Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’
‘Vấn đề về Realität ‘Hiện thực’—hiểu theo nghĩa câu hỏi liệu một thế giới bên ngoài có hiện-diện-vô-tri hay không và liệu thế giới đó có thể được chứng minh hay không—hóa ra lại là một vấn đề bất khả thi; không phải vì các hệ quả của nó dẫn đến những bế tắc không thể tháo gỡ, mà bởi vì chính cái thực thể đóng vai trò là chủ đề của vấn đề này lại là thứ, có thể nói, khước từ mọi cách đặt vấn đề như vậy. [Chen ngang: Realität Trong triết học của Martin Heidegger là Hiện thực. Ý nghĩa cốt lõi của Realität – Bản chất của các khách thể hiện-diện-vô-tri: Heidegger định nghĩa Realität theo nghĩa hẹp là phương thức tồn tại đặc thù của các vật thể vật lý đơn thuần vorhanden hiện-diện-vô-tri—chẳng hạn như một hòn đá tự nhiên hay một vật thể vật lý chưa được sử dụng và bị nhìn nhận một cách tách biệt. Phân biệt với Sein Hữu thể - Heidegger coi Realität Hiện thực là một khái niệm phái sinh thay vì là nền tảng tối hậu của triết học. Đối với ông, triết học truyền thống đã sai lầm khi cố gắng chứng minh hoặc đo lường Hiện thực bằng cách quan sát các khách thể tách biệt, mà quên đi bối cảnh sống động và rộng lớn hơn của tồn tại người. Các khái niệm tiếng Đức quan trọng có liên quan: Sein Hữu thể: Chân trời hoặc tiến trình nền tảng mà qua đó bất cứ điều gì—bao gồm cả Hiện thực —trở nên có ý nghĩa đối với chúng ta. Dasein: Thuật ngữ của Heidegger chỉ tồn tại người. Chúng ta không chỉ nhìn chằm chằm vào một ‘Hiện tại’ tĩnh từ bên ngoài; về cơ bản, chúng ta In-der-Welt-sein ở trong thế giới. Wahrheit - Chân lý với tư cách là Aletheia Bộc lộ/Không che giấu - thay vì định nghĩa chân lý là một hình ảnh trong tâm trí tương ứng với một ‘Hiện thực’ bên ngoài, Heidegger xem chân lý là sự thật mà tại đó các thực thể lần đầu tiên trở nên hiển lộ hoặc được phơi bày trước nhận thức của con người. - HHN]. Nhiệm vụ của chúng ta không phải là chứng minh rằng một ‘thế giới bên ngoài’ đang hiện-diện-vô-tri hay chỉ ra cách thức nó hiện-diện-vô-tri, mà là làm rõ lý do tại sao Dasein—với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới—lại có khuynh hướng vùi lấp ‘thế giới bên ngoài’ vào hư vô xét về mặt ‘nhận thức luận’ trước khi tiến hành chứng minh nó.1 Lý do nằm ở tình trạng sa ngã của Dasein và ở cách mà sự thấu hiểu bản nguyên về Hữu thể đã bị chuyển hướng sang quan niệm về Hữu thể như là hiện-diện-vô-tri—một sự chuyển hướng bắt nguồn từ chính tình trạng sa ngã đó. Nếu ta đặt câu hỏi một cách ‘có tính phê phán’ với định hướng bản thể luận như vậy, thì điều duy nhất ta tìm thấy đang hiện-diện-vô-tri và được coi là chắc chắn ngay lập tức lại là một cái gì đó thuần túy ‘nội tại’. Sau khi hiện tượng nguyên thủy về Hữu-thể-trong-thế-giới bị phá vỡ, chỉ còn lại chủ thể bị cô lập, và chính chủ thể này trở thành cơ sở để kết nối với một ‘thế giới’.
Trong cuộc khảo sát này, chúng ta không thể bàn luận chi tiết về vô số nỗ lực giải quyết ‘vấn đề về Hiện thực’ vốn đã phát triển trong các hình thái khác nhau của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa duy tâm, cũng như trong các quan điểm trung gian giữa chúng. Chắc chắn rằng mỗi quan điểm này đều chứa đựng một phần của sự truy vấn đích thực; tuy nhiên, dù điều đó là hiển nhiên, thì vẫn sẽ thật sai lầm nếu ta cố gắng đạt được một giải pháp thỏa đáng cho vấn đề này chỉ bằng cách tính toán xem mỗi trường hợp có bao nhiêu điểm đúng đắn. Điều thực sự cần thiết là một sự thấu hiểu cơ bản: mặc dù các khuynh hướng nhận thức luận khác nhau đã được theo đuổi không đi quá xa phạm vi nhận thức luận, nhưng việc chúng bỏ qua bất kỳ existential analytic phân tích hữu thể nào về Dasein thì đều ngăn cản chúng thiết lập cơ sở cho một vấn đề hiện tượng luận vững chắc. Cơ sở ấy cũng không thể đạt được bằng cách bổ sung các điều chỉnh hiện tượng học vào các khái niệm về chủ thể và ý thức sau khi đã hình thành lý thuyết. Một quy trình như vậy không đảm bảo [tr.251] được rằng cách đặt vấn đề sai lệch ban đầu sẽ không tiếp tục tồn tại. Cùng Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, các thực thể trong-thế-giới cũng đã được hiển lộ ngay từ đầu. Khẳng định existential-ontological mang tính hữu thể-bản thể luận này dường như phù hợp với luận điểm của chủ nghĩa hiện thực rằng thế giới bên ngoài Thực sự hiện-diện-vô-tri. Chừng nào existential assertion khẳng định hữu thể này không phủ nhận việc các thực thể trong-thế-giới là hiện-diện-vô-tri, thì xét về mặt kết quả, nó có sự tương đồng—có thể nói là tương đồng về mặt ghi nhận quan điểm—với luận điểm của chủ nghĩa hiện thực. Tuy nhiên, nó khác biệt về nguyên tắc so với mọi hình thái chủ nghĩa hiện thực; bởi lẽ chủ nghĩa hiện thực cho rằng Thực tại của "thế giới" không chỉ cần được chứng minh mà còn có thể chứng minh được. Trong khẳng định hiện sinh, cả hai quan điểm này đều bị phủ nhận trực tiếp. Nhưng điều thực sự phân biệt khẳng định này với chủ nghĩa hiện thực chính là việc chủ nghĩa hiện thực thiếu vắng sự thấu hiểu về mặt bản thể luận. Quả thật, chủ nghĩa hiện thực giải thích Thực tại ở cấp độ ontic thực hữu thông qua các mối liên hệ thực sự tương tác giữa các sự vật mang tính thực tại.
