Powered By Blogger

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

Là một cái gì đó có thật, sự phóng chiếu tự thân về phương diện thấu hiểu của Dasein luôn diễn ra ngay bên cạnh một thế giới đã được bộc lộ. Dasein tiếp nhận các khả tính của mình từ thế giới này, và thực hiện điều đó trước hết theo cách mà sự vật đã được diễn giải bởi das Man cái ‘họ’. Phép diễn giải này đã giới hạn các lựa chọn khả thể trong phạm vi của những gì quen thuộc, có thể đạt tới và đáng trân trọng—tức là những gì phù hợp và đúng đắn. Việc san phẳng các khả tính của Dasein xuống còn những gì sẵn có ngay trong tầm tay ở đời sống thường nhật cũng dẫn đến sự lu mờ của cái khả thể theo đúng nghĩa. Trạng thái thường nhật trung bình của các mối quan tâm trở nên mù mờ trước các khả tính của chính nó, và tự trấn an bằng những gì chỉ đơn thuần là ‘hiện thực’. Sự trấn an này không loại trừ mà trái lại còn khơi dậy mức độ cần mẫn cao độ trong các mối quan tâm của cá nhân. Trong trường hợp này, không có những khả tính mới tích cực nào được mong muốn thực hiện; thay vào đó, những gì đang được sắp đặt bị thay đổi về phương diện ‘chiến thuật’ sao cho tạo ra vẻ bề ngoài như thể đang có điều gì đó diễn ra.

Tuy nhiên, kiểu ‘ý chí’ được trấn an dưới sự dẫn dắt của cái ‘họ’ này không có nghĩa là Hữu thể của kẻ nào đó hướng đến cái tiềm-năng-cho-Hữu thể của kẻ nào đó đã bị triệt tiêu, mà chỉ là nó đã bị biến đổi. Trong trường hợp như vậy, cái Hữu thể của kẻ nào đó hướng đến các khả tính chủ yếu biểu hiện dưới dạng những ước muốn đơn thuần. Trong ước muốn, Dasein phóng chiếu Hữu thể của mình vào các khả tính vốn không chỉ chưa được nắm bắt bằng các mối quan tâm, mà việc hiện thực hóa chúng thậm chí còn chưa từng được suy tính hay kỳ vọng. Trái lại, ở phương thức ước muốn đơn thuần, tình trạng chiếm ưu thế của ‘Hữu-thể-vượt-trước-bản-thân’ mang theo sự thiếu thấu hiểu đối với các khả tính có thật. Khi thế giới chủ yếu được phóng chiếu như một thế-giới-ước-muốn, thì ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ đã đánh mất chính mình một cách thụ động vào sự sắp đặt của nó; nhưng sự đánh mất này diễn ra theo cách mà, dưới ánh sáng của điều được ước muốn, những gì sắp đặt (và đây chính là tất cả những gì là sẵn-có-để-dùng) dường như lại chẳng bao giờ là đủ. Ước muốn là một biến đổi mang tính hữu thể [tr.240] của việc phóng chiếu bản thân bằng thấu hiểu, xảy ra khi sự tự phóng chiếu đó đã sa vào trạng thái ‘bị-ném-vào’ và chỉ mãi khao khát các khả tính.1 Sự khao khát như vậy lại khép kín các khả tính đó; cái ‘có đó’ trong nỗi khao khát đầy ước muốn ấy chuyển hóa thành ‘thế giới thực tại’. Về mặt bản thể luận, ước muốn vốn dĩ đã tiền giả định Sorge sự chăm sóc.

