trong khi các nhà khảo cổ học chủ yếu nghiên cứu văn hóa vật chất để hiểu con người và nền văn hóa của họ. Gavin Lucas (2010: 31) đã minh họa điều này dưới dạng sơ đồ trong một công thức đơn giản (các thuật ngữ trong ngoặc biểu thị sự vắng mặt về phương diện kinh nghiệm): i) Nhà dân tộc học: Con người—Vạn vật → (Văn hóa/xã hội); ii) Nhà khảo cổ học: Vạn vật—(Con người) → (Văn hóa/xã hội).

Tuy nhiên, từ quan điểm duy vật luận mới, những khác biệt này đã bị thay đổi. Nghiên cứu sẽ không nhất thiết bắt đầu với - hoặc kết thúc với - con người, mà với sự kết hợp của thông tin có sẵn bất kể đó là con người hay không phải con người. Điều này không có nghĩa là khảo cổ học và nhân học duy vật luận mới trở nên giống nhau; con người chắc chắn sẽ vẫn là một nhân tố quan trọng, ngoại trừ quan điểm có thể ít nhiều mang tính đối xứng/lấy con người làm trung tâm. Tuy nhiên, trong lý thuyết, nhân học/khảo cổ học duy vật luận mới có thể được minh họa bằng biểu đồ như sau: nhân học/khảo cổ học duy vật: Các Tác nhân → (các quan hệ/các mạng lưới).

Việc xác định mục tiêu của khảo cổ học và nhân học để hiểu sự gắn kết của con người với những sự vật vật chất cũng cho thấy rõ ràng là các lĩnh vực đó có chung mục tiêu này với các ngành khác như lịch sử, nghiên cứu văn hóa, dân tộc học, địa lý, xã hội học, âm nhạc và triết học (Gosden 2010: 110; xem Hicks 2010). Mối quan tâm chung như vậy đối với cái vật chất chắc chắn sẽ khuyến khích thảo luận và trao đổi liên ngành rộng rãi hơn. Tuy nhiên, bước ngoặt vật chất luận mới không chỉ nhấn mạnh sự vật mà còn liên quan đến sự chuyển đổi bản thể luận, khái niệm từ quan điểm lấy nhân trung tâm luận sang quan điểm hậu nhân văn luận. Tính không đồng nhất của các lý thuyết vật chất mới và sự nhầm lẫn về ý nghĩa của thuật ngữ (tính vật chất, tác tố, quan hệ, v.v.) khiến nó trở thành một chủ đề khó định giá. Sau đây tôi sẽ thảo luận ngắn gọn về cách [tr.76] các quan điểm của duy vật luận mới được hiểu và sử dụng trong khảo cổ học và nhân học, tương ứng. Khi làm như vậy, tôi không giả vờ cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện mà đúng hơn là một sự phản ánh hơi thiên khảo cổ học về những cách thức mà duy vật luận mới đã được tiếp nhận và sử dụng trong các phân tích về quá khứ và hiện tại.

_______________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Fahlander, Fredrik (2017). Ontology matters in archaeology and anthropology People, Things, and Posthumanism. In These "thin partitions": bridging the growing divide between cultural anthropology and archaeology / [ed] Joshua D. Englehardt, Ivy A. Rieger, Boulder: University Press of Colorado , 2017, p. 69-86.

Tác giả: Fredrik Fahlander (sinh năm 1965) là phó giáo sư khảo cổ học tại Đại học Stockholm, nhận bằng tiến sĩ năm 2003 tại Khoa Khảo cổ học, Đại học Gothenburg, nơi ông là giảng viên và nhà nghiên cứu. Năm 2009, ông bắt đầu học nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Stockholm và từ năm 2013, đảm nhiệm vị trí chính thức là giảng viên và nhà nghiên cứu. Ông cũng là một trong hai biên tập viên của tạp chí Current Swedish Archaeology - Khảo cổ học Thụy Điển Hiện tại. Nghiên cứu của ông dựa trên quan điểm vi khảo cổ học và tập trung vào lý thuyết cũng như phương pháp luận xã hội nói chung, thực tiễn xã hội và vật chất nói riêng. Phương pháp tiếp cận vi khảo cổ học về cơ bản là đối xứng dựa trên những phân tích chi tiết về các quá trình xã hội và chuỗi sự kiện bao gồm cả tác nhân con người và phi con người. Đây cũng là một cách tiếp cận quan hệ, phi-đại diện và vận hành từ dưới lên cùng với tài liệu khảo cổ học và bối cảnh vật chất xã hội cụ thể, thay vì đi tắt, các khái quát hóa và các mô hình lịch sử hoặc nhân học. Quan điểm vi khảo cổ học được áp dụng cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, chẳng hạn như khảo cổ học về cái chết, các khía cạnh vật chất của văn hóa ẩm thực, và biểu trưng tượng hình (hình xăm và nghệ thuật trên đá). Các nghiên cứu hiện tại khác bao gồm phân loại xã hội và tính giao cắt (trẻ em và người già) và tính lai tạp xã hội và các tác động khác nhau có thể xảy ra khi các nhóm khác nhau gặp gỡ và tương tác.

Notes

1. Archaeology and anthropology are not really two easily distinguishable fields of research. Even though they are considered different disciplines in parts of Europe (archaeology under humanities and anthropology under social sciences), there may be more in common between different subfields such as contemporary archaeologies and ethnology, or ethnoarchaeology and cultural anthropology. A distinction is nonetheless kept here for convenience, mainly to distinguish research departing from material traces in the past and research focusing on people and things in the present.

References

Alberti, Benjamin, and Tamara Bray. 2009. “Introduction, Special Section: Animating Archaeology: of Subjects, Objects, and Alternative Ontologies.” Cambridge Archaeological Journal 19(3):337–343.

Alberti, Benjamin, Andrew M. Jones, and Joshua Pollard, eds. 2013. Archaeology after Interpretation: Returning Materials to Archaeological Theory. Walnut Creek, CA: Left Coast Press.

Barad, Karen. 2003. “Posthumanist Performativity: toward an Understanding of How Matter Comes to Matter.” Signs (Chicago, Ill.) 28(3): 801–831.

Barad, Karen. 2007. Meeting the Universe Halfway: Quantum Physics and the Entanglement of Matter and Meaning. Durham, nC: Duke University Press.

Bryant, Levi. 2011. The Democracy of Objects. Ann Arbor: open Humanities Press.

Burnham, Barry C., and John Kingsbury, eds. 1979. Space, Hierarchy, and Society: Interdisciplinary Studies in Social Area Analysis. BAr International Series. vol. 59. Oxford: British Archaeological Reports.

Callon, Michel, and John Law. 1995. “Agency and the Hybrid Collectif.” South Atlantic Quarterly 94: 481–507.

Carlile, Paul r., Davide nicolini, Ann langley, and Haridimos tsoukas. 2013. “How Matter Matters: Objects, Artifacts, and Materiality in organization studies: Introducing the Third volume of “Perspectives on organization studies.”.” in How Matter Matters: Objects, Artifacts, and Materiality in Organization Studies, ed. Paul r. Carlile, Davide Nicolini, Ann Langley, and Haridimos Tsoukas, 1–15. Oxford: Oxford University Press.

Back Danielsson, ing-Marie, Fredrik Fahlander and Ylva Sjöstrand, eds. 2012. Encountering Imagery: Materialities, Perceptions, Relations. Stockholm Studies in Archaeology no. 57. Stockholm: Department of Archaeology and Classical studies, stockholm University. 

David, nicholas, and Carol Cramer, eds. 2001. Ethnoarchaeology in Action. Cambridge: Cambridge University Press.

Fahlander, Fredrik. 2001. Archaeology and Science-Fiction: A Microarchaeology of the Unknown. Gotarc series C, no. 43. Göteborg: Department of Archaeology, University of Gothenburg.

Fahlander, Fredrik. 2004. “Archaeology and Anthropology—Brothers in Arms?: On Analogies in 21st–Century Archaeology.” in Material Culture and Other Things: Post–disciplinary Studies in the 21st Century, edited by Fredrik Fahlander and Terje Oestigaard, 185–211. Gotarc, series C, no. 61. Vällingby:  Elanders Gotab.

Fahlander, Fredrik. 2007. “Third space Encounters: Hybridity, Mimicry, and interstitial Practice.” In Encounters-Materialities-Confrontations: Archaeologies of Social Space and Interaction, ed. Per Cornell and Fredrik Fahlander, 15–43. Cambridge: Cambridge Scholars Publishing. 

Fahlander, Fredrik. 2008. “Differences that Matter: Materialities, Material Culture, and Social Practice.” in Six Essays on the Materiality of Society and Culture, ed. Håkon Glørstad and Lotte Hedeager, 127–154. Gothenburg: Bricoleur Press.

Firth, Raymond. 1936. We the Tikopia: A Sociological Study of Kinship in Primitive Polynesia. London: Allen and Unwin.

Firth, Raymond. 1959. Social Change in Tikopia. Re-Study of a Polynesian Community after a Generation. London: Allen and Unwin n.

Foucault, Michel. 1977. Discipline and Punish: The Birth of the Prison. New York: Vintage Books.

Franklin, Adrian. 2008. “A Choreography of fire. A Posthumanist Account of Australians and Eucalypts.” in The Mangle in Practice. Sciences, Society and Becoming, ed. Andrew Pickering and Keith Guzik, 17–45. Durham, nC: Duke University Press.

Garrow, Duncan, and Elizabeth Shove. 2007. “Artefacts between Disciplines: The Toothbrush and the Axe.” Archaeological Dialogues 14(2):117–131.