So với chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa duy tâm—dù kết quả có thể trái ngược và không vững chắc đến đâu chăng nữa—thì nó vẫn có lợi thế về mặt nguyên tắc, miễn là nó không tự hiểu sai bản thân mình là chủ nghĩa duy tâm ‘tâm lý học’. Nếu chủ nghĩa duy tâm nhấn mạnh rằng Hữu thể và Hiện thực chỉ tồn tại ‘trong ý thức’, thì điều này thể hiện một hiểu biết về sự thật là Hữu thể không thể được giải thích thông qua các thực thể. Tuy nhiên, chừng nào chủ nghĩa duy tâm còn chưa làm sáng tỏ ý nghĩa bản thể luận của chính hiểu biết về Hữu thể này, hay cách thức mà hiểu biết đó là khả thể, hoặc việc nó thuộc về trạng thái Hữu thể của Dasein, thì phép Diễn giải về Thực tại do chủ nghĩa duy tâm kiến tạo vẫn chỉ là một diễn giải rỗng tuếch. Dẫu vậy, cái sự thật là Hữu thể không thể được giải thích thông qua các thực thể và việc Hiện tại trở nên khả thể chỉ trong hiểu biết về Hữu thể lại không hề miễn trừ chúng ta khỏi việc truy vấn về cái Hữu thể của ý thức—tức của tự thân res cogitans cái . [Chen ngang: Trong tiếng Latinh, res cogitans được dịch theo nghĩa đen là ‘vật tư duy’ hay ‘thực thể tư duy’; đây là thuật ngữ nổi tiếng được René Descartes sử dụng để định nghĩa tâm trí hoặc linh hồn như một thực thể phi vật chất, tách biệt khỏi res extensa vật chất hữu hình. Tuy nhiên, đối với Heidegger, thuật ngữ này đại diện cho một điểm mù quan trọng trong lịch sử triết học phương Tây. Heidegger phê phán quan niệm về res cogitans của Descartes bằng cách lập luận rằng: i) Mặc dù ông đã định nghĩa tâm trí là một vật tư duy, nhưng ông lại hoàn toàn bỏ qua việc xem xét phương thức Sein Hữu thể thuộc về nó; ii) Descartes đã mặc nhiên chấp nhận ý nghĩa của ‘hiện hữu’ mà không đặt câu hỏi; iii) Ông đã phân tách riêng rẽ Chủ thể - Khách thể - bằng cách coi con người chủ yếu như một res một ‘vật’ hay thực thể hiện- diện-vô-tri, Descartes đã trói buộc triết học vào một thuyết nhị nguyên chủ thể - khách thể cứng nhắc; iv) Ông đã bỏ qua Dasein – trong khi đó đối với Heidegger, thay vì coi con người là một ‘vật tư duy’ tĩnh tại, ông cho rằng Dasein chính hiện hữu người—được đặc trưng không phải bởi những suy nghĩ nội tại biệt lập, mà bởi In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới, và Sorge sự chăm lo mang tính thời gian; v) Khái niệm res cogitans của Descartes đã che lấp thực tại sống động và đầy tính tương quan này bằng cách biến tồn tại thành một chiếc hộp chứa đựng các trạng thái tinh thần khép kín.-HHN]. Nếu muốn tuân thủ một cách nhất quán luận điểm của chủ nghĩa duy tâm, thì việc phân tích bản thể luận về tự thân ý thức sẽ trở thành một nhiệm vụ tiên quyết và tất yếu. Chỉ vì Hữu thể ‘nằm trong ý thức’—nghĩa là chỉ vì nó có thể được thấu hiểu trong Dasein—nên Dasein mới có thể thấu hiểu và khái niệm hóa các đặc tính của Hữu thể như tính độc lập, tính ‘tự-thân’ và Thực tại nói chung. Cũng chính nhờ điều đó mà các thực thể ‘độc lập’—khi được bắt gặp trong-thế-giới, mới có thể trở thành đối tượng cho sự quan sát cẩn trọng xung quanh.
Nếu nội hàm của thuật ngữ ‘chủ nghĩa duy tâm’ là sự thấu hiểu rằng Hữu thể không bao giờ có thể được giải thích bằng các thực thể, mà bản thân nó vốn dĩ đã mang tính ‘siêu nghiệm’ đối với mọi thực thể, thì chủ nghĩa duy tâm mang lại khả tính đúng đắn duy nhất cho vấn đề triết học. Nếu vậy, Aristotle cũng là một nhà duy tâm không kém gì Kant. Tuy nhiên, nếu ‘chủ nghĩa duy tâm’ biểu đạt ý nghĩa quy mọi thực thể về một chủ thể hoặc ý thức mà những đặc điểm phân biệt duy nhất là cái mà nó vẫn bất định trong Hữu thể của nó và thường được mô tả phủ định rõ ràng nhất [tr.252] là un-dinglich ‘không-phải-Sự-vật’—thì phương pháp của chủ nghĩa duy tâm này cũng ngây thơ chẳng kém gì chủ nghĩa duy thực cực đoan và thô thiển nhất. [Chen ngang: un-dinglich/undinghaft/nicht dinglich không-phải-Sự-vật: Trong triết học của Heidegger, cụm từ tiếng Anh ‘un-Thing-like’ phi-vật-thể/không mang tính vật thể tương ứng với thuật ngữ tiếng Đức un-dinglich hoặc undinghaft/ nicht dinglich. Thuật ngữ này ám chỉ trực tiếp đến các thực tại, thực thể hoặc các phương thức hiện hữu không thể được hiểu như những Dinge ‘vật thể’ tĩnh, mang tính vật lý hay bị khách thể hóa. Để nắm bắt trọn vẹn ý nghĩa của Heidegger về khái niệm ‘phi-vật-thể’ un-Thing-like, cần xem xét cách ông phê phán triết học truyền thống cũng như cách ông sử dụng thuật ngữ tiếng Đức: 1). Ý nghĩa cốt lõi - Bác bỏ mô hình ‘Vật thể’ - Triết học phương Tây truyền thống có thói quen lâu đời là coi mọi thứ—bao gồm cả ý thức con người, thời gian và ý nghĩa—như thể chúng là những Dinge ‘vật thể’, những đối tượng hay thực thể hiện hữu trong thế giới, chờ đợi được đo đạc. Khi Heidegger mô tả một điều gì đó là un-Thing-like ‘phi-vật-thể’, có nghĩa là ông cảnh báo chúng ta không được đối xử với nó như một vật thể vật lý. Một thứ gì đó không mang tính chất của một ‘vật’ - Không thể bị khoa học phân tách thành các