Trong niềm khao khát, Hữu-thể-đã-ở-bên-cạnh...chiếm ưu quyền. Cái ‘vượt-trước-chính-mình-trong-Hữu-thể-đã-ở-trong…’ theo đó cũng bị biến đổi. Niềm khao khát của Dasein, trong quá trình sa ngã, bộc lộ sự lệ thuộc của nó vào việc phải ‘sống’ bởi bất kỳ thế giới nào mà nó đang hiện hữu trong đó. Sự lệ thuộc này thể hiện đặc tính của cái Hữu thể mưu cầu điều điều gì đó’ [Ausseins auf/ Being out for something …]. Hữu-thể vượt-trước-chính-mình đã tự đánh mất mình trong cái gọi là ‘chỉ-luôn-đã-ở-bên-cạnh’.2 Điều mà chủ thể bị lôi cuốn lệ thuộc ‘vào’ [Das ‘Hin-zu’ des Ranges] chính là việc để bản thân bị cuốn theo thứ mà niềm khao khát kia đang hướng tới. Nếu Dasein, có thể nói là, chìm vào sự lệ thuộc, thì không chỉ đơn thuần có một sự lệ thuộc đang vorhanden ‘hiện-diện-vô-tri’, mà toàn bộ cấu trúc của sự chăm sóc đã bị biến đổi. Dasein trở nên mù quáng và đặt mọi khả tính vào việc phục vụ cho sự lệ thuộc đó. Mặt khác, thôi thúc ‘phải sống’ là điều gì đó mà một kẻ bị thúc đẩy hướng tới, và tự thân nó mang theo động lực thúc đẩy đó.3 Đó là sự hướng tới điều này ‘bằng mọi giá’. Thôi thúc này tìm cách verdrangen gạt bỏ các khả tính khác. Ở đây, Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình cũng không đích thực, ngay cả khi chủ thể bị tấn công bởi chính điều thôi thúc mình. Thôi thúc có thể vượt xa tâm thế và sự thấu hiểu hiện tại của kẻ nào đó. Tuy nhiên, Dasein không phải, và chưa bao giờ là một ‘thôi thúc thuần túy’ mà các hành vi kiểm soát hay dẫn dắt khác thỉnh thoảng mới được thêm vào; thay vì, như một biến thể của toàn bộ, nó đã luôn là chăm lo.

Trong thôi thúc thuần túy, chăm lo vẫn chưa được tự do, mặc dù chính chăm lo tạo ra khả năng bản thể luận để Dasein tự thúc đẩy chính mình.4 Tuy nhiên, trong lệ thuộc, chăm lo luôn bị trói buộc. Tình trạng lệ thuộc và thôi thúc là những khả tính bắt rễ từ tình trạng ‘bị-ném-vào’ của Dasein. Thôi thúc ‘phải sống’ không phải là thứ cần bị triệt tiêu; không thể loại bỏ tận gốc sự lệ thuộc vào việc trở nên ‘đã sống’ bởi thế giới. Tuy nhiên, chính vì cả hai đều có nền tảng bản thể luận ở  Sorge ‘chăm sóc’, nên chúng đều có thể được biến đổi theo phương thức cá nhân cụ thể bởi chính lối chăm sóc ấy—cụ thể là lối chăm sóc như một cái gì đó đích thực. Với thuật ngữ ‘chăm sóc’, chúng ta đang đề cập đến một hiện tượng hữu thể-bản thể luận cơ bản, nhưng lại không hề đơn giản về mặt cấu trúc. Tổng thể tính cơ bản về mặt bản thể luận của cấu trúc-chăm sóc không thể bị truy nguyên về một ‘yếu tố đầu tiên’ nào đó thuộc bình diện ontic thực hữu, hệt như Hữu thể chắc chắn không thể được ‘giải thích’ trong khuôn khổ các hiện hữu. Cuối cùng, ta sẽ thấy rằng ý niệm về Hữu thể nói chung cũng không hề ‘đơn giản’ hơn so với Hữu thể của Dasein. Khi định nghĩa ‘chăm sóc’ là cái Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình-trong-Hữu-thể-đã-ở-trong…’ với tư cách là Hữu-thể-bên cạnh…’, chúng ta đã làm rõ ngay cả hiện tượng này, tự thân nó, vẫn được khớp nối về phương diện cấu trúc. Nhưng chẳng phải đây là một dấu hiệu hiện tượng cho thấy ta cần phải truy vấn sâu hơn nữa về vấn đề bản thể luận, cho đến khi có thể trưng ra một hiện tượng còn bản nguyên hơn—vốn đóng vai trò là bệ đỡ bản thể luận cho cái nhất tính và tính tổng thể tính trong đa tạp tính về mặt cấu trúc của Sorge ‘chăm lo’ hay sao? Trước khi tiếp tục theo đuổi vấn đề này, ta cần nhìn lại và nắm bắt một cách chính xác hơn những gì đã được diễn giải từ trước đến nay trong nỗ lực hướng tới câu hỏi về bản thể luận nền tảng liên quan đến ý nghĩa của ‘Hữu thể’ nói chung. Tuy nhiên, trước hết, ta cần chỉ ra rằng điều được coi là ‘mới’ về mặt bản thể luận trong cách diễn giải này thực chất lại khá ‘cũ’ về mặt ontisch thực hữu. Khi làm sáng tỏ Hữu thể của Dasein như là ‘chăm lo’, ta không hề cưỡng ép nó vào một ý niệm do chính ta tự tạo ra, mà đang khái niệm hóa về phương diện Existenzial hữu thể những gì vốn đã được bộc lộ theo cách thức ontisch-existenzielle thực hữu-cá nhân cụ thể.