Garrow, Duncan, and Thomas Yarrow. 2010. “Introduction: Archaeological Anthropology.” In Archaeology and Anthropology: Understanding Similarity, Exploring Difference, ed. Duncan Garrow and Thomas yarrow, 1–12. Oxford: Oxbow Books.

Gell, Alfred. 1992. “The technology of Enchantment and the Enchantment of technology.” In Anthropology, Art and Aesthetics, ed. Jeremy Coote and Anthony Shelton, 40–63. Oxford: Clarendon.

Gell, Alfred. 1998. Art and Agency: An Anthropological Theory. Oxford: Clarendon.

Giddens, Anthony. 1986. The Constitution of Society: Outline of the Theory of Structuration. Berkeley: University of California Press.

González-ruibal, Alfredo. 2008. “Time to Destroy: An Archaeology of Supermodernity.” Current Anthropology 49(2):247–279.

Gosden, Christopher. 1999. Anthropology and Archaeology: A Changing Relationship. London: Routledge. 

Gosden, Christopher. 2010. “Words and Things: Thick Description in Archaeology and Anthropology.” in Archaeology and Anthropology: Understanding Similarity, Exploring Difference, ed. Duncan Garrow and Thomas yarrow, 110–116. oxford: oxbow Books. 

Goslinga, Gillian. 2012. “Spirited Encounters: notes on the Politics and Poetics of representing the Uncanny in Anthropology.” Anthropological Theory 12 4): 386–406.

Gramsch, Alexander, ed. 2000. Vergleichen als archäologische Methode: Analogien in den Archäologien. Oxford: Oxbow Books.

Haraway, Donna J. 1991. Simians, Cyborgs and Women: The Reinvention of Nature. New York: Routledge. 

Haraway, Donna J. 2008. When Species Meet. Minneapolis: University of Minnesota Press. 

Harman, Graham. 2002. Tool-Being: Heidegger and the Metaphysics of Objects. Peru, Il: Open Court.

Harman, Graham. 2009. Prince of Networks: Bruno Latour and Metaphysics. Melbourne: re. Press. 

Hastrup, Kirsten. 2013. “Scales of Attention in Fieldwork: Global Connections and Local Concerns in the Arctic.” Ethnography 14(2):145–164.

Hekman, Susan J. 2010. The Material of Knowledge: Feminist Disclosures. Bloomington: Indiana University Press.

Henare, Amiria, Martin Holbraad, and Sari Wastell. 2007. “Introduction: Thinking Through Things.” in Thinking Through Things: Theorising Artefacts Ethnographically, ed. Amiria Henare, Martin Holbraad, and Sari Wastell, 1–31. London: Routledge.

Hicks, Dan. 2010. “The Material-Cultural Turn: Event and Effect.” in The Oxford Handbook of Material Culture Studies, ed. Dan Hicks and Mary C. Beaudry, 25–98. Oxford: Oxford University Press.

Hodder, Ian. 1982. The Present Past: An Introduction to Anthropology for Archaeologists. London: T. Batsford, ltd.

Hodder, Ian. 2006. The Leopard’s Tale: Revealing the Mysteries of Catalhöyuk. london: Thames and Hudson.

Hodder, Ian. 2012. Entangled: An Archaeology of the Relationships between Humans and Things. Malden, MA: Wiley-Blackwell.

Holbraad, Martin. 2010. “Ontology is Just Another Word for Culture: Against the Motion (2).” Critique of Anthropology 30(2):179–185.

Huen, Chi W. 2009. “What is Context? An Ethnophilosophical Account.” Anthropological Theory 9(2):149–169.

Ingold, Timothy. 2007a. Lines: A Brief History. London: Routledge.

Ingold, Timothy. 2007b. “Materials against Materiality.” Archaeological Dialogues 14(1):1–16.

Ingold, Timothy. 2008. “When Ant Meets Spider: Social Theory for Arthropods.” In Material Agency: Towards a Non-Anthropocentric Approach. Springer Science+Business Media, ed. Carl Knappett and Lambros Malafouris, 209–215. New York: Springer.

Ingold, Timothy. 2013. “The Maze and the Labyrinth: Reflections of a Fellow-Traveler.” In Relational Archaeologies: Humans, Animals, Things, ed. Christopher Watts, 245–247. Abingdon, UK: Routledge.

Jones, Andrew. 2004. “Archaeometry and Materiality: Materials-Based Analysis in Theory and Practice.” Archaeometry 46(3):327–338.

Kaliff, Anders, and Terje Østigård. 2004. “Cultivating Corpses: A Comparative Approach to Disembodied Mortuary remains.” Current Swedish Archaeology 12:83–104.

Knappett, Carl. 2008. “The Neglected Networks of Material Agency—Artefacts, Pictures and Texts.” in Material Agency: Towards a Non-Anthropocentric Approach, ed. Carl Knappett and Lambros Malfouris, 139–156. New York: Springer.

Knappett, Carl, and Lambros Malafouris, eds. 2008. Material Agency: Towards a Non- Anthropocentric Approach. New York: Springer.

Ladwig, Patrice. 2012. “Ontology, Materiality, and Spectral Traces: Methodological Thoughts on Studying Lao Buddhist Festivals for Ghosts and Ancestral Spirits.” Anthropological Theory 12(4): 427–447.

Latour, Bruno. 1990. “Technology is Society Made Durable.” Sociological Review. Mongraph 38(s1):103–131.

Latour, Bruno. 1993. We Have Never Been Modern. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Latour, Bruno. 2005. Reassembling the Social: An Introduction to Actor-Network Theory. Oxford: Oxford University Press.

Latour, Bruno. 2013. An Inquiry into Modes of Existence: An Anthropology of the Moderns. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Lucas, Gavin. 2010. “Triangulating Absence: Exploring the Fault-lines between Archaeology and Anthropology.” In Archaeology and Anthropology: Understanding Similarity, Exploring Difference, ed. Duncan Garrow and Thomas Yarrow, 28–39. Oxford: Oxbow Books.

MacClancy, Jeremy, ed. 2002. Exotic No More: Anthropology on the Front Lines. Chicago: University of Chicago Press.

Martin, Andrew M. 2013. Archaeology beyond Postmodernity: A Science of the Social. Walnut Creek, CA: AltaMira Press.

Miller, Daniel, ed. 2005. Materiality. Durham, nC: Duke University Press.

Mol, Annemarie. 2002. The Body Multiple: Ontology in Medical Practice. Durham, nC: Duke University Press.

Olsen, Bjørnar. 2010. In Defense of Things: Archaeology and the Ontology of Objects. Walnut Creek, CA: AltaMira Press.

Olsen, Bjørnar. 2013. “Reclaiming Things: An Archaeology of Matter.” in How Matter Matters: Objects, Artifacts, and Materiality in Organization Studies, ed. Paul r. Carlile, Davide Nicolini, Ann Langley, and Haridimos Tsoukas, 171–196. Oxford: Oxford University Press.

Oppenheim, Robert. 2007. “Actor-network Theory and Anthropology after Science, Technology, and Society.” Anthropological Theory 7(4): 471–493.

Orme, Bryony. 1981. Anthropology for Archaeologists. Ithaca: Cornell University Press.

Palecek, Martin, and Mark Risjord. 2013. “Relativism and the Ontological Turn within Anthropology.” Philosophy of the Social Sciences 43(1):3–23.

Piccini, Angela, and Cornelius Holtorf, eds. 2009. Contemporary Archaeologies: Excavating Now. Frankfurt: Peter Lang.

Pollard, Joshua. 2005. “The Art of Decay and the Transformation of Substance.” In Substance, Memory and Display: Archaeology and Art, ed. Colin A. Renfrew, Christopher Gosden, and Elizabeth DeMarrais, 47–62. Cambridge: McDonald Institute for Archaeological Research.

Pyyhtinen, Olli, and Sakari Tamminen. 2011. “We Have never Been only Human: Foucault and Latour and the Question of Anthropos.” Anthropological Theory 11(2): 135–152.

Ramos, Alcida Rita. 2012. “The Politics of Perspectivism.” Annual Review of Anthropology 41(1): 481–494.

Roux, Valentine. 2007. “Ethnoarchaeology: A non Historical Science of Reference Necessary for Interpreting the Past.” Journal of Archaeological Method and Theory 14(2): 153–178.

Strathern, Marilyn. 1996. “Cutting the Network.” Journal of the Royal Anthropological Institute 2(3): 517–535.

Tilley, Christopher y. 2004. The Materiality of Stone: Explorations in Landscape Phenomenology. Oxford: Berg Publishers.

Viveiros de Castro, Eduardo Batalha. 2004. “Exchanging Perspectives: The Transformation of Objects into Subjects in Amerindian Ontologies.” Common Knowledge 10(3): 463–484.

Watts, Christopher. 2013. “Relational Archaeologies: Roots and Routes.” in Relational Archaeologies: Humans, Animals, Things, ed. Christopher Watts, 1–21. Abingdon, UK: Routledge.

Webmoor, Timothy. 2007. “What about ‘One More Turn after the Social’ in Archaeological Reasoning? Taking Things Seriously.” World Archaeology 39(4):543–578.

Witmore, Christopher l. 2007. “Symmetrical Archaeology: Excerpts from a Manifesto.” World Archaeology 39(4): 546–562.

Yarrow, Thomas. 2010. “Not Knowing as Knowledge: Asymmetry Between Archaeology and Anthropology.” in Archaeology and Anthropology: Understanding Similarity, Exploring Difference, ed. Duncan Garrow and Thomas Yarrow, 13–27. Oxford: Oxbow Books.