thành phần vật chất. Không có các thuộc tính tĩnh tại, có thể đo lường được - như trọng lượng, màu sắc hay kích thước vật lý. 2) Mang tính động, tính quan hệ hoặc tính trải nghiệm hơn là tính thực thể: Các ví dụ điển hình về khái niệm ‘không mang tính vật thể’: Heidegger áp dụng khái niệm này vào những yếu tố quan trọng nhất trong triết học của mình, đó là Dasein hiện hữu người - tôi không phải là một ‘vật thể’. Con người không thể được thấu hiểu theo cùng cách ta hiểu về một hòn đá hay một chiếc ghế. Tồn tại của chúng ta được định hình bởi các khả tính, quan tâm/chăm lo và kiến tạo ý nghĩa cho thế giới—những cấu trúc hoàn toàn không mang tính chất của một vật thể. 3) Welt Thế giới và các cách biểu nghĩa - Trong đời sống thường nhật, chúng ta không tiếp nhận một căn phòng như là tập hợp các ‘vật thể’; thay vào đó, chúng ta trải nghiệm một mạng lưới các ý nghĩa và chức năng - ví dụ ô cửa là một ‘lời mời gọi bước qua’, chứ không chỉ đơn thuần là một tấm gỗ. Heidegger lưu ý rằng cấu trúc cơ bản của thế giới chúng ta bao gồm các sự quy chiếu và các mối quan hệ—những yếu tố không mang tính chất của một un-thing-like ‘vật thể’. Sein/Being Hữu thể - là ‘ánh sáng’ hay Lichtung Mở sáng cho phép các vật thể vật lý xuất hiện ngay từ đầu. Vì Hữu thể là cái làm cho sự vật trở nên hữu hình, nên bản thân Hữu thể không thể là một ‘vật thể’ được. Nó hoàn toàn không mang tính chất của một vật thể. 4) Các thuật ngữ tiếng Đức liên quan cần biết: i) Khái niệm un-Thing-like ‘không mang tính vật thể’ này đối lập hoặc giao thoa với các khái niệm cụ thể sau đây trong tiếng Đức: Dinglich / Dinglichkeit - mang tính vật thể / Tính vật thể. Trạng thái của việc là một vật thể vật lý hoặc một thực thể vật chất – Verdinglichung/ reification - Sự vật hóa nghĩa đen là biến thành vật thể. Sai lầm khi biến một khái niệm trừu tượng hoặc một trải nghiệm của con người thành một ‘vật thể’ vật lý. Unding - Một ‘phi-vật’ hoặc ‘cái-không-phải-là-vật’. Heidegger sử dụng từ này một cách sáng tạo để mô tả một điều gì đó nằm ngoài sự vật hóa truyền thống hoặc kháng cự lại việc bị gói gọn trong các định nghĩa khoa học.-HHN]
Người ta vẫn có thể ưu tiên vấn đề về Thực tại hơn là bất kỳ định hướng nào dựa trên các ‘quan điểm’, bằng cách duy trì luận điểm cho rằng mỗi chủ thể chỉ là chính nó khi đối diện với một Khách thể, và ngược lại. Tuy nhiên, trong cách tiếp cận hình thức này, các thuật ngữ được tương quan với nhau như vậy—cũng như chính mối tương quan đó—vẫn chưa được xác định rõ ràng về mặt bản thể luận. Xét đến cùng, toàn bộ mối tương quan này tất yếu được tư duy như là cái gì đó ‘có’ (hiện hữu) theo một cách nào đó, và do đó, nó phải được tư duy trong mối liên hệ với một ý niệm xác định về Hữu thể. Tất nhiên, nếu nền tảng hữu thể-bản thể luận đã được xác lập vững chắc từ trước thông qua việc làm sáng tỏ Hữu-thể-trong-thế-giới, thì mối tương quan này là điều mà sau đó ta có thể nhận biết như một mối quan hệ đã được hình thức hóa, chưa có sự phân biệt về mặt bản thể luận. Việc chúng ta thảo luận về những tiền giả định chưa được diễn giải tường minh trong các nỗ lực giải quyết vấn đề Thực tại theo những cách thuần túy ‘nhận thức luận’ cho thấy rằng vấn đề này—như một vấn đề bản thể luận— cần phải được quay trở lại với phạm vi phân tích hữu thể về Dasein.xvi
(b) Thực tại như một Vấn đề Bản thể luận
Nếu thuật ngữ ‘Thực tại’ được dùng để chỉ cái Hữu thể của các thực thể hiện-diện-vô-tri bên trong thế giới (res) (và không được hiểu theo điều gì khác), thì khi phân tích phương thức Hữu thể này, điều đó cho thấy các thực thể bên-trong-thế-giới chỉ có thể được hiểu về mặt bản thể luận nếu hiện tượng ‘tính-bên-trong-thế-giới’ (within-the-world-ness) đã được làm sáng tỏ. [Chen ngang: Theo Heidegger, thuật ngữ Innerweltlichkeit/ innerhalb der Welt ‘tính-bên-trong-thế-giới’ nghĩa là hiện hữu bên trong thế giới. Trong tiếng Đức, Innerweltlichkeit theo nghĩa đen là ‘tính chất thuộc về bên trong thế giới’ hay trạng thái hiện hữu ‘bên trong thế giới’. Thuật ngữ này mô tả phương thức hiện hữu đặc thù của các Seiendes hiện hữu mà chúng ta bắt gặp bên trong thế giới sống của mình - chẳng hạn như các công cụ ta sử dụng, thiên nhiên, hay những kẻ khác - chứ không phải mô tả cấu trúc của chính thế giới đó. Heidegger lập luận rằng các thực thể bên-trong-thế-giới này chỉ mang ý nghĩa về mặt bản thể luận—chúng chỉ có thể ‘xuất hiện’ hoặc được thấu hiểu—bởi vì Dasein hiện hữu người vốn đã mang cấu trúc nền tảng là In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới. Tóm lại, Innerweltlichkeit hoàn toàn phụ thuộc vào hiện tượng tiên khởi về thế giới mà Dasein cư ngụ và khai mở.- HHN]. Song, tính-bên-trong-thế-giới lại dựa trên hiện tượng ‘thế giới’; mà bản thân thế giới—với tư cách là một yếu tố cốt lõi trong cấu trúc của Hữu-thể-trong-thế-giới—lại thuộc về cấu tạo cơ bản của Dasein. Đến lượt mình, Hữu-thể-trong-thế-giới lại gắn kết chặt chẽ về mặt bản thể luận với tổng thể tính trong cấu trúc Hữu thể của Dasein, và chúng ta đã xác định ‘quan tâm/chăm lo’ chính là tổng thể tính đó. Theo cách này, chúng ta đã vạch ra các nền tảng và những chân trời cần được làm sáng tỏ để có thể thực hiện việc phân tích về Thực tại. Hơn nữa, chỉ trong mối liên hệ này, tính chất ‘tự-thân’ mới trở nên dễ hiểu về mặt bản thể luận. Dựa trên định hướng từ bối cảnh các vấn đề này, trong các phân tích trước đây, chúng ta đã diễn giải Hữu thể của các hiện hữu trong-thế-giới.xvii