42. Xác nhận Phép Diễn giải hữu thể về Dasein như là Chăm lo, trong khuôn khổ Cách thức Diễn giải Tự thân Tiền-bản thể luận của Dasein.5

Trong các Diễn giải trước của chúng ta—vốn đã dẫn đến việc xác định ‘chăm lo’ chính là Hữu thể của Dasein—mọi sự đều phụ thuộc vào việc chúng ta tìm ra được những nền tảng bản thể luận đúng đắn cho cái hiện hữu là bản thân mỗi chúng ta, và cái hiện hữu đó thường được gọi là ‘con người’. Để làm được điều này, ngay từ đầu, cần phải thay đổi hướng phân tích so với cách tiếp cận dựa trên định nghĩa truyền thống về ‘con người’—một cách tiếp cận vốn chưa được làm sáng tỏ về mặt bản thể luận và về nguyên tắc là đáng ngờ. So với định nghĩa đó, cách diễn giải theo hướng hữu thể-bản thể luận có thể mang lại cảm giác lạ lẫm, nhất là khi khái niệm ‘chăm sóc’ hiểu theo nghĩa ontish thực hữu là als ‘Besorgnis’ und ‘Bekümmernis’ ‘lo âu’ hay ‘đau buồn’. Do đó, giờ đây chúng tôi sẽ dẫn ra một tài liệu mang tính chất ‘tiền-bản thể luận’, mặc dù sức thuyết phục của nó chỉ dừng lại ở mức ‘thuần túy mang tính lịch sử’.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong tài liệu này, Dasein tự bộc lộ một cách bản nguyên, không chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ cách diễn giải lý thuyết nào và cũng không nhằm mục đích đề xuất bất kỳ lý thuyết nào. Chúng ta cũng cần ghi nhận rằng Hữu thể của Dasein mang đặc tính lịch sử, mặc dù điều này trước hết cần được chứng minh trên bình diện bản thể luận. Nếu Dasein mang tính ‘lịch sử’ ngay trong chiều sâu Hữu thể của nó, thì một tuyên bố xuất phát từ lịch sử của chính nó và hướng về lịch sử đó [tr.242]—vốn có trước mọi tri thức khoa học—sẽ mang một trọng lượng đặc biệt, dù tầm quan trọng của nó không bao giờ hoàn toàn thuần túy mang tính bản thể luận. Sự thấu hiểu về Hữu thể vốn nằm ngay trong bản thân Dasein sẽ tự bộc lộ theo phương thức tiền-bản thể luận. Tài liệu mà chúng tôi sắp dẫn ra sẽ làm sáng tỏ rằng existential Interpretation Phép diễn giải hữu thể của chúng tôi không phải là lối thêu dệt đơn thuần; trái lại, với tư cách là một ‘cấu thành’ bản thể luận, nó có cơ sở vững chắc và đã được phác thảo từ trước theo những cách thức mang tính cơ bản.

Có một câu chuyện ngụ ngôn cổ xưa, trong đó cách Dasein tự diễn giải về chính mình như là cách ‘Chăm sóc’ đã được lồng ghép vào: v

Cura cumfluvium transiret, vidit cretosum lutum
sustulitque cogitabunda atque coepit fingere.
dum deliberat quid iamfecisset, Jovis intervenit.
rogat eum Cura ut det illi spiritum, etfacile impetrat.
cui cum vellet Cura nomen ex sese ipsa imponere,
Jovis prohibuit suumque nomen ei dandum esse dictitat.
dum Cura et Jovis disceptant, Tellus surrexit simul
suumque nomen esse volt cui corpuspraebuerit suum.
sumpserunt Satumum iudicem, is sic aecus iudicat:
‘tu Jovis quia spiritum dedisti, in morte spiritum,
tuque Tellus, quia dedisti corpus, corpus recipito,
Cura eum quia primafinxit, teneat quamdiu vixerit.
sed quae nunc de nomine eius vobis controversia est,
homo vocetur, quia videtur essefactus ex humo.’