 

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2022

Các Bước ngoặt Bản thể luận Khác (I)

Martin Holbraad and Morten Axel Pedersen

Người dịch: Hà Hữu Nga

[Tr.30] Một số người khẳng định bản thể luận là zeitgeist tinh thần thời đại hiện nay trong nhân học, cũng như trong một số lĩnh vực liên quan trong khoa học xã hội và nhân văn. Chắc chắn, cụm từ ‘bước ngoặt bản thể luận’ đã được triển khai trong toàn bộ các bối cảnh những năm gần đây, đạt được mức độ thịnh hành hơn nhiều so với mức độ mà cuốn sách hiện tại đề cập. Vì vậy, sau khi đã chuyển tải trong Phần giới thiệu những đặc điểm nổi bật của bước ngoặt bản thể luận mà chúng tôi hy vọng sẽ trình bày rõ ràng trong thuyết trình của mình, thì bước tiếp theo là đặt cách suy nghĩ đặc thù này trong bối cảnh rộng lớn hơn của nhân học đương đại và lý thuyết xã hội nói chung. Theo đó, nhiệm vụ của chương này là xem xét các cuộc tranh luận gần đây về bản thể luận trong nhân học và các lĩnh vực liên quan. Mục đích của chúng tôi là đưa ra một ý nghĩa về nhiều cách thức mà theo đó dòng tư duy nhân học cụ thể nhắm đến, mà trong các chương tiếp theo, chúng tôi sẽ duy trì một cách rất trình tự đoạn điệp ‘bước ngoặt bản thể luận’ được kết liên với các cách thức khác mà bản thể luận đã trở thành nét đặc trưng trong các cuộc tranh luận này, và để làm rõ các ý nghĩa cụ thể mà theo đó chúng tôi coi nó là khác biệt với chúng. Vì ở đây không thể lập biểu đồ toàn bộ bối cảnh của lý thuyết xã hội gần đây, vì mục đích trình bày của chúng tôi, chúng tôi giới hạn bản thân trong việc thảo luận các lĩnh vực trong đó khái niệm về một bước ngoặt bản thể luận đã đạt được sức hút rõ ràng nhất và kề cận nhất với mối quan tâm của chúng tôi. Trong phần tiếp theo, chúng tôi tập trung vào những phát triển gần đây trong triết học, Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ (STS) và đặc biệt là bản thân nhân học, trong đó chúng tôi sẽ phân biệt [tr.31] hai khuynh hướng rộng lớn có thể đối lập với bước ngoặt bản thể luận ‘của chúng ta’.1 Tổng cộng là bốn, chúng tôi gọi vui đây là ‘các bước ngoặt bản thể luận khác’.

Như chúng tôi sẽ chỉ ra, tính liên tục cơ bản giữa những bước phát triển này và bước ngoặt bản thể luận, như ở đây chúng ta hiểu nó, nằm trong một mong muốn chung là đưa ra những lựa chọn thay thế cho những tiền đề bản thể luận cơ bản của cái mà Bruno Latour – một trong những nhân vật chủ chốt – đã gọi là ‘cấu thành hiện đại’ (1993). Biến đổi một số định hướng từng được tranh luận dưới ngọn cờ của chủ nghĩa hậu hiện đại, và thường được thúc đẩy bởi nhận thức về một cuộc khủng hoảng toàn diện (chính trị, kinh tế, sinh thái) của đế chế, chủ nghĩa tư bản và thời hiện đại nói chung, những phát triển lý thuyết này là triệu chứng của một xung lực đồng đều rộng lớn hơn để phát minh ra những cách suy nghĩ mới, can thiệp và thử nghiệm với thế giới. Vì vậy, các bản thể luận mới hiện nay rất nhiều, dưới dạng một loạt các từ vựng khái niệm mới lạ và tính thẩm mỹ của tư duy: tập hợp, ảnh hưởng, mạng, đa dạng; hậu nhân văn luận, đa loài và Anthropocene Thế Nhân sinh, chủ nghĩa duy vật mới, chủ nghĩa hiện thực tư biện; sự xuất hiện, tính sống động, nội-hành động; cái bên cạnh, cái cách xa, cái có. Vì việc tạo ra những hình thức khái niệm mới như vậy – cơ sở tư duy thử nghiệm mới và thường có chủ ý – là trung tâm của “bước ngoặt bản thể luận” này, nên về cơ bản có sự đồng cảm của họ với phiên bản “của chúng tôi”.

Tuy nhiên, như chúng ta sẽ bàn đến, phiên bản của bước ngoặt bản thể luận mà cuốn sách này đề cập cũng khác biệt đáng kể so với những phiên bản khác. Sự khác biệt bắt nguồn từ điểm cốt lõi về đặc tính phản ánh cơ bản của phiên bản ‘của chúng tôi’ về bước ngoặt bản thể luận, mà, như chúng tôi đã trình bày trong phần Giới thiệu, bao gồm trong một đề xuất [tr.32] về phương pháp luận triệt để nhằm ‘tăng cường’ các chuỗi tư tưởng nhất định nằm ở trung tâm của dự án nhân học. Ngược lại, bất chấp ưu điểm mà chúng thường coi là mang tính thử nghiệm, tạm thời và cục bộ, bốn lựa chọn thay thế ‘khác’ mà chúng ta xem xét trong phần tiếp theo có xu hướng theo cách này hay cách khác để giả định, mặc dù thường chỉ ngầm hiểu, rằng việc chuyển hướng sang bản thể luận phải liên quan đến tham gia hoặc đóng góp vào dự án triết học truyền thống nhằm xây dựng một giải thích siêu hình về các cấu phần cơ bản của tồn tại. Trong một số trường hợp, như chúng ta sẽ thấy, mục đích này là rõ ràng và có cân nhắc, với việc các nhà nhân học và học giả STS tham gia cùng các nhà triết học để đưa ra câu trả lời của riêng họ cho các câu hỏi bản thể luận truyền thống đối với cách quan niệm tốt nhất về thế giới, các cấu phần của nó và các mối quan hệ giữa chúng (ở đây, nhiều phê phán khác nhau về nhị nguyên luận Descartes đã trở nên nổi bật). Theo đó, phần lớn bài viết này ở dạng những câu chuyện siêu hình mới lạ về thế giới là gì và nó hoạt động như thế nào – các mối quan hệ thay thế các thực thể, các quá trình nuốt chửng các bản chất, các tập hợp và các mạng  đồng lựa chọn các chủ thể và khách thể, các dòng lưu chuyển và tình trạng tắc nghẽn chiếm đoạt siêu hình học hiện diện, chỉ để bị lấn át bởi các đối tượng rút lui vào chính chúng, v.v., trong các tái hiệu chuẩn mang tính tư biện của kho vũ khí khái niệm của tư duy siêu hình.

Trong các trường hợp khác, gần với cách tiếp cận của chúng tôi hơn, các động thái sửa đổi khái niệm tương tự được thực hiện, không phải với danh nghĩa đạt được một hình ảnh bản thể luận tốt hơn về thế giới ‘thực sự như thế nào’, mà là vấn đề về tính thiết thực phương pháp luận. Tuy nhiên, như chúng tôi sẽ chỉ ra, bản thân các lập luận phương pháp luận này thường dựa trên các cam kết bản thể luận trước đó của chính chúng. Ví dụ, quan niệm phương pháp luận đặc trưng cho rằng thế giới mà các nhà nhân chủng học hoặc học giả STS quan tâm về mặt thực nghiệm được cung cấp thông tin bởi một tập hợp cơ bản các nguyên tắc bản thể luận, vốn thay đổi từ tập hợp thực tiễn địa phương này sang tập hợp thực tiễn địa phương khác, dường như trong nhiều bài viết về STS phải tự đặt tiền đề trên (ít nhất cũng ngầm ẩn) một tuyên bố siêu hình về tính đa dạng cố hữu của thế giới – một số người đã gọi luận điểm này là ‘đa nguyên luận bản thể luận’ (ví dụ: Law 2004). [Tr.33] Vì vậy, trong phần còn lại của chương này, chúng tôi sàng lọc qua các quan điểm khác nhau đã được đưa ra trong các cuộc tranh luận gần đây về bản thể luận để đặt ra các tọa độ rộng lớn hơn cho cách tiếp cận mà chúng tôi sẽ phác họa trong các chương sau, chỉ ra một cách có phê phán các yếu tố làm cho nó khác biệt nhất. Và còn nơi nào tốt hơn để bắt đầu hơn là với trụ cột cũ của bản thể luận, cụ thể là triết học.