Quả đúng, Tính hiện thực của cái Hiện thực có thể được mô tả theo phương pháp hiện tượng học trong những giới hạn nhất định mà không cần đến bất kỳ cơ sở hữu thể-bản thể luận tường minh nào. Đây là điều Dilthey đã cố gắng thực hiện trong bài viết được đề cập ở trên. Ông cho rằng cái Hiện thực được trải nghiệm thông qua xung năng và ý chí, còn Tính hiện thực chính là sự kháng cự, hay chính xác hơn, là đặc tính kháng cự.2 Sau đó, ông phân tích hiện tượng kháng cự này. Đây là đóng góp tích cực trong bài viết của ông, đồng thời cung cấp minh chứng cụ thể xác đáng nhất [tr.253] cho ý tưởng của ông về một ‘ngành tâm lý học vừa mô tả vừa giải phẫu’. Tuy nhiên, việc phân tích hiện tượng này một cách đúng đắn lại bị cản trở bởi vấn đề nhận thức luận về Tính hiện thực. ‘Nguyên tắc về tính hiện tượng’ không cho phép ông đi đến một phép Diễn giải mang tính bản thể luận về cái Hữu thể của ý thức. Ông viết: ‘Ngay trong cùng một ý thức, ý chí và sự ức chế ý chí cùng xuất hiện.’xviii Loại Hữu thể nào thuộc về hành vi ‘xuất hiện’ này? Ý nghĩa của loại Hữu thể của cái ‘bên trong’ là gì? Ý thức có mối quan hệ Hữu thể nào với tự thân cái Hiện thực? Tất cả những điều này cần được xác định trên bình diện bản thể luận. Việc điều đó chưa được thực hiện rốt cuộc là do Dilthey đã để khái niệm ‘cuộc sống’ ở trạng thái chưa được phân biệt về mặt bản thể luận; và tất nhiên, ‘cuộc sống’ là thứ mà ta không thể quay ngược lại để tìm cái gì nằm ‘phía sau’ nó. Nhưng việc Diễn giải Dasein về phương diện bản thể luận không có nghĩa là ta phải quay ngược lại với một thực thể nào khác về phương diện ontish thực hữu. Việc Dilthey bị bác bỏ trên phương diện nhận thức luận không thể ngăn cản chúng ta khai thác hiệu quả những khía cạnh tích cực trong các phân tích của ông—chính là cái chưa được thấu hiểu trong những bác bỏ như vậy.
Do đó, gần đây Scheler đã tiếp nối cách Diễn giải của Dilthey về Tính hiện thực.xix Ông ủng hộ một ‘Lý thuyết ý chí về Dasei’. Ở đây, Dasein được hiểu theo nghĩa của Kant là Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri. Cái “Hữu thể của các khách thể chỉ được đưa ra một cách trực tiếp thông qua mối liên hệ của chúng với xung năng và ý chí”. Scheler không chỉ nhấn mạnh—giống như Dilthey—rằng Tính hiện thực không bao giờ được đưa ra trước hết thông qua tư duy và nhận thức rõ; ông cũng đặc biệt chỉ ra rằng bản thân Erkennen nhận thức không phải là phán đoán, còn Wissen tri thức là một ‘mối quan hệ của Hữu thể’. Những gì chúng ta đã nói về tính bất định mang tính bản thể luận trong các nền tảng của Dilthey cũng đúng về mặt nguyên tắc đối với lý thuyết này. Hơn nữa, sự phân tích bản thể luận nền tảng về ‘cuộc sống’ cũng không thể được thêm vào sau đó như một cấu trúc phụ trợ. Một sự phân tích nền tảng như vậy cung cấp các điều kiện làm cơ sở cho việc phân tích Thực tại—cho toàn bộ sự lý giải về tính chất kháng cự và các tiền giả định hiện tượng luận của nó. Sự kháng cự được bắt gặp trong trạng thái không thể xuyên qua, và nó xuất hiện như một trở ngại đối với ý chí muốn xuyên qua. Tuy nhiên, cùng với ý chí đó, hẳn đã phải có một điều gì đó được bộc lộ—điều mà các xung năng và ý chí của chủ thể đang hướng tới. Tuy nhiên, điều mà chủ thể hướng tới lại bất định về mặt ontic thực hữu, và sự bất định này không được phép bị bỏ qua về mặt bản thể luận hay bị coi như thể nó không tồn tại. Khi Hữu-thể-ngoài hướng tới một điều gì đó vấp phải sự kháng cự và không thể làm gì khác ngoài việc ‘đối diện với sự kháng cự ấy’, thì bản thân nó đã hiện diện ngay trong một tổng thể các mối can dự. Việc tổng thể này được phát hiện lại bắt nguồn từ trạng thái bộc lộ của tổng thể các mối liên hệ tham chiếu về ý nghĩa. Trải nghiệm về sự kháng cự—tức là việc phát hiện ra những gì chống lại các nỗ lực của chủ thể—chỉ có thể diễn ra về mặt hữu thể luận nhờ vào sự hiển lộ của Thế giới. Tính chất [tr.254] kháng cự là đặc điểm thuộc về các hiện hữu với-thế-giới. Trên thực tế, các trải nghiệm về sự kháng cự chỉ quy định phạm vi và phương hướng mà theo đó các thực thể gặp gỡ trong-thế-giới được phát hiện. Việc tổng hợp các trải nghiệm như vậy không tạo ra tình trạng bộc lộ của thế giới ngay từ đầu, mà trái lại, nó đã mặc nhiên thừa nhận tình trạng bộc lộ ấy. Cái ‘chống lại’ và cái ‘trái ngược’, với tư cách là những khả tính hữu thể luận, được nâng đỡ bởi Hữu-thể-trong-thế-giới đã được bộc lộ.