Có lần khi Nữ thần Cura (Chăm lo) đang băng qua một dòng sông nọ, bà nhìn thấy một ít đất sét. Trong lúc đang trầm tư suy nghĩ, bà nhặt một nắm đất lên và bắt đầu nặn thành hình thù. Khi bà đang ngắm nhìn tác phẩm của mình, thần Jupiter bước tới. Cura đề nghị Jupiter thổi linh hồn ban sự sống cho khối đất sét đã được nặn hình, và Jupiter đã vui vẻ chấp thuận yêu cầu của bà. Tuy nhiên, khi Cura muốn lấy tên mình đặt tên cho sinh vật, thần Jupiter đã ngăn lại và khăng khăng rằng nó phải mang tên ông. Trong lúc Cura và Jupiter đang tranh cãi về cái tên, Tellus - Đất Mẹ bước ra và đòi sinh vật này phải mang tên bà, bởi vì chính bà đã hiến một phần thân thể mình để tạo ra nó. Các bên tranh chấp đã chọn Saturn - Thời gian làm người phân xử, và Saturn đã đưa ra phán quyết công bằng như sau: “Hỡi Jupiter, vì Người đã ban cho nó linh hồn, nên khi nó chết đi, Người sẽ nhận lại linh hồn ấy. Hỡi Đất Mẹ, vì Người đã ban cho nó thân xác, nên Người sẽ nhận lại thân xác ấy. Nhưng vì Cura – Chăm lo là người đầu tiên nặn nên sinh vật này, Người sẽ được sở hữu nó chừng nào nó còn sống. Hơn nữa, về cuộc tranh cãi xoay quanh cái tên, hãy gọi nó là Homo - Con người, bởi vì nó được tạo ra từ humus – là đất.”6

[Tr.243] Tài liệu mang tính tiền-bản thể luận này trở nên đặc biệt quan trọng, không chỉ ở chỗ ‘Chăm lo’ ở đây được xem là yếu tố mà Dasein hiện hữu người ‘trong suốt cuộc đời mình’ thuộc về nơi đó, mà còn vì ưu quyền của ‘Chăm lo’ này xuất hiện gắn liền với quan niệm quen thuộc coi con người là sự kết hợp giữa thân xác (đất) và linh hồn. ‘Cura primafinxit’: trong chăm lo, hiện hữu này có ‘nguồn gốc’ Hữu thể của chính nó. ‘Cura teneat, quamdiu vixerit’: hiện hữu này không tách rời khỏi nguồn gốc ấy mà bị giữ chặt, bị chi phối hoàn toàn bởi nó chừng nào hiện hữu ấy còn ‘ở-trong-thế-giới’. ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ mang dấu ấn của ‘Chăm lo’, điều này phù hợp với Hữu thể của nó. Nó mang tên ‘homo’ không phải bằng vào việc xem xét Hữu thể của nó mà dựa trên cái cấu thành nên nó (humus – đất). Quyết định về việc đâu là nơi có thể nhìn thấy Hữu thể ‘bản nguyên’ của sinh linh này được giao cho Saturn, tức ‘Thời gian’.vi Như vậy, sự mô tả mang tính tiền-bản thể luận về bản chất con người được thể hiện trong ngụ ngôn này đã phơi bày ngay từ đầu loại Hữu thể vốn chi phối chốn tạm cư mang tính thời gian của con người trong thế giới, và chi phối một cách triệt để.

Lịch sử ý nghĩa của khái niệm ontic thực hữu về Sorge ‘chăm lo’ cho phép chúng ta nhận thấy thêm những cấu trúc cơ bản khác của Dasein.  Burdachvii đã lưu ý đến ý nghĩa kép của thuật ngữ ‘cura’: nó không chỉ biểu thị ‘nỗ lực đầy lo âu’ mà còn cả ‘tính cẩn trọng’ và ‘lòng tận tâm’ [‘Sorgfalt’, ‘Hingabe’]. Chẳng hạn, Seneca viết trong bức thư cuối cùng của mình (Ep. 124): ‘Trong số bốn Bản tính hiện hữu (cây cối, loài vật, con người và Thượng đế), thì hai hiện hữu sau—những hiện hữu duy nhất được phú cho lý trí—được phân biệt ở chỗ Thượng đế bất tử còn con người thì hữu tử. Vậy là khi xét đến chúng, cái thiện lành của hiện hữu này, tức Thượng đế, được hoàn tất bởi Bản tính của Ngài; nhưng điều thiện lành của hiện hữu kia, tức con người, lại được hoàn tất bởi cura chăm lo: ‘unius bonum natura perficit, dei scilicet; alterius cura, hominis.’ “Bản tính tự nhiên làm hoàn tất điều Thiện lành của Đấng Duy nhất, tức là Thiên Chúa; còn sự chăm lo hoàn tất cái thiện lành của kẻ khác, tức là con người.” Sự hoàn thiện của con người—tức sự chuyển hóa thành điều mà con người có thể trở thành khi tự do hướng về những khả tính cốt yếu nhất của chính mình (sự phóng chiếu)—được ‘thực hiện’ nhờ ‘chăm lo’. Tuy nhiên, với tính bản nguyên tương đương, ‘chăm lo’ cũng xác định đặc tính cơ bản của hiện hữu này, theo đó nó được giao phó cho thế giới của những mối bận tâm (trạng thái bị ném vào). Trong ‘ý nghĩa kép’ của ‘chăm lo’, điều chúng ta đang xem xét chính là một trạng thái cơ bản duy nhất với cấu trúc mang tính hai mặt cốt yếu: sự phóng chiếu trong tính bị ném vào.      