Triết học và 'Bản thể luận-Định hướng Đối tượng'

Bước đầu tiên trong số bốn bước ngoặt bản thể luận ‘khác’ mà chúng ta sẽ thảo luận có liên quan đến việc tạo nhóm lỏng lẻo các triết gia được gọi là ‘các nhà hiện thực tư biện’ và nhóm các học giả chồng chéo bộ phận thực hiện ‘bản thể luận định hướng-đối tượng’ (object-oriented ontology), hay ‘OOO’ như một trong những người đề xuất nó, Ian Bogost, đã gọi tắt như vậy (2012: 6). Ở đây, những câu hỏi triết học và bản thể luận truyền thống như, ‘những loại sự vật nào tồn tại?’, ‘cái gì làm cho một cái gì đó trở thành một thế giới?’ hoặc, thực sự, ‘Bản thể là gì?’ được thăm dò để đi đến một siêu hình học có thẩm quyền đúng với thế giới. Như chúng ta sẽ thấy, một định hướng triết học đặc trưng như vậy hoàn toàn trái ngược với cách tiếp cận rõ ràng mang tính phản ánh và nhân học mà chúng tôi tìm cách phác họa trong chương này và những chương tiếp theo. Tuy nhiên, điều mà các nhà hiện thực luận tư biện và OOO chia sẻ với các bước ngoặt khác gần đây đối với bản thể luận trong nhân học và các lĩnh vực liên quan là sự hoài nghi đối với việc ngày càng gạt ra ngoài các câu hỏi bản thể luận được cho là đã diễn ra trong triết học và khoa học nhân văn trong những thập kỷ qua, nếu không muốn nói là hàng thế kỷ. Do đó, cái thống nhất các nhà tư tưởng đa dạng gắn liền với hiện thực luận tư biện và OOO là thái độ bất mãn chung với những gì mà họ than thở là con đường nhận thức luận nghiêm ngặt (phản siêu hình) mà triết học theo đuổi kể từ Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant, và sự sẵn sàng đặt ra các câu hỏi bản thể luận về những gì tồn tại một lần nữa, mà do đó không trở lại với những nghịch lý, bế tắc và những ngõ cụt khác của siêu hình học giáo điều truyền thống. Như Quentin Meillassoux viết trong After Finitude – Sau cái Hữu hạn (một trong những cuốn sách có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực này):   

[Tr.34] [C]các ​​nhà triết học đương thời đã đánh mất những lĩnh vực ngoài trời vĩ đại, cái bên ngoài tuyệt đối của những nhà tư tưởng tiền phê phán…; cái bên ngoài đó không liên quan đến chúng ta, và được coi là thờ ơ với tính cho sẵn của chính nó, phải là cái tồn tại trong chính nó bất kể chúng ta có nghĩ về nó hay không; cái bên ngoài mà tư duy có thể khám phá với cảm giác hợp thức về việc ở trên lãnh thổ xa lạ – hoàn toàn thuộc nơi khác…(2008: 7; nhấn mạnh nguyên bản) Có một số lý do khiến việc quay trở lại những mối quan tâm của triết học tiền- Kantian được coi là cần thiết cho những người hiện thực luận tư biện. Graham Harman người đứng đầu trong số này, mà lý thuyết về các đối tượng lấy cảm hứng từ Whitehead của ông đã thúc đẩy rất nhiều sự gia tăng gần đây trong tài liệu OOO (ví dụ: Morton 2013), khẳng định là thực ra thì ‘tính quan hệ [đã trở thành] một vấn đề triết học chính. Dường như không còn rõ ràng làm thế nào một sự vật có thể tương tác với sự vật khác, vì mỗi sự vật trong vũ trụ dường như đều rút vào một bong bóng riêng, không có mối liên hệ khả dĩ nào giữa sự vật và sự vật khác’ (Harman 2010: 157). Một lần nữa, chúng ta nhận ra ở đây cái quan niệm siêu hình dai dẳng cho rằng có một thực tại ‘thực sự có thật’ ‘ở ngoài kia’ – một thực tại bao gồm các sự vật thấm nhuần chiều sâu siêu việt và nội tại tính, điều mãi mãi bị ẩn giấu đối với con người do thực tế là chúng ta chỉ có thể tương tác với các đối tượng này bằng cách liên hệ với chúng. Bất chấp những khác biệt của ông với Harman, đây cũng là câu hỏi trọng tâm mà Meillassoux đặt ra, cụ thể là làm thế nào để thoát khỏi cái mà ông gọi là ‘vòng tròn tương quan luận’ (2008: 53). Câu hỏi đặt ra cho Meillassoux là thoát khỏi xiềng xích của Copernican, trong đó, như ông viết, être, c'est être un corrélat tồn tại là tương quan. Do đó, vấn đề của hiện thực luận tư biện ‘bao gồm việc cố gắng hiểu làm thế nào mà suy nghĩ có thể tiếp cận với cái không tương quan... mà sự tách biệt của nó khỏi suy nghĩ đến mức nó tự thể hiện với chúng ta như một thứ không liên quan đến chúng ta, và do đó có năng lực tồn tại cho dù chúng ta có tồn tại hay không’ (2008: 29). Trong nỗ lực giải quyết những vấn đề này và những câu hỏi siêu hình tương tự, những người theo hiện thực luận tư biện và những người anh em OOO của họ đã thả những tấm lưới theo các hướng lý thuyết khác nhau, trải dài từ triết học tự nhiên lấy cảm hứng từ Badiou của Meillassoux như là ngẫu nhiên căn bản cho đến [tr.35] sự pha trộn của Harman với công cụ-phân tích của Heidegger với khái niệm mạng của Bruno Latour (Latour 2009).

Tuy nhiên, điểm mấu chốt cần lưu ý cho các mục đích hiện tại là các cách tiếp cận và các quan điểm đa dạng này chia sẻ một tham vọng triết học thẳng thắn là cung cấp phác thảo của một siêu hình học mới và thực sự là một bản thể luận thay thế – một khung khái niệm duy nhất sẽ giải thích, một lần duy nhất cho mọi thứ tồn tại. Cứ cho là như vậy, nhưng vẫn có những khía cạnh của những đề xuất siêu hình này cộng hưởng với những ý tưởng đã được đưa ra bởi các học giả liên quan đến bước ngoặt bản thể luận trong nhân học và STS - ví dụ: Lý thuyết đặc thù nhưng phức tạp của Harman về các đối tượng được liên kết rõ ràng với một số lý thuyết trong các công trình của Latour (Harman 2009). Nhưng những mục tiêu triết học này về cơ bản vẫn khác với những mục tiêu mà cuốn sách này đề cập. Để chắc chắn, chúng tôi chia sẻ với cuộc tranh luận OOO và những người hiện thực luận tư biện nói chung mong muốn đặt ra những câu hỏi bản thể luận ‘bị cấm’ mà triết học hiện đại trong nhiều thế kỷ đã dạy chúng ta không được đặt ra (và nhân học, xã hội học cũng như các ngành khoa học xã hội khác có xu hướng làm theo tuyến tư tưởng này). Và chắc chắn, chúng tôi vẫn đồng cảm với chương trình nghị sự lý thuyết rộng lớn hơn của những xu hướng triết học gần đây ấy, bao gồm cả nỗ lực làm suy yếu và loại bỏ khái niệm nhân văn luận về con người và ‘thuyết duy ngã liên chủ thể’ của nó (Meillassoux 2008: 51) thông qua các thăm dò thực nghiệm về ‘cái gì phải giống như một sự vật’ và các ‘hiện tượng xa lạ’ khác (Bogost 2012; Chương 5).2 Tuy nhiên, như Casper Bruun Jensen viết trong bình luận phê phán của riêng mình, trong khi bề ngoài thì ‘lập luận của Meillassoux là [một] sự sao chép rõ ràng và tăng cường cuộc tấn công của các nhà nhân học [tr.36] vào văn hóa luận,…Nhưng dự án của Meillassoux trực tiếp đi ngược lại với bước ngoặt bản thể luận trong nhân học’ (2013: 327; Graeber 2015: 23).

Tóm lại, trong khi những người hiện thực luận tư biện, với vai trò là nhà siêu hình học, tìm cách xây dựng các khung khái niệm chống đạn về mặt triết học để diễn đạt các bản thể luận thực sự, thì những gì chúng ta quan tâm với tư cách là nhà nhân học lại chịu sự kiểm soát rất khác (vì vốn dĩ là ngẫu nhiên và luôn thay đổi), cụ thể là được xác định bởi các đặc thù của tài liệu dân tộc học của chúng ta. Thật vậy, hiểu một cách rộng rãi, điểm này có thể được mở rộng thành mối quan hệ giữa bước ngoặt hữu thể luận trong nhân học và các cách tiếp cận triết học nói chung hơn. Đúng là, như các nhà bình luận cũng như một số người ủng hộ nó (ví dụ: Holbraad & Pedersen 2009; Viveiros de Castro 2009; 2014; Laidlaw 2012; Salmond 2014), nhận xét, việc nhấn mạnh rằng bước ngoặt bản thể luận đặt ra các câu hỏi về khái niệm hóa, và ưu điểm mà nó tạo ra để giữ cho các chân trời bản thể luận rộng mở và ngẫu nhiên đều mang nợ lớn với ảnh hưởng của Gilles Deleuze và Felix Guattari, những người mà triết học phải được định nghĩa nổi bật là sự sáng tạo của các khái niệm (Deleuze & Guattari 1994; xem thêm Jensen & Rödje 2009). Trong Chương 4, chúng ta sẽ thấy trong mối liên hệ, đặc biệt với công trình của Viveiros de Castro, những cách cụ thể, theo đó bước ngoặt bản thể luận có thể được trình bày rõ ràng dưới ánh sáng của (thực tế là liên minh với) các quan niệm Deleuzian. Tuy nhiên, một trong những khẳng định trung tâm [tr.37] của chúng tôi trong cuốn sách này là, bất chấp những mối quan hệ gần gũi của nó với triết học Deleuzian, mối quan tâm của chính bước ngoặt bản thể luận đối với sự pha chế các khái niệm được sinh ra từ những yêu cầu bức thiết đặc thù đối với nghiên cứu nhân học và trên hết, như đã được gợi ý trong phần Giới thiệu, cái đặc thù đòi hỏi dân tộc học đặt nỗ lực của các nhà nhân học vào việc mô tả và phân tích nó. Để đi sâu hơn vào sự khác biệt này giữa việc xây dựng mô hình siêu hình học và tính phản xạ hữu thể luận vốn là đặc trưng của định hướng phương pháp luận của bước ngoặt bản thể luận – đặt ra các câu hỏi ‘bản thể luận’ mà không coi ‘bản thể luận’ như một câu trả lời, như chúng tôi đã trình bày trong Phần giới thiệu - giờ đây chúng ta chuyển sang bước ngoặt thứ hai trong các bước ngoặt bản thể luận ‘khác’ của chúng tôi, đã diễn ra trong lĩnh vực STS.

Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ

Trong phần giới thiệu của họ về một tập bài dành cho hiện tượng ngày càng nổi bật của việc nói về bản thể luận trong STS trong vài thập kỷ qua, Steve Woolgar và Javier Lezaun (2013) đã kết nối sự phát triển này với mong muốn cấu thành của lĩnh vực để đưa ra một giải pháp thay thế cho nghiên cứu về ‘nhận thức luận’ trong triết học khoa học. Họ lập luận rằng bước ngoặt bản thể luận trong STS được hiểu rõ ràng nhất là ‘chiến thuật giảm phát’ mới nhất của ngành học, không nhằm cung cấp ‘câu trả lời thỏa đáng hơn cho các câu hỏi nhận thức luận cũ, mà là thay th[ế] khuôn khổ đã ban cho chúng cái phẩm chất trung tâm, gây khó chịu’ (2013: 322). Đặc biệt, nó được thúc đẩy bởi ‘mong muốn tránh bị cuốn vào mô tả và định tính “các quan điểm”. Đó là một nỗ lực để phá vỡ nhận thức luận và ngôn ngữ đại diện kèm theo của nó để ủng hộ một cách tiếp cận đề cập trực tiếp hơn đến sự cấu thành của thế giới’ (2013: 321–2). Vì vậy, bước ngoặt gần đây trong STS là có tính ‘bản thể luận’ theo hai cách có liên quan. Đầu tiên, nó bắt nguồn từ mong muốn vượt qua một khuôn khổ [tr.38] bản thể luận cụ thể, được coi là đặc biệt độc đoán bởi vì nó cung cấp nền tảng cho chính ý tưởng về nhận thức luận. Theo khuôn khổ này, đối tượng của khoa học là một thế giới đơn nhất, đồng dạng ‘ngoài kia’ (‘tự nhiên’), tạo thành đối tượng của ‘các quan điểm’ mà con người có thể tiếp nhận nó (‘các nền văn hóa’, ‘các biểu tượng’, ‘lý thuyết’, ‘diễn ngôn’, ‘nhận thức’, v.v.), là những quan điểm đa dạng vì chúng khác nhau tùy theo từng người hoặc từng nhóm, thay đổi vào những thời điểm khác nhau, …v.v. Nổi tiếng, dựa trên câu chuyện của Shapin và Schaffer (1985) về cách những thay đổi trí tuệ, công nghệ và chính trị đã kết hợp với nhau như thế nào trong thế kỷ 17 để khai sinh ra nó, Bruno Latour gắn nhãn cho hệ thống bản thể luận của một-tự nhiên -nhiều đại diện này là ‘bản hiến pháp hiện đại’ (Latour 1993). Như chúng ta sẽ thấy, dưới chiêu bài ‘một-tự nhiên-nhiều văn hóa’, khuôn khổ bản thể luận này cũng được coi là một trở ngại chính cần vượt qua bởi một số phiên bản nhất định của bước ngoặt bản thể luận trong nhân học, bao gồm cả phiên bản mà chúng ta đang tìm cách trình bày rõ ràng trong cuốn sách này.

Tuy nhiên, bước ngoặt của STS cũng mang tính bản thể luận theo nghĩa thứ hai, điều đó có lẽ đặc biệt hơn đối với lĩnh vực này (mặc dù như chúng ta sẽ thấy một số người ủng hộ bước ngoặt bản thể luận trong nhân học chia sẻ nó). Đối với STS, nếu cấu trúc hiện đại của tự nhiên so với các đại diện phải bị vượt qua, thì đó là bởi vì nó đi ngược lại với cái cách mà khoa học và công nghệ thực sự vận hành. Đặc biệt, nó che khuất những cách thức mà các thực hành khoa học và công nghệ tham gia vào chính cấu tạo của các đối tượng mà chúng tham gia (Pickering 1995; 2016). Nói cách khác, với tư cách là những định chế chứ không chỉ là những đại diện của thế giới, những thực tiễn này được hình dung tốt nhất như là những địa điểm trong đó các cấu hình và hiệu ứng bản thể luận cụ thể xuất hiện, tương tác với nhau, được cấu thành và biến đổi thông qua các thực tiễn và cơ sở hạ tầng vật chất-xã hội khác nhau. Phần lớn lý thuyết STS là về việc phân tích rõ ràng một khả tính như vậy và nghĩ ra các cách để theo dõi nó bằng thực nghiệm. Ở cấp độ phân tích, mối quan tâm hàng đầu là phân biệt ý tưởng cho rằng khoa học và công nghệ tạo ra định chế thế giới với quan niệm quen thuộc vào cuối thế kỷ 20 cho rằng thế giới [tr.39], bao gồm cả khoa học và công nghệ, là một chuỗi ‘các kiến tạo xã hội’ (xem thêm Hacking 1999; 2002). Các học giả STS lập luận rằng để nói về các kiến tạo xã hội (hoặc các kiến tạo văn hóa – vì mục đích hiện tại là như nhau), chỉ đơn giản là phê chuẩn hiến pháp hiện đại bằng cách giả định rằng sự biến đổi của thế giới phải được xác định dựa trên các đại diện xã hội hoặc văn hóa của nó; việc kiến tạo, nói cách khác, là một vấn đề quan điểm. Ngược lại, đối với STS, nếu thế giới được kiến ​​tạo bởi khoa học, hoặc bất kỳ thực tiễn nào khác của con người về vấn đề đó, thì đó là bởi vì các thực tiễn của con người tham gia vào chính sự cấu thành của nó bằng cách vượt qua sự phân chia bản thể luận giả định giữa họ và thế giới, qua đó hiến pháp hiện đại sẽ tìm cách ‘thanh lọc’ chúng (Latour 1993: 10–11). Do đó, thay cho kiến ​​tạo luận xã hội, STS thừa nhận bản hiến pháp của thế giới như một hoạt động kết-mở, được biểu diễn một cách đa dạng thông qua các cam kết và tương tác khác nhau, rất phức tạp và thường xuyên xung đột, giữa tất cả các thành phần của thế giới. Con người có thể đóng vai trò quan trọng như một phần của các chuỗi liên kết và phản ứng này (Michel Callon và nổi tiếng nhất là Bruno Latour đã gọi chúng là các ‘mạng’ – Callon & Latour 1981; Latour 1993; 1999; 2005; cf. 2013: 30–46 ), nhưng các vận hành và ‘tác tố’ của chúng chỉ có thể được hiểu trong mối quan hệ với trạng thái thừa mứa hỗn tạp của các thực thể không phải con người (các ‘tác nhân’ hoặc ‘diễn viên’ – Latour 2005: 54–5): tinh thần, động vật, ý tưởng, thể chế, chính trị, luật pháp, công nghệ, kỹ thuật, vật liệu, tác vật, sinh vật, phân tử – bất cứ sự vật gì hoạt động, tức là bất cứ sự vật gì tạo ra sự khác biệt đối với thực tiễn cụ thể được đề cập. ‘Lai’ cuối cùng là tất cả, các mạng này ‘đối xứng’ ở chỗ chúng từ chối tuân theo bất kỳ nguyên tắc phân chia nào giữa con người và không phải con người, cũng như chúng vượt qua các phân chia bản thể luận hệ quả giữa đại diện và thế giới, văn hóa và tự nhiên, v.v. (Latour 1993; xem 2005).

Kết quả cuối cùng là một hình ảnh về một thế giới luôn trong quá trình hình thành, mới nổi, chưa hoàn thiện, cũng mong manh và dễ thay đổi như các thực tiễn và các quá trình khiến nó tồn tại và duy trì nó, một cách bấp bênh, cùng nhau: một thế giới ‘đang cấu thành’ (Latour 2010b; Woolgar & Lezaun 2013: 322). Thật vậy, [tr.40] hệ quả triệt để hơn của điều này cũng thường được đưa ra: cụ thể là, trái ngược với bản thể luận ‘đơn tự nhiên’ của hiến pháp hiện đại, một thế giới được cấu thành như vậy, nghĩa là một thế giới luôn có thể được tái cấu thành, tốt nhất được hình dung dưới dạng vô số (ví dụ: Mol 2002). Các thực hành cục bộ hóa được cấu hình khác nhau sẽ có các hiệu ứng bản thể luận khác nhau, tạo ra các loại thực thể khác nhau, không có sơ đồ bản thể luận tổng thể nào để phân loại chúng theo một cách thống nhất (Jensen 2004; Gad & Jensen 2010). Trong những trường hợp như vậy, sẽ hợp lý hơn khi nói về thế giới ở số nhiều. Ví dụ, như được chế định trong các chuyến tham quan của khách du lịch, địa danh nổi tiếng ở sa mạc Úc, Ayers Rock, là một cái gì đó hoàn toàn khác với Uluru, như thổ dân gọi tảng đá này khi họ coi nó là tâm điểm của các thực hành nghi lễ đặc biệt và các câu chuyện thần thoại: cái ‘nó’ trong vấn đề này là hai (thực tế là nhiều hơn) sự vật khác nhau (Law 2004: 122–39). Thật vậy, như Law chỉ ra khi tham chiếu đến ví dụ đầy sắc thái chính trị này, luận điểm ‘đa thế giới’ hoặc ‘đa bản thể luận’ như vậy có những hậu quả sâu sắc đối với cách chúng ta nghĩ về chính trị, vì nó hàm ý rằng, không chỉ là xung đột ý kiến, quan điểm, niềm tin hay mức độ thuyết phục, tranh chấp chính trị là một ẩu đả về chính hiến pháp của thế giới – một vấn đề về các ‘bản thể luận chính trị’ (ví dụ: Verran 2014), ‘chính trị bản thể luận’ (ví dụ: Mol 1999) hoặc thậm chí là ‘chính trị vũ trụ’ (Latour 2004a; Stengers 2010). Chúng ta sẽ thấy rằng, khi thường áp dụng thuật ngữ này, trong nhân học, thì chính trị cũng là đặc điểm nổi bật trong các cuộc tranh cãi về bản thể luận.