Sự kháng cự cũng không phải là điều được trải nghiệm bằng một thôi thúc hay ý chí ‘nảy sinh’ một cách độc lập. Cả hai thứ này rốt cuộc đều hóa ra là những biến thể của Chăm sóc. Chỉ những thực thể với loại Hữu thể này mới có thể va chạm với một điều gì đó mang tính kháng cự như là một cái gì đó trong-thế-giới. Do đó, nếu Thực tại được định nghĩa là ‘đặc tính kháng cự’, thì ta cần lưu ý hai điều: thứ nhất, đây chỉ là một đặc tính của Thực tại bên cạnh các đặc tính khác; thứ hai, đặc tính kháng cự tất yếu tiền giả định một thế giới đã được bộc lộ. Sự kháng cự đặc trưng cho ‘thế giới bên ngoài’ theo nghĩa các thực thể nằm trong thế giới, chứ không bao giờ theo nghĩa là chính bản thân thế giới. ‘Ý thức về Thực tại’ tự nó là một phương thức của Hữu-thể-trong-thế-giới. Mọi ‘vấn đề về thế giới bên ngoài’ rốt cuộc đều quy về hiện tượng hữu thể cơ bản này. Nếu mệnh đề cogito sum ‘tôi tư duy, nên tôi tồn tại’ được dùng làm điểm khởi đầu cho việc phân tích hữu thể về Dasein, thì nó cần phải được đảo ngược lại, và hơn nữa, nội dung của nó cần được xác nhận lại theo một cách thức mới về mặt bản thể luận-hiện tượng. Khi đó, cái ‘sum’ - tôi tồn tại được khẳng định trước tiên, và thực sự là theo nghĩa ‘tôi tồn tại trong một thế giới’. Theo đúng nghĩa thực thể, ‘tôi tồn tại’ trong khả tính hướng tới các cách thức ứng xử của chính mình—cụ thể là cogitationes hoạt động tư duy—như là những cách thức của Hữu thể bên cạnh các thực thể nằm trong-thế-giới. Ngược lại, Descartes cho rằng cogitationes các hoạt động tư duy là hiện-diện-vô-tri, và ego cái ‘tôi’ cũng hiện-diện-vô-tri như một res cogitans thực thể tư duy tách rời khỏi thế giới.
(c) Thực tại và Thực tại Chăm lo, với tư cách là một thuật ngữ bản thể luận, là khái niệm mà chúng ta đã liên hệ với các thực thể nằm trong thế giới.
Nếu nó được dùng để chỉ loại Hữu thể này nói chung, thì tính sẵn-có-để-dùng và tính hiện-diện-vô-tri sẽ đóng vai trò như là các phương thức của Thực tại. Tuy nhiên, nếu ta để cho cái ‘thế giới’ này mang ý nghĩa truyền thống của nó, thì nó đại diện cho Hữu thể theo nghĩa cái hiện-diện-vô-tri thuần túy của các Sự vật. Nhưng không phải mọi hiện-diện-vô-tri đều là hiện-diện-vô-tri của các Sự vật. Cái ‘Tự nhiên’—thứ ‘bao quanh’ chúng ta—tất nhiên là một thực thể nằm-trong-thế-giới; nhưng loại Hữu thể mà nó bộc lộ lại không thuộc về cái sẵn-có-để-dùng cũng chẳng thuộc về cái hiện-diện-vô-tri như là các ‘Vật thể Tự nhiên’. Dù cho cái Hữu thể của ‘Tự nhiên’ này có được diễn giải thế nào đi nữa, thì mọi phương thức Hữu thể của các thực thể trong-thế-giới đều được đặt nền tảng về mặt bản thể luận trên die Weltlichkeit der Welt cái thế gian của thế giới, và do đó, trên hiện tượng Hữu-thể-trong-thế-giới. [Chen ngang: die Weltlichkeit của Martin Heidegger chỉ cấu trúc hữu thể luận nền tảng làm cho một thế giới thực sự là một thế giới, chứ không chỉ đơn thuần là tập hợp các vật thể vật lý. Thay vì xem ‘thế giới’ như một vật chứa vật lý hay tổng hòa các sự vật vật lý trong không gian, Heidegger cho rằng thế giới là một mạng lưới năng động bao gồm các mối quan hệ giữa người với người, các công việc thực tiễn và những sự gắn kết đầy ý nghĩa. Các ý nghĩa cốt lõi của Weltlichkeit: i) Không phải là một địa điểm vật lý: Thế giới không phải là vật chứa nơi con người—những thực thể mà Heidegger gọi là Dasein hiện hữu người hay Hữu-thể-trong-thế-giới—tình cờ trú ngụ giống như nước trong ly; ii) Cái Hữu thể của Thế giới: Weltlichkeit Cái thế gian đặt ra câu hỏi: Thế nào là một thế giới thực thụ? Đó là trạng thái năng động, nhờ đó các sự vật trở nên quan trọng và mang lại ý nghĩa trong đời sống thường nhật của chúng ta; iii) Một mạng lưới gắn kết - Các vật thể trong môi trường sống không được tri giác ban đầu như những dữ liệu khoa học trung tính; chúng hiện ra như những Zeug công cụ mang một mục đích cụ thể. Ví dụ, chiếc búa được hiểu trong mối liên hệ với đinh, gỗ và công việc xây dựng; tính thế gian chính là mạng lưới toàn diện bao gồm các mối liên hệ và ý nghĩa thực tiễn như vậy; iv) Sự nảy sinh ý nghĩa - Thế giới là một không gian mở, nơi ý nghĩa lần đầu tiên trở nên có thể tiếp cận; điều này có nghĩa là chúng ta không chỉ đơn thuần gán ý nghĩa lên một vũ trụ trống rỗng, và vũ trụ cũng không tự mình áp đặt ý nghĩa lên chúng ta một cách độc lập. Thay vào đó, ý nghĩa nảy sinh thông qua sự tương tác và dấn thân thực tế của chúng ta trong môi trường sống.-HHN].Từ đó nảy sinh một nhận thức rằng, trong số các phương thức [tr.255] Hữu thể của các thực thể trong-thế-giới, thì Thực tại không hề có vị thế ưu tiên; và điều mà Thực tại là một loại Hữu thể thậm chí vốn không thể đặc trưng cho bất cứ điều gì như thế giới hay Dasein theo một cách thức phù hợp về mặt bản thể luận.