So với cách diễn giải mang tính ontic thực hữu này, cách diễn giải mang tính hữu thể-bản thể luận không phải—chẳng hạn— là một sự khái quát hóa ontic thực hữu thuần túy mang tính lý thuyết. Nếu hiểu như vậy thì chỉ có nghĩa là, xét về mặt thực hữu, mọi cách hành xử của con người đều ‘đầy chăm lo’ và được dẫn dắt bởi ‘lòng tận tụy’ đối với [tr.244] một điều gì đó. Trái lại, ‘sự khái quát hóa’ ở đây mang tính bản thể luận và có tính a priori tiên nghiệm. Điều mà nó hướng tới không phải là một tập hợp các thuộc tính thuộc bình diện ontic thực hữu liên tục nảy sinh, mà là một trạng thái của Hữu thể vốn đã hiện diện làm nền tảng trong mọi trường hợp, và chính trạng thái này tạo ra khả năng – xét về mặt hữu thể luận – để hiện hữu này được gọi tên ở bình diện thực hữu là ‘cura’ chăm lo. Điều kiện hữu thể cho khả tính tồn tại của ‘những nỗi lo toan cuộc sống’ và ‘lòng tận tụy’ cần phải được quan niệm là chăm lo, theo một nghĩa bản nguyên – tức là thuộc về bản thể luận. Mặt khác, tính ‘tổng quát’ siêu nghiệm của hiện tượng chăm lo và của mọi existentialia yếu tố cấu trúc hữu thể cơ bản khác đều đủ rộng để tạo ra nền tảng cho mọi cách diễn giải về Dasein hiện hữu người ở bình diện thực hữu và gắn liền với một thế giới quan, bất kể Dasein được hiểu là nỗi thống khổ (Không) và ‘những nỗi lo toan cuộc sống’ hay theo cung cách ngược lại. Chính tình trạng ‘trống rỗng’ và tính ‘tổng quát’ vốn tự bộc lộ ở bình diện thực hữu trong các cấu trúc hữu thể lại mang trong mình sự xác định và tính trọn vẹn riêng về mặt bản thể luận. Như vậy, toàn bộ cấu thành của Dasein không đơn giản trong nhất tính của nó, mà thể hiện khớp nối cấu trúc, được diễn đạt rõ ràng trong quan niệm hữu thể về chăm lo.

Như vậy, thông qua phép Diễn giải mang tính bản thể luận về Dasein, chúng ta đã đi từ phép tự diễn giải mang tính tiền-bản thể luận của Dasein về chính nó như là ‘chăm lo’ để đến với khái niệm hữu thể về sự ‘chăm lo’ này. Tuy nhiên, việc phân tích Dasein không nhằm mục đích đặt nền tảng bản thể luận cho nhân học; mục đích của nó thuộc về bản thể luận nền tảng. Đây chính là mục đích đã âm thầm định hướng tiến trình suy tư của chúng ta từ trước đến nay, cũng như việc lựa chọn các hiện tượng và giới hạn mà sự phân tích của chúng ta có thể theo đuổi. Giờ đây, xét đến câu hỏi chủ đạo về ý nghĩa của Hữu thể (Being) và cách thức giải quyết vấn đề này, cuộc khảo sát cần mang lại cho chúng ta sự xác nhận rõ ràng về những gì đã đạt được cho đến nay. Song, điều này không thể đạt được chỉ bằng việc tập hợp một cách hời hợt những gì đã thảo luận. Thay vào đó, nhờ những gì đã đạt được, vốn mới được chỉ ra một cách sơ lược ở phần đầu của phép phân tích hữu thể nay cần được cô đọng lại thành một sự hiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề.