Tuy nhiên, ở đây, chúng ta có thể lưu ý rằng các học giả STS đã phát triển một vốn từ vựng khái niệm phong phú để theo dõi bằng kinh nghiệm và để mở ra tính đa dạng của các vận hành bản thể luận này bằng thực nghiệm. Thật vậy, chất lượng đôi khi gây bối rối của các thuật ngữ mới của STS tương ứng với việc xuất phát điểm của nó từ hệ thống hiện đại của ‘lẽ thường’ bản thể luận, phát minh ra một ngôn ngữ mới một cách hiệu quả để nói về các lựa chọn thay thế khả dĩ cho nó. Vì vậy, bên cạnh vốn từ vựng tiêu chuẩn Latourian về mạng, các thể lai và các tác nhân, được chính thức hóa thành ‘Lý thuyết Mạng Tác nhân’ (ANT), chúng ta có ngày càng nhiều thuật ngữ lấy cảm hứng từ STS: người máy và tự nhiên-văn hóa (Haraway 1991), các tập hợp phương pháp (Law 2004), các thiết bị [tr.41] ghi (Latour & Woolgar 1986), các tính chuyển tiếp (Law 2000), các thể không thể quy giản (Latour 1988), các cắt xén thực tiễn (Pickering 1995), các thực hành (Mol 2002), các vướng víu (Barad 2007), các nếp gấp (Bowker 2009), các cơ sở hạ tầng (Jensen & Winthereik 2013; Jensen In press) và hơn thế nữa. Thậm chí hơn cả với OOO, sự gia tăng mạnh mẽ các khái niệm và quy trình phân tích này đồng cảm sâu sắc với dự án tái khái niệm hóa vốn là trung tâm của bước ngoặt bản thể luận trong nhân học như chúng ta hiểu về nó, và dòng cảm hứng giữa hai luồng tư duy này đã tưởng thưởng cho nhau và thường sinh lợi (ví dụ, xem Strathern 1996; Jensen & Rödje 2009; Latour 2010a; Jensen et al. 2011; Gad, Jensen & Winthereik 2015; Jensen 2012; Jensen & Morita 2012; Lien & Law 2011, 2012; Blaser 2014; Jensen 2014; Viveiros de Castro 2014; de la Cadena và cộng sự 2015; Walford 2015; Pickering 2016). Nhưng sự tương phản quan trọng với những người hiện thực luận tư biện và OOO là trong STS, những hành động khái niệm hóa này thường không được dự định là những khối đúc sẵn cho các khung bản thể luận mới để thay thế các giả định bản thể luận của cấu thành hiện đại. Thay vào đó, chúng được dự định là những thiết bị khái niệm để hủy bỏ những giả định thịnh hành này nhằm cho phép các khả tính ngẫu nhiên do các thế giới tạo ra trong quá trình xuất hiện. Woolgar và Lezaun đã sắc bén nhận định: “Khi đã phát triển khả năng phân tích nhạy cảm đặc trưng của mình trong một loạt các động thái giảm phát và lệch hướng, sẽ thật kỳ quặc nếu bây giờ STS bắt tay vào một dự án để ủng hộ phiên bản này hoặc phiên bản khác của bản thể luận. Thay vào đó…bước ngoặt sang bản thể luận trong STS có thể được hiểu rõ hơn với tư cách là một nỗ lực khác để áp dụng khẩu hiệu cốt lõi lâu đời của nó – ‘nó đã có thể khác đi’ – lần này là vào lĩnh vực của cái bản thể luận.” (2013: 322)

Do đó, trong khuôn khổ phần đã thảo luận của chúng ta, cái phân biệt bước ngoặt bản thể luận trong STS với biểu hiện của nó trong các xu hướng triết học gần đây là phẩm chất phương pháp luận và phản ánh triệt để của nó. Đối với hình thức và phương pháp tư duy nhân học mà cuốn sách này dành cho, nó không nhằm mục đích là một lý thuyết mà là một cách thức tiến hành – thực sự [tr.42] là một cách thức phá vỡ bằng thực nghiệm hiện trạng bản thể luận (xem Lynch 2013). Trong hàng loạt phiên bản mà dự án này đã sử dụng khối văn liệu STS, một số người đã đặc biệt cân nhắc về điểm này, khi trình bày các phân tích của họ như là những nỗ lực mang tính phản ánh nhằm thử nghiệm những cách hình dung mới lạ các tài liệu thực nghiệm khác nhau (ví dụ: Winthereik & Verran 2012; Morita 2013; Jensen In Press), nhiều điều mà chúng tôi mong muốn làm cho nhân học trong cuốn sách này. Ở một thái cực khác, phải thừa nhận rằng, có những học giả STS có ảnh hưởng, đã tiến gần hơn đến tinh thần của các loại lập luận triết học mà chúng ta đã xem xét trước đó, trình bày các phân tích của họ với tư cách là những đề xuất bản thể luận tích cực theo đúng nghĩa của họ, chân thực với cái thế giới hơn là thế giới hiện tồn – điển hình là các bản thể luận ‘hiện đại’, ‘Cartesian’ (ví dụ: Barad 2007; Pickering 2016; xem thêm DeLanda 2002; 2006).3 Tuy nhiên, có lẽ phần lớn văn liệu STS chiếm một vị trí hơi mơ hồ ở giữa hai cực này, tuy nhiên thường trộn lẫn việc nhấn mạnh vào tính mở về phương pháp luận thiên về loại bỏ định hướng thử nghiệm của chính nó để ủng hộ một hình ảnh có vẻ khá đồng dạng về thế giới trông thế nào và nó hoạt động ra sao - một thế giới của các thực tiễn và các định chế, bao gồm các tập hợp, các mạng và các mạch đệ quy, tác động lẫn nhau trong vô số quá trình trung gian và chuyển dịch.

Bất chấp các điểm hợp lưu cơ bản đã được đề cập, xu hướng này có thể chỉ ra rằng cũng có một sự khác biệt đáng kể giữa bước ngoặt bản thể luận, như chúng ta hiểu ở đây và cách tiếp cận STS tối thiểu trong một số phiên bản của nó. Vấn đề bắt nguồn từ vai trò của tính phản ánh [tr.43] trong cả hai trường hợp và đặc biệt là nó được thúc đẩy như thế nào. Như chúng ta đã thấy trong phần Giới thiệu, phiên bản của chúng ta về bước ngoặt bản thể luận cho thấy tầm quan trọng cốt yếu của tính phản ánh bởi vì nó coi nó như một điều kiện cơ bản về khả tính cho chính hành động mô tả nhân học. Theo quan điểm này, tính phảnánh không dựa trên một khẳng định trước nào đó về bản chất của các thực tại mà các nhà nhân học cổ vũ, mà được xem như một đặc điểm cần thiết của bản thân hành động mô tả nhân học. Nói một cách đơn giản: để mô tả những thứ mà mình chưa quen thuộc, chúng ta phải chú ý theo cách phản ánh đến các khái niệm chúng ta sử dụng và phải được chuẩn bị bằng thực nghiệm để tái cấu thành chúng. Ngược lại, có vẻ như đối với nhiều học giả STS, nhu cầu về tính phản ánh khái niệm trước hết không bắt nguồn từ yêu cầu cấp bách về phương pháp luận của việc mô tả, mà là từ một tập hợp hiểu biết trước đó về bản chất của thế giới (hoặc các thế giới), và những yêu cầu mà nó đặt ra đối với những nỗ lực của chính họ để xử lý nó. Đặc biệt, tính mở phương pháp luận đặc trưng và tính phản ánh khái niệm của hầu hết học thuật STS thường dựa trên một hình ảnh cụ thể về cấu thành bản thể luận của thế giới, theo đó thế giới tự mở và ở trạng thái tái tạo vĩnh viễn. Do đó, nếu các học giả STS nhận thấy cần phải thử nghiệm các từ vựng khái niệm mới, thì điều này thường là do họ coi các đối tượng mà họ mô tả – thế giới hoặc các thế giới – thuộc loại đòi hỏi các động thái phân tích phản ánh như vậy. Tuy nhiên, trong trường hợp ấy, những gì được trình bày như một lập luận bản thể luận, cơ bản mang tính phương pháp luận, phản xạ và gãy vỡ trong cấu thành, cuối cùng lại bị ép phục vụ cho một câu chuyện siêu hình có thẩm quyền về thế giới là như thế nào và nó vận hành ra sao. Một loại lý lẽ phương pháp luận được thực hiện để phục vụ cho một bước ngoặt bản thể luận, chứ không phải, với tư cách bước ngoặt bản thể luận ‘của chúng ta’ sẽ có theo cách khác. Thực hiện một bước khởi đầu mới cho dự án trí tuệ của riêng mình trong cuốn sách có tựa đề thú vị là Enquête sur les modes d'existence. Une anthropologie des Modernes - Khảo sát các Phương thức Tồn tại: Một loại Nhân học của Người Hiện đại (2013), bản thân Latour cũng gần như thừa nhận vấn đề này.