Trong trật tự về mối liên kết giữa các sự vật tại nền tảng bản thể luận của chúng, cũng như trong trật tự của bất kỳ sự chứng minh mang tính phạm trù hay hữu thể nào, thì Thực tại vẫn được quy chiếu trở lại hiện tượng ‘chăm lo’. Tuy nhiên, việc Thực tại được đặt nền tảng bản thể luận trên Hữu thể của Dasein không có nghĩa là chỉ khi Dasein tồn tại và chừng nào Dasein còn tồn tại thì cái ‘Thực’ mới có thể là chính nó như bản chất vốn có của nó. Tất nhiên, chỉ chừng nào Dasein còn tồn tại (tức là chỉ chừng nào sự thấu hiểu về Hữu thể còn khả thể về phương diện ontish thực hữu), thì khi cái Hữu thể mới ‘có đó’.3 Khi Dasein không tồn tại, thì tính ‘độc lập’ cũng không ‘có’, kể cả cái ‘tự-thân’ cũng không ‘có’. Trong trường hợp đó, loại sự vật này không thể được thấu hiểu cũng chẳng phải không được thấu hiểu. Vì vậy, ngay cả các thực thể trong-thế-giới cũng không thể được khám phá hay bị che giấu. Do đó, không thể nói rằng các thực thể là hiện hữu, cũng chẳng thể nói rằng chúng không hiện hữu. Nhưng giờ đây, chừng nào còn có sự thấu hiểu về Hữu thể — và do đó là sự thấu hiểu về tình trạng hiện-diện-vô-tri — thì quả thực có thể nói rằng trong trường hợp này, các thực thể vẫn tiếp tục hiện hữu. Như chúng ta đã lưu ý, Hữu thể (chứ không phải các thực thể) phụ thuộc vào sự thấu hiểu về Hữu thể; nghĩa là, Thực tại (chứ không phải cái Thực) phụ thuộc vào chăm lo. Nhờ sự phụ thuộc này, công cuộc phân tích sâu hơn của chúng ta về Dasein được bảo đảm vững chắc trước một lối diễn giải thiếu phản tư — một lối diễn giải vốn luôn tự áp đặt lên chúng ta — trong đó ý niệm về Thực tại được coi là chìa khóa để hiểu về Dasein. Chỉ khi lấy tính hữu thể [Chen ngang: Heidegger dùng Existenzialität tính hữu thể để chỉ trạng thái hoặc đặc tính của Dasein hiện hữu người, cấu thành khả tính thấu hiểu và hiện hữu như chính ‘Hữu thể’ của mình. Bản thể luận so ontish thực hữu: Heidegger phân biệt Existenzialität (cấu trúc bản thể luận về năng lực của Dasein hiện hữu người tồn tại một cách đích thực hoặc phi đích thực) với Existenzialien/ existentialia - các yếu tố hữu thể, vốn là những đặc điểm hoặc tính chất cấu trúc thuộc về tính hữu thể đó. Sự tương phản với các phạm trù: Ông phân biệt rạch ròi giữa Existenzialien các yếu tố hữu thể và Kategorien các phạm trù truyền thống - chỉ áp dụng cho những sự vật đơn thuần hiện-diện-vô-tri chứ không phải cho Dasein hiện hữu người.-HHN] – được diễn giải theo nghĩa tích cực về bản thể luận – làm định hướng, ta mới có thể đảm bảo rằng trong quá trình phân tích thực tế về ‘ý thức’ hay ‘cuộc sống’, một quan niệm nào đó về ‘Thực tại’ sẽ không bị mặc nhiên coi là có tính cơ sở, ngay cả khi quan niệm ấy chưa được phân biệt rạch ròi.
Những thực thể có loại Hữu thể của Dasein không thể được quan niệm theo khuôn khổ của Thực tại và Substantialität/ substantiality tính thực chất; chúng ta đã diễn đạt điều này qua luận điểm cho rằng bản chất của con người chính là tồn tại. Tuy nhiên, việc ta diễn giải Existenzialität tính hữu thể như là chăm lo, và phân biệt nó với Thực tại không có nghĩa là công cuộc phân tích hữu thể đã kết thúc; trái lại, ta chỉ mới làm cho những vấn đề phức tạp xoay quanh câu hỏi về Hữu thể cùng các phương thức khả thể của nó, và câu hỏi về ý nghĩa của những biến đổi như vậy– xuất hiện một cách sắc nét hơn mà thôi: Chỉ khi sự thấu hiểu về Hữu thể hiện hữu thì các thực thể, với tư cách là thực thể, mới bắt đầu có thể tiếp cận được; chỉ khi [tr.256] các thực thể mang cùng loại Hữu thể với Dasein thì sự thấu hiểu về Hữu thể mới trở nên khả thể như một thực thể.