43. Dasein, Thế gian tính và Thực tại

Câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể chỉ có thể đặt ra khi tồn tại một sự hiểu biết nào đó về Hữu thể. Hiểu biết về Hữu thể thuộc về loại Hữu thể mà cái hiện hữu mang tên ‘Dasein’ sở hữu. Việc chúng ta giải thích hiện hữu này một cách thích đáng và bản nguyên đến đâu sẽ quyết định mức độ chắc chắn mà chúng ta đạt được mục tiêu trong quá trình tiếp tục giải quyết vấn đề bản thể luận nền tảng. Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phân tích hữu thể sơ bộ về Dasein, [tr.245] đã nảy sinh một phép Diễn giải về thấu hiểu, ý nghĩa và việc diễn giải. Phép phân tích trạng thái được bộ lộ của Dasein còn cho thấy rằng, cùng với trạng thái này, Dasein—trong trạng thái cơ bản là Hữu-thể-trong-thế-giới—đã được bộc lộ về phương diện đồng-bản-nguyên liên quan đến: thế giới, Hữu-thể-trong và cái Tự Ngã (Self). Hơn nữa, trong trạng thái ‘được bộc lộ mang tính thực tại của thế giới, các thực thể trong-thế-giới cũng được phát hiện. Điều này hàm ý rằng Hữu thể của các thực thể này luôn được hiểu theo một cách thức nhất định, ngay cả khi nó không được quan niệm theo lối bản thể luận thích hợp. Quả thực, hiểu biết mang tính tiền-bản thể luận về Hữu thể bao hàm tất cả các thực thể vốn được mở ra một cách cốt yếu trong Dasein; song hiểu biết về Hữu thể vẫn chưa tự Khớp nối theo cách tương ứng với các phương thức Hữu thể khác nhau.

Đồng thời, diễn giải của chúng ta về thấu hiểu đã cho thấy rằng—do loại Hữu thể mang tính sa ngã—nó thường hướng sự chú ý của mình, trước hết và chủ yếu, vào việc hiểu về ‘thế giới’. Ngay cả khi vấn đề không chỉ là trải nghiệm mang tính ontic thực hữu mà còn là thấu hiểu mang tính bản thể luận, thì việc diễn giải về Hữu thể ngay từ đầu vẫn định hướng bằng trường hợp đầu tiên từ Hữu thể của các thực thể trong-thế-giới. Hệ quả là, cái Hữu thể của cái vốn sẵn-có-để-dùng bị bỏ qua, và các thực thể được quan niệm trước hết như một bối cảnh của các res Sự vật vốn hiện-diện-vô-tri. ‘Hữu thể’ có được ý nghĩa là ‘Hiện thực’. viii Tính thực thể trở thành đặc tính cơ bản của Hữu thể. Tương ứng với sự chuyển hướng này trong cách hiểu về Hữu thể, ngay cả cách hiểu mang tính bản thể luận về Dasein cũng dịch chuyển vào chân trời đó của quan niệm về Hữu thể. Giống như bất kỳ hữu thể nào khác, Dasein cũng được xem là hiện-diện-vô-tri với tư cách Hiện thực. Theo đó, ‘Hữu thể nói chung’ mang ý nghĩa ‘Hiện thực tính’. Vì vậy, khái niệm Hiện thực tính chiếm một vị thế ưu tiên đặc biệt trong các vấn đề bản thể luận. Bằng ưu quyền này con đường dẫn đến một phép phân tích hữu thể đích thực về Dasein bị chệch hướng, đồng thời làm sai lệch cách nhìn của chúng ta về Hữu thể của cái vốn ‘sẵn-có-để-dùng’ trong-thế-giới. Cuối cùng, nó đẩy vấn đề tổng quát về Hữu thể đi chệch khỏi quỹ đạo đúng đắn của nó. Các phương thức Hữu thể khác bị định nghĩa một cách tiêu cực và theo hướng khiếm khuyết khi đặt trong tương quan với Hiện thực tính.