[Tr.44] Khi viết về một nhà nhân học tưởng tượng đang cố gắng lập biểu đồ cho chủ đề của mình (trong trường hợp này là ‘Những người Hiện đại’) bằng cách sử dụng các công cụ của ANT (Lý thuyết Mạng Tác nhân), ông nhận xét: [K]ẻ kia nghiên cứu các phân đoạn từ Luật, Khoa học, Kinh tế, hoặc Tôn giáo mà ả bắt đầu cảm thấy rằng mình đang nói gần như cùng một sự vật về tất cả chúng: cụ thể là chúng ‘được cấu tạo theo kiểu không đồng nhất của các yếu tố bất ngờ được tiết lộ bởi cuộc khảo sát’…. [H]ơi ngạc nhiên với ả, theo một cách nào đó, điều này lại chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì mỗi yếu tố đều bắt đầu gây ngạc nhiên theo cùng một cách. (2013: 34; nhấn mạnh bản gốc) Điều đáng nói nhất, có lẽ, là biện pháp khắc phục mà Latour đưa ra cho tình trạng khó khăn này, cụ thể là một cuộc khảo sát được dành một cách hiệu quả để vạch ra không gì khác hơn là toàn bộ cấu thành bản thể luận của xã hội hiện đại, điều chỉnh các nguyên tắc bản thể luận theo các ‘phân khúc’ của nó (Luật, Khoa học, Kinh tế...). Latour thừa nhận rằng với động thái này, ông đã thực sự ‘xuất hiện’ với tư cách là một triết gia – mặc dù, như ông nói, là một triết gia ‘thực nghiệm’ (Latour 2014a; xem Maniglier 2014 và Mol 2002; xem thêm Berliner et al. 2013) – tham gia vào, mặc dù trong trường hợp của ông vẫn còn đa dạng hóa triệt để, các đại dự án về bản thể luận với tư cách là một vấn đề giải quyết siêu hình. Thật vậy, đây chính xác là cách mà các nhà triết học đón nhận ông, và nhất là những người liên quan đến OOO (ví dụ: xem Harman 2009; Foster 2011). Có thể là như vậy, và mặc dù thực tế là có rất ít học giả STS đã cùng ông trong chuyến đi này, chúng tôi vẫn cho rằng việc Latour trượt từ tình trạng gãy vỡ về phương pháp luận sang việc xây dựng mô hình siêu hình học không phải là ngẫu nhiên: Nó thể hiện rõ ràng một tiền đề bản thể luận luôn ẩn giấu trong tung thâm của phần lớn văn liệu về STS, đánh dấu một cách hiệu quả các giới hạn của nó như một dự án phản ánh. Theo hình ảnh Geertzian của chúng tôi trong chương trước, với STS, đó là tính phản ánh, vâng, nhưng không nhất thiết hoàn toàn là tận cùng.

___________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Holbraad, Martin and Morten Axel Pedersen (2017). Other Ontological Turns, In Book The Ontological Turn An Anthropological Exposition, Cambridge University Press.

Notes

1 To be sure, we shall be seeing at certain points in chapters to follow, the reflexive project of conceptualization on which this anthropological approach centres does draw some of its inspiration from philosophical ideas and proposals. And conversely, it is worth noting that the interest anthropologists of the ontological turn have shown in philosophy has been to a certain extent reciprocated. As Tanya Luhrmann has noted (2013), contemporary discussions about ontology in anthropology can be compared to notorious debates about rationality in the 1960s and 70s, in which a number of philosophers engaged in a lively dialogue with anthropologists in entertaining the possibility of alternative forms of reasoning of the kind Evans-Pritchard, most emblematically perhaps, had sought to articulate for Zande witchcraft (1937; e.g. see Winch 1967; Wilson 1974). While the rationality debate had a clear epicentre in Britain, recent philosophical interest in anthropologists’ turn to ontology has come from more diverse sources, crossing even the proverbial divide between Analytical and Continental traditions (e.g. compare Paleček & Risjord 2013 and Sivado 2015 with Watson 2014, Surel 2014, Maniglier 2014, and Charbonnier et al. 2016). It should be noted that these debates have been conducted largely independently from the classic conversation between philosophers and social scientists about the ontology of social phenomena (e.g. Weber 1968; Durkheim 1982; Elster 1982), which in recent years has continued into philosophical and social theoretical discussions about ‘social ontologies’ (e.g. Searle 1995; 2006; Marcoulatos 2003; Friedman 2006; Fullbrook 2008; Lawson 2012).

2 Again, this is not offered as a philosophical thesis about the relationship between ontological assumptions, concepts and definitions, much less as an attempt to delineate the proper remit of ontology or metaphysics. This is a task for philosophers (e.g. Honderich 1995: 634). Ours is only an attempt to articulate clearly how the particular manner of anthropological analysis in which we are interested in this book operates, this being a point of anthropological methodology par excellence.

3 Note the deliberate play here on the double meaning of the verb ‘to experiment’ as rigorous scientific method and open-ended exploration, respectively. Indeed, the notion of experimentation suggested here would seem to be fundamentally at odds with conventional understandings among scholars and laymen alike of what constitutes a proper experiment in the natural (and indeed the social) sciences. After all, is scientific experimentation not widely defined as the quest for repeatable results through the setting up of controlled experimental environments that allow for the reproduction of ‘invariance’ and ‘limited variables’ over time? And does our vision for an experimental anthropology not represent an exact opposite ideal by advocating for maximal variance and the production of singular, non-repeatable results? To a significant extent, yes; but there are nevertheless grounds for arguing that what we are proposing here may be said to be experimental also in a more scientific sense. For one thing, as Latour has pointed out, there is in fact ‘little difference between observation and experiment… An observation is an experiment where the body of the scientist is used as instrument, complete with its writing device, the hand….It does not matter if [one] has an instrument…or….huge laboratory-like paraphernalia’ (1990: 57). What is more, as Latour also points out, ‘nothing proves that an experiment is a zero-sum game. On the contrary, every difficulty [encountered by experimental scientists] suggests that an experiment is an event….and not a discovery, an uncovering, an imposition, a synthetic a priori judgement, the actualization of a potentiality, and so on’ (1990: 65–6). In other words, although it may not appear to do so (not even to its practitioners), ethno-graphic fieldwork – including the criteria of evidence associated with it (Engelke 2008) – arguably is a distinct mode of (self)-experimental research practice. In fact, if we are to follow the historian and philosopher of science Hans Rheinberger, the anthropological method possesses several advantages when held up against other, more laboratory-based ‘research systems’ (to borrow Rheinberger’s term), notably the capacity to perpetually remain, as he puts it, ‘young ’: (1994). After all, proposes Rheinberger, ‘[r]esearch systems….are characterized by a kind of differential reproduction by which the generation of the unknown becomes the reproductive force of the whole machinery. As long as this works, the system so to speak remains “young.” “Being young”, then, is not here a result of being near zero on the time scale; it is a function if you will of the functioning of the system. The age of such a system is measured by its capacity to produce differences that count as unprecedented events and keep the machinery going’ (1994: 68; emphasis added).

References

Barad, Karen. 2007. Meeting the Universe Halfway: Quantum Physics and the Entanglement of Matter and Meaning. Durham, NC:Duke University Press.

Berliner, David, Laurent Legrain and Mattijs van de Por. 2013. ‘Bruno Latour and the anthropology of the moderns’. Social Anthropology 21 (4): 435– 47.

Blaser, Mario. 2014. ‘The political ontology of doing difference and sameness.’ Theorizing the Contemporary, Cultural Anthropology website, January 13, 2014. https://culanth .org/ fieldsights/ 474-the-political-ontology-of-doing-difference-and-sameness

Bogost, Ian. 2012. Alien Phenomenology, or What It’s Like Be a Thing (Posthumanities). Minneapolis: University of MinnesotaPress.

Bowker, Geoffrey C. 2009. ‘A plea for pleats’, in C. B. Jensen and K. Rödje (eds.), Deleuzian Intersections: Science, Technology, Anthropology, pp. 123–38. New York: Berghahn.

Callon, Michel and Bruno Latour. 1981. ‘Unscrewing the big Leviathan; or how actors macrostructure reality, and how sociologists help them to do so?’, in K. Knorr and A. Cicourel (eds.), Advances in Social Theory and Methodology, pp. 277–303. London: Routledge and Kegan Paul.

De la Cadena, Marisol, Marianne E. Lien, Mario Blaser, Casper Bruun Jensen, Tess Lea, Atsuro Morita, Heather Swanson, Gro Ween, Paige West and Margaret Wiener. 2015. ‘Anthropology and STS: generative interfaces’. Hau: Journal of Ethnographic Theory 5 ( 1 ):437– 75 .

De Landa, Manuel. 2002. Intensive Science and Virtual Philosophy. London: Continuum.

De Landa, Manuel. 2006 . A New Philosophy of Society: Assemblage Theory and Social Complexity. London & NewYork: Continuum.

Deleuze, Gilles and Felix Guattari. 1994. What is Philosophy?. Translated by Graham Bell and Hugh Tomlinson. London: Verso.

Foster, Jay. 2011. ‘Ontologies without metaphysics: Latour, Harman and the philosophy of things’. Analecta Hermeneutica 3: 1 –26.

Gad, Christopher and Casper Bruun Jensen. 2010. ‘On the consequences of post-ANT’. Science, Technology and Human Values 19: 55–80.

Gad, Christopher, Casper Bruun Jensen and Brit Ross Winthereik. 2015. ‘Practical ontology: Worlds in STS and anthropology.’ Nature Culture 3:1–24.

Graeber, David. 2015. ‘Radical alterity is just another way of saying “reality”: a reply to Eduardo Viveiros de Castro’. Hau: Journal of Ethnographic Theory 5 (2): 1 –41.

Hacking, Ian. 1999. The Social Construction of What? Cambridge, MA: Harvard University Press.

Hacking, Ian. 2002. Historical Ontology. Cambridge, MA:Harvard University Press.

Haraway, Donna J. 1991. ‘A cyborg manifesto: science, technology and socialist feminism in the late twentieth century’, in D. Haraway (ed.), Simians, Cyborgs and Women: The Reinvention of Nature, pp. 149–81. London:Free Association Books.

Harman, Graham. 2009. Prince of Networks: Bruno Latour and Metaphysics. Melbourne: re. press.

Harman, Graham. 2010. Towards Speculative Realism: Essays and Lectures. Hants, UK :Zero Books.

Holbraad, Martin and Morten Axel Pedersen. 2009. ‘Planet M: The intense abstraction of Marilyn Strathern’. Anthropological Theory 9 (4): 371–94.

Jensen, Casper Bruun 2004. ‘A nonhumanist disposition:on performativity, practical ontology, and interventions’. Configurations 12 (2):229–61.

Jensen, Casper Bruun 2012. ‘Proposing the motion: “the task of anthropology is to invent relations” ’. Critique of Anthropology 32 :47 –53 .

Jensen, Casper Bruun 2013. ‘Two forms of the outside. Castaneda, Blanchot, ontology’. HAU: Journal of Ethnographic Theory 3 (3):309–35.

Jensen, Casper Bruun 2014a. ‘Practical Ontologies.’ Theorizing the Contemporary, Cultural Anthropology website, January 13, 2014. https://culanth.org/fieldsights/466- practical-ontologies.

Jensen , Casper Bruun 2014b. ‘Experiments in good faith and hopelessness. Toward a postc ritical social science’. Common Knowledge 20 (2): 337–362.

Jensen , Casper Bruun In press. ‘Multinatural infrastructures: the many natures and cultures of Phnom Penh’s sewage system’, in P. Harvey, C. B. Jensen and A. Morita (eds.), Infrastructures and Social Complexity: A Routledge Companion. London and New York. Routledge.

Jensen, Casper Bruun and Kjetil Rödje (eds.). 2009. Deleuzian Intersections in Science, Technology and Anthropology. Oxford: Berghahn.

Jensen, Casper Bruun and Atsuro Morita (eds.). 2012. ‘Anthropology as critique of reality: a Japanese turn’. Forum in HAU: Journal of Ethnographic Theory 2 (2): 358–405.

Jensen, Casper Bruun, Morten A. Pedersen and Brit R. Winthereik (eds.). 2011. ‘Comparative Relativism’, special issue of Common Knowledge 17(1).

Jensen, Casper Bruun and Brit Ross Winthereik. 2013. Monitoring Movements in Development Aid: Recursive Infrastructures and Partnerships. Cambridge, MA: MIT Press.

Laidlaw, James. 2012. ‘Ontologically challenged’. Anthropology of this Century 4, Available at: http://aotcpress.com/articles/ontologically-challenged (accessed 22 April 2015).

Latour, Bruno. 1988. Irréductions . Published with The Pasteurization of France. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Latour, Bruno. 1990. ‘The force and the reason of experiment’, in H. E. Le Grand (ed.), Experimental Inquiries, pp. 49–80. Dordrecht, Netherlands: Kluwer Academic Publishers.

Latour, Bruno. 1993. We Have Never Been Modern. Translated by Catherine Porter. London: Prentice-Hall.

Latour, Bruno. 1999. Pandora’s Hope: Essays on the Reality of Science Studies. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Latour, Bruno. 2004a. ‘Whose cosmos, whose cosmopolitics? Comments on the peace terms of Ulrich Beck’. Common Knowledge 10 (3): 450– 92.

Latour, Bruno. 2004b. ‘“Não congelarás a imagem”, ou: como não desentender o debate ciência-religião’. Mana 10 (2): 349– 76.

Latour, Bruno. 2004c. Why has critique run out of steam? from matters of fact to matters of concern. Critical Inquiry 30 (2): 225 – 48.

Latour, Bruno. 2005. Reassembling the Social: An Introduction to Actor-Network-Theory. Oxford: Oxford University Press.

Latour, Bruno. 2009. ‘Perspectivism: type or bomb?’ Anthropology Today 25 (2): 1–2.

Latour, Bruno. 2010a. On the Modern Cult of the Factish Gods. Durham, NC and London: Duke University Press.

Latour, Bruno. 2010b. ‘An attempt at a “compositionist manifesto”’. New Literary History 41: 471– 90.

Latour, Bruno. 2013. An Inquiry into Modes of Existence: An Anthropology of the Moderns. Translated by Cathy Porter. Cambridge, MA.: Harvard University Press.

Latour, Bruno. 2014a. ‘What is the style of matters of concern’, in N. Gaskill and A. J. Nocek (eds.), The Lure of Whitehead, pp. 92–127. Minnesota: University of Minnesota Press.

Latour, Bruno. 2014b. ‘Agency at the time of the anthropocene’. New Literary History 45 (1): 1-18.

Latour, Bruno, and Steve Woolgar. 1986. Laboratory Life: The Construction of Scientific Facts. Princeton, NJ: Princeton University Press.

Law, John. 2000. ‘Transitivities’. Society and Space 18:133–48.

Law, John. 2004. After Method: Mess in Social Science Research. London and NewYork: Routledge.

Lien, Marianne and John Law. 2011. ‘“Emergent Aliens”:on salmon, nature, and their enactment’. Ethnos 76 (1): 65–87.

Lien, Marianne and John Law. 2012. ‘Slippery: field notes on empirical ontology’. Social Studies of Science. 43 (3):363–78.

Lynch, Michael. 2013. ‘Ontography: investigating the production of things, deflating ontology’. Social Studies of Science 43 (3): 444– 62.

Maniglier, Patrice. 2014. ‘A metaphysical turn? Bruno Latour’s “An Inquiry into Modes of Existence”’. Radical Philosophy 187: 37–44.

Meillassoux, Quentin. 2008. After Finitude: An Essay on the Necessity of Contingency. New York: Continuum.

Mol, Annemarie. 1999. ‘Ontological politics: a word and some questions’, in J. Law and J. Hassard (eds.), Actor Network Theory and After, pp. 74 –89. Oxford and Keele: Blackwell and the Sociological Review.

Mol, Annemarie. 2002. The Body Multiple: Ontology in Medical Practice. Durham, NC and London: Duke University Press.

Morita, Atsuro. 2013. ‘The ethnographic machine: experimenting with context and comparison in Strathernian ethnography’. Science, Technology, & Human Values 39 (2): 214–35.

Morton, Timothy. 2013. Hyperobjects Philosophy and Ecology after the End of the World. Minneapolis, MN: University of Minnesota Press.

Pickering, Andrew. 1995. The Mangle of Practice: Time, Agency and Science. Chicago and London: University of Chicago Press.

Pickering, Andrew. 2016. ‘The ontological turn: taking different worlds seriously’. Available at: https:// architecture.mit.edu/ sites/ architecture.mit.edu/ files/ attachments/ lecture/ tokyo-rev-(accessed 31 August 2016)

Salmond, Amiria. 2014 . ‘Transforming translations (part 2): addressing ontological alterity’. HAU: Journal of Ethnographic Theory 4 (1): 155–87.

Shapin, Steven and Simon Schaffer. 1985. Leviathan and the Air Pump: Hobbes, Boyle and the Experimental Life. Princeton, NJ: Princeton University Press.

Stengers , Isabelle. 2010. Cosmopolitics I. Minneapolis, MN: University of Minnesota Press.

Strathern, Marilyn 1996. ‘Cutting the network’. Journal of the Royal Anthropological Institute (N.S.) 2 (3): 517– 35.

Viveiros de Castro, Eduardo. 2009. ‘Intensive filiation and demonic alliance’, in C. B. Jensen and K. Rödje (eds.), Deleuzian Intersections in Science, Technology and Anthropology, pp. 219–55. Oxford: Berghahn Books.

Viveiros de Castro 2014. Cannibal Metaphysics: For a Post-Structural Anthropology. Translated and edited by Peter Skafish. Minneapolis, MN: Univocal Publishing.

Walford, Antonia. 2015. ‘Double standards: examples and exceptions in scientific meteorological practice in Brazil’. Journal of the Royal Anthropological Institute (N.S.)21 (S1 ): 64 –77.

Winthereik, Brit R. and Helen Verran. 2012. ‘Stories as generalizations that intervene’. Social Science Studies 25 (1): 37 –51.

Woolgar, Steve and Javier Lezaun. 2013. ‘The wrong bin bag: a turn to ontology in science and technology studies?’ Social Studies of Science 43 (3): 321–40.