44. Dasein, Trạng thái Bộc lộ và Chân lý
Τό γάρ αυτο νοειν έστιν τε καί ειναι - Bởi vì tư duy và tồn tại là một - (Đoạn trích của Parmenides, trong Plotinus v, I, 8) Dù một số học giả dịch là “Tư duy và tồn tại là một”; những những người khác dịch là: “Vì cùng một thứ vừa được nghĩ đến vừa tồn tại”. Từ thời xa xưa, triết học đã liên kết Chân lý và Hữu thể. Parmenides là người đầu tiên khám phá ra Hữu thể của các thực thể, và ông đã ‘đồng nhất’ Hữu thể với sự hiểu biết sâu sắc về Hữu thể: Τό γάρ αυτο νοειν έστιν τε καί ειναι xx - Bởi vì tư duy và tồn tại là một. Aristotle, trong phác thảo lịch sử về những cách thức mà ἀρχαί các nguồn cội đã được mở ra như thế nào,xxi nhấn mạnh rằng các triết gia trước ông, dưới sự hướng dẫn của ‘bản thân sự vật’ đã buộc phải tìm hiểu thêm: αὐτὸ τὸ πρᾶγμα ὡδοποίησεν αὐτοῖς καὶ συνηνάγκασε θητεῖν.xxii - Chính điều này đã mở đường cho họ và buộc họ phải chịu cảnh nô dịch. [Chen ngang: Cụm từ này phản ánh một chủ đề phổ biến trong các văn bản lịch sử Hy Lạp cổ điển như của Thucydides, Xenophon hoặc Plutarch, mô tả cách một sự kiện cụ thể, khó khăn sinh kế hoặc thay đổi chính trị đã khiến một nhóm người không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải chấp nhận thân phận nô bộc hoặc làm công việc thuê mướn có địa vị thấp kém. - HHN]. Ông đã mô tả sự thật tương tự khi nói rằng ἀναγκαζόμενος δ' ἀκολουθεῖν τοῖς φαινομένοιςxxiii – có nghĩa là Parmenides buộc phải tuân theo những gì đã tự thể hiện: Trong một đoạn văn khác, ông nhận xét rằng những nhà tư tưởng này đã tiến hành nghiên cứu của họ như ὑπ' αὐτῆς τῆς ἀληθείας ἀγκαθόμενοιςxxiv – “bị ép buộc bởi chính ‘chân lý’”. Aristotle mô tả những nghiên cứu này là φιλοσοφήσαντες περὶ τῆς ἀληθείαςxxv ‘triết học' về ‘chân lý’ - hoặc thậm chí là ἀποφαίνεσθαι περὶ τῆς ἀληθείαςxxvi - là việc trưng bày ra một điều gì đó và để nó được nhìn nhận liên quan đến ‘chân lý’ và trong phạm vi của ‘chân lý’. Bản thân Triết học được định nghĩa là ἐπιστήμη τῆς ἀληθείας ‘khoa học’ về ‘chân lý’”. Nhưng nó cũng được mô tả là ἐπιστήμη τις ἣ θεωρεῖ τὸ ὂν ᾗ ὄν như là “một khoa học nghiên cứu các thực thể như những thực thể” – tức là, xét về Hữu thể của chúng. Ở đây, đoạn văn “tiến hành nghiên cứu về ‘chân lý’”, với “khoa học về ‘chân lý’” có nghĩa là gì? Trong những nghiên cứu như vậy, ‘chân lý’ có phải là một chủ đề như trong một lý thuyết về tri thức hay về phán đoán không? Rõ ràng là không, vì ‘chân lý’ có nghĩa giống như Sache ‘sự vật’, ‘cái gì đó tự biểu hiện’. Nhưng vậy thì cách biểu hiện ‘chân lý’ có nghĩa là gì nếu nó có thể được sử dụng như một thuật ngữ cho ‘thực thể’ và ‘Hữu thể’? Tuy nhiên, nếu chân lý thực sự có mối liên hệ bản nguyên với Hữu thể, thì hiện tượng chân lý nằm trong phạm vi của vấn đề về bản thể luận nền tảng. Trong trường hợp đó, hiện tượng này chẳng phải đã được gặp phải trong phân tích cơ bản chuẩn bị của chúng ta, phân tích về Dasein hay sao? Mối liên hệ thực hữu-bản thể luận mà ‘chân lý’ có với Dasein và với đặc tính thực hữu của Dasein mà chúng ta gọi là ‘sự hiểu biết về Hữu thể’? Liệu lý do tại sao Hữu thể nhất thiết phải đi cùng với chân lý và ngược lại có thể chỉ theo khuôn khổ của hiểu biết đó không?
Những câu hỏi này không thể né tránh. Bởi vì Hữu thể thực sự ‘đi cùng’ với chân lý, hiện tượng chân lý đã là một trong những chủ đề của các phân tích trước đây của chúng ta, mặc dù không được nêu rõ ràng dưới tiêu đề này. Trong [tr.257] việc làm rõ vấn đề về Hữu thể, giờ là lúc để xác định rõ ràng hiện tượng chân lý và giải quyết các vấn đề mà nó bao gồm. Khi thực hiện điều này, chúng ta không chỉ nên gộp lại những gì đã bị tách rời trước đây. Khảo sát của chúng ta đòi hỏi một cách tiếp cận mới. Phân tích của chúng ta bắt đầu từ quan niệm truyền thống về chân lý, và cố gắng làm sáng tỏ nền tảng bản thể luận của quan niệm đó (a). Xét về những nền tảng này, hiện tượng chân lý bản nguyên trở nên rõ ràng. Sau đó, chúng ta có thể trình bày cách mà quan niệm truyền thống về chân lý được rút ra từ hiện tượng này (b). Khảo sát của chúng ta sẽ làm rõ rằng đối với câu hỏi về ‘bản chất’ của chân lý, tất yếu phải bao gồm câu hỏi về loại Hữu thể mà chân lý sở hữu. Bên cạnh đó, cần làm rõ ý nghĩa bản thể học của loại chuyện được cho là ‘có chân lý’, và cũng phải làm rõ loại tính tất yếu mà ‘chúng ta phải giả định’ rằng ‘có’ chân lý (c).