Do đó, không chỉ phép phân tích Dasein mà cả quá trình giải quyết vấn đề về ý nghĩa của Hữu thể nói chung đều cần phải thoát khỏi khuynh hướng phiến diện khi xem xét Hữu thể theo nghĩa Hiện thực tính. Chúng ta cần chứng minh rằng Hiện thực tính không chỉ là một loại Hữu thể trong số các loại khác, mà xét về mặt bản thể luận, nó còn có mối liên hệ nền tảng xác định với Dasein, thế giới và tình trạng sẵn-có-để-dùng. Để chứng minh điều đó, chúng ta phải thảo luận về mặt nguyên tắc vấn đề Hiện thực tính, các điều kiện và giới hạn của nó. Dưới tiêu đề ‘vấn đề Hiện thực tính’, có nhiều câu hỏi khác nhau được tập hợp lại: (1) liệu có tồn tại bất kỳ thực thể nào được cho là ‘vượt ra ngoài ý thức của chúng ta’ [tr.246] hay không; (2) liệu Hiện thực tính của ‘thế giới bên ngoài’ này có thể được chứng minh một cách thỏa đáng hay không; (3) ở mức độ nào thì thực thể này—nếu nó thực sự Hiện thực—có thể được nhận thức trong tự thân Hữu-thể-trong của nó; (4) ý nghĩa của thực thể này—tức Hiện thực tính—là gì xét về mặt tổng quát. Phần thảo luận tiếp theo về vấn đề Hiện thực tính sẽ đề cập đến ba chủ đề liên quan đến câu hỏi về bản thể luận cơ bản: (a) Hiện thực tính như một vấn đề của Hữu thể, và liệu ‘thế giới bên ngoài’ có thể được chứng minh hay không; (b) Hiện thực tính như một vấn đề bản thể luận; (c) Hiện thực tính và Chăm lo.

(a) Hiện thực tính như một vấn đề của Hữu thể, và liệu ‘Thế giới Bên ngoài’ có thể được Chứng minh hay không.

Trong số các câu hỏi về Hiện thực tính này, câu hỏi được đặt ra đầu tiên là câu hỏi bản thể luận về việc ‘Hiện thực tính’ nói chung có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, chừng nào còn thiếu một hệ thống vấn đề và phương pháp luận thuần túy về bản thể luận, thì câu hỏi này (nếu thực sự được đặt ra một cách tường minh) tất yếu sẽ bị lẫn lộn với việc thảo luận về ‘vấn đề thế giới bên ngoài’; bởi lẽ, việc phân tích Hiện thực tính chỉ có thể thực hiện được khi ta có cách tiếp cận thích hợp đối với cái ‘Hiện thực’. Song, từ lâu người ta vẫn quan niệm rằng cách thức nắm bắt cái ‘Hiện thực’ là thông qua kiểu nhận thức mang đặc điểm của das anschauende Erkennen ‘chiêm nghiệm/quan sát trực quan’. Kiểu nhận thức như vậy tồn tại như một phương thức hành xử của linh hồn hoặc ý thức. Chừng nào Hiện thực tính còn mang đặc tính của một cái gì đó độc lập và ‘trong-tự-thân’, thì vấn đề về ý nghĩa của ‘Hiện thực tính’ sẽ gắn liền với câu hỏi liệu cái Hiện thực có thể độc lập ‘khỏi ý thức’ hay liệu có thể có tính siêu việt của ý thức vào ‘phạm vi’ của cái Hiện thực hay không. Khả tính thực hiện một phân tích bản thể luận thỏa đáng về Hiện thực tính phụ thuộc vào mức độ làm sáng tỏ về mặt Hữu thể của cái mà cái Hiện thực cần phải độc lập khỏi nó – tức là cái cần phải được siêu việt7. Chỉ bằng cách đó, ta mới có thể nắm bắt được về mặt bản thể luận loại Hữu thể thuộc về tính siêu việt. Và cuối cùng, ta phải xác định rõ kiểu tiếp cận tiên khởi nào mà ta có đối với cái Hiện thực, bằng cách giải quyết câu hỏi liệu sự nhận thức có thể đảm nhận chức năng này hay không.

Những khảo sát này – vốn có vị trí ưu tiên so với bất kỳ câu hỏi bản thể luận nào về Hiện thực tính – đã được thực hiện trong phần phân tích hữu thể trước đó. Theo phân tích này, nhận thức là một phương thức tiếp cận có cơ sở đối với cái Hiện thực. Về bản chất, cái Hiện thực chỉ có thể được tiếp cận dưới dạng các thực thể trong-thế-giới. Mọi sự tiếp cận các hiện hữu như vậy đều có cơ sở bản thể luận dựa trên trạng thái bản nguyên hơn của Dasein, tức là Hữu-thể-trong-thế-giới; và trạng thái này, đến lượt nó, lại có sự chăm lo với tư cách là trạng thái Hữu thể bản nguyên hơn nữa (vừa là việc vượt trước chính mình, vừa là Hữu thể đã ở trong một thế giới, với tư cách là Hữu thể bên cạnh các thực thể trong-thể-giới).  Câu hỏi liệu có tồn tại một thế giới hay không và liệu Hữu thể của nó [tr.247] có thể được chứng minh hay không sẽ trở nên vô nghĩa nếu được đặt ra bởi Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới; mà còn ai khác có thể đặt ra câu hỏi đó chứ? Hơn nữa, câu hỏi này còn vướng phải sự nhập nhằng về mặt ý nghĩa. Thế giới với tư cách là das Worin cái ‘trong-đó’ của Hữu-thể-trong, và ‘thế giới’ với tư cách là các thực thể trong-thế-giới (cái mà con người đắm mình vào das Wobei cái-trong-đó), đã bị đánh tráo hoặc hoàn toàn không được phân biệt với nhau. Tuy nhiên, thế giới được bộc lộ một cách thiết yếu cùng với cái Hữu thể của Dasein; và khi thế giới được bộc lộ, thì ‘thế giới’ cũng đồng thời được khám phá. Tất nhiên, các hiện hữu trong-thế-giới – theo nghĩa của cái Hiện thực chỉ đơn thuần hiện-diện-vô-tri – lại chính là những thứ có thể vẫn bị che giấu. Tuy nhiên, ngay cả cái Hiện thực cũng chỉ có thể được khám phá trên cơ sở một thế giới đã được bộc lộ. Và cũng chỉ trên cơ sở đó, một điều gì đó thuộc về cái Hiện thực mới có thể vẫn còn ẩn giấu. Câu hỏi về ‘Hiện thực tính’ của ‘thế giới bên ngoài’ được đặt ra mà không hề có sự làm sáng tỏ trước đó về hiện tượng thế giới tự thân. Trên thực tế, ‘vấn đề thế giới bên ngoài’ luôn định hướng theo các Sự vật và Khách thể trong-thế-giới. Do đó, các thảo luận này sa vào một hệ vấn đề về mặt bản thể luận thì gần như không thể nào gỡ rối được.

Phần ‘Bác bỏ Chủ nghĩa Duy tâm’ ix của Kant cho thấy các vấn đề này phức tạp đến mức nào, cũng như thứ mà người ta muốn chứng minh lại thường bị lẫn lộn với thứ thực sự được chứng minh và với phương thức thực hiện phép chứng minh đó. Kant gọi việc vẫn chưa có một bằng chứng thuyết phục nào về cái ‘Dasein của các Sự vật bên ngoài chúng ta’ — một bằng chứng có thể loại bỏ mọi sự hoài nghi — là ‘một tủi hổ của triết học và của lý tính con người nói chung’x. Bản thân ông đề xuất một bằng chứng như vậy, và thực tế là ông làm điều đó để tạo cơ sở cho cái ‘định lý’ của mình cho rằng: ‘Chỉ riêng ý thức về Dasein của chính tôi — một ý thức mang tính thực nghiệm — cũng đủ để chứng minh cái Dasein của các khách thể trong không gian bên ngoài tôi’.xi Trước hết, cần lưu ý rõ ràng rằng Kant sử dụng thuật ngữ ‘Dasein’ để chỉ loại Hữu thể mà trong khảo sát hiện tại, chúng ta gọi là ‘hiện-diện-vô-tri’. Đối với Kant, ‘ý thức về Dasein của tôi’ có nghĩa là ý thức về ‘hiện-diện-vô-tri’ của chính tôi theo quan niệm của Descartes. Khi sử dụng thuật ngữ ‘Dasein’, Kant nghĩ đến sự ‘hiện-diện-vô-tri’ của ý thức cũng nhiều như khi ông nghĩ đến cái ‘Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri’ của các Sự vật vậy.

Bằng chứng cho cái ‘Dasein của các Sự vật bên ngoài tôi’ dựa trên thực tế là cả sự thay đổi và diễn tiến đều thuộc về bản chất của thời gian với tính bản nguyên ngang nhau. Cái ‘Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri’ của chính tôi — tức là cái ‘Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri’ của vô số các biểu tượng được đưa ra trong giác quan nội tại — là một quá trình thay đổi mang tính hiện-diện-vô-tri. Tuy nhiên, để có một Zeitbestimmtheit đặc tính thời gian xác định, thì cần phải có một cái gì đó hiện-diện-vô-tri nhưng lại mang tính thường hằng. Nhưng cái này không thể ở ‘trong chúng ta’, vì ‘chỉ thông qua cái thường hằng như vậy thì Dasein [tr.248] của tôi trong thời gian mới có thể được xác định’.xii Do đó, nếu các thay đổi mang tính hiện-diện-vô-tri được đặt định về phương diện thực nghiệm ‘trong tôi’, thì nhất thiết phải có một cái gì đó thường hằng vốn hiện-diện-vô-tri cũng được đặt