(a) Quan niệm Truyền thống và Nền tảng Bản thể luận của Chân lý
Có ba luận điểm đặc trưng cho cách hiểu truyền thống về bản chất của chân lý cũng như những cách thức mà người ta cho rằng khái niệm này đã được định nghĩa lần đầu tiên: (1) Locus ‘nơi chốn’ của chân lý là sự khẳng định (phán đoán); (2) Bản chất của chân lý nằm ở sự ‘đồng thuận’ giữa phán đoán và đối tượng của nó; (3) Aristotle—cha đẻ của logic học—không chỉ gán chân lý cho phán đoán như là nơi chốn bản nguyên của nó, mà còn khởi xướng định nghĩa về ‘chân lý’ như là sự ‘đồng thuận’.4 Ở đây mục đích của chúng ta không phải là trình bày lịch sử của khái niệm chân lý—điều chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở lịch sử của bản thể luận. Chúng ta sẽ mở đầu các thảo luận phân tích của mình bằng cách đề cập đến một số vấn đề quen thuộc. Aristotle nói rằng παθήματα τῆς ψυχῆς pathēmata tēs psychēs các trải nghiệm của linh hồn là των πραγμάτων ομοιώματαxxix tōn pragmatōn homoiōmata những mô phỏng/ tương đồng với các Sự vật—nghĩa là các ‘Trải nghiệm’ của linh hồn, hay các ‘noēmata’ biểu tượng/ khái niệm của nó, là những mô phỏng lại các Sự vật. Khẳng định này—vốn không hề được đưa ra như một định nghĩa tường minh về bản chất của chân lý—đã tạo cơ sở cho việc phát triển công thức sau này về bản chất của chân lý: adaequatio intellectus et rei sự tương xứng giữa trí tuệ và sự vật.5 Thomas Aquinas—người quy định nghĩa này cho Avicenna nhân vật vốn tiếp nhận nó từ cuốn ‘Sách về các Định nghĩa’ của Isaac Israeli vào thế kỷ thứ mười—cũng sử dụng các thuật ngữ correspondentia sự tương ứng và convenientia hội tụ/ hợp nhất để diễn giải cho từ adaequatio tương xứng/mô phỏng.
[Tr.258] Thuyết nhận thức Tân-Kantian thế kỷ mười chín thường mô tả định nghĩa về ‘chân lý’ này như là biểu hiện của một chủ nghĩa hiện thực ngây thơ lạc hậu về mặt phương pháp luận, đồng thời tuyên bố rằng nó không thể dung hòa với bất kỳ cách đặt vấn đề nào đã trải qua ‘cuộc cách mạng Copernic’ của Kant. Tuy nhiên, chính Kant cũng tuân theo quan niệm này về chân lý, đến mức ông thậm chí không hề đưa nó ra thảo luận; điều này thường bị bỏ qua, mặc dù Brentano đã từng lưu ý chúng ta về nó. “Câu hỏi cổ xưa và nổi tiếng—vốn được cho là có thể dồn các nhà logic học vào thế bí—chính là: ‘chân lý là gì?’” Cách giải thích về khái niệm chân lý—cụ thể là sự tương hợp giữa tri thức và đối tượng của nó—sẽ được chấp nhận và coi như một tiền đề tại đây…; xxx 6. “Nếu chân lý nằm ở sự tương hợp giữa tri thức và đối tượng của nó, thì đối tượng này tất yếu phải được phân biệt với các đối tượng khác; bởi lẽ tri thức sẽ là sai lầm nếu nó không tương hợp với đối tượng mà nó quy chiếu tới, ngay cả khi nó chứa đựng những yếu tố có thể đúng đắn đối với các đối tượng khác.”xxxi Và trong phần Giới thiệu về Transzendentale Dialektik ‘Phép Biện chứng Siêu nghiệm’, Kant khẳng định: “Chân lý và ảo tưởng không nằm ở bản thân đối tượng khi nó được trực quan, mà nằm ở phán đoán về đối tượng đó khi nó được tư duy.”xxxii Tất nhiên, việc định nghĩa chân lý như là sự ‘tương hợp’ (adaequatio, homoiōsis) là một cách diễn giải rất chung chung và trống rỗng. Tuy nhiên, nó vẫn có cơ sở xác đáng nếu có thể đứng vững mà không làm phương hại đến bất kỳ cách lý giải đa dạng nào xoay quanh khái niệm đặc thù là ‘tri thức’. Giờ đây, chúng ta đang khảo sát nền tảng của ‘mối quan hệ’ này. Điều gì khác nữa được ngầm định trong tổng thể quan hệ của adaequatio intellectus et rei sự tương ứng giữa trí năng và sự vật?
____________________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 “...tại sao sự Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới lại có xu hướng trước tiên chôn vùi ‘thế giới bên ngoài’ trong hư vô ‘nhận thức luận’ để rồi sau đó chứng minh sự tồn tại của nó.” [tr.250]
2 ‘Thực tại là sự kháng cự, chính xác hơn là tình trạng kháng cự.’ [tr.252]
3 ‘… “gibt es” Sein.’ Trong lá thư Ober den Humanismus (Klostermann, Frankfurt A.M., n.d., p. 22, in lại từ Platons Lehre von Tier Wahrheit, Francke A.G., Bern, 1947), Heidegger nhấn mạnh rằng cách diễn đạt ‘es gibt’ ở đây được sử dụng có chủ ý, và nên hiểu theo nghĩa đen là ‘nó mang lại’. Ông viết: “Vì ở đây cái ‘nó’ ‘mang lại’ chính là Hữu thể. Tuy nhiên, cái ‘cho đi’ chỉ rõ bản chất của Hữu thể, cái cho đi và cái mang lại chân lý của nó.’ Ông nói thêm rằng ‘es gibt’ được sử dụng để tránh viết rằng ‘Hữu thể là’, vì động từ ‘là’ chỉ phù hợp với các thực thể chứ không phù hợp với tự thân Hữu thể. [tr.255]
4 Ở đây, chúng tôi theo dõi các phiên bản cũ hơn trong phần đọc ‘…hat sowohl die Wahrheit dem Urteil als ihrem urspriinglichen Ort zugewiesen als auch die Definition der Wahrheit als “Ubereinstimmung” in Gang gebracht.' “…vừa gán Chân lý cho phán đoán như là vị trí ban đầu của nó, vừa khởi xướng định nghĩa về Chân lý là “sự đồng thuận”. Các phiên bản mới hơn có nội dung ‘…hat sowohl…zugewiesen, er hat auch…’ đã gán cho cả hai…ông ấy cũng…’ [tr.257]
5 Điều này thường được dịch là “sự phù hợp của trí tuệ và sự vật”. Heidegger làm cho mối liên hệ dường như gần gũi hơn bằng cách dịch cả tiếng Latin adaequatio và tiếng Hy Lạp ὁμοίωμα bằng từ 'Angleichung', mà chúng ta đã dịch một cách tùy tiện là 'so sánh'. [tr.257]
6 ‘Ein Zeichen zeigt auf das Gezeigte.’ Dấu hiệu này chỉ vào những gì được hiển thị. [tr.258]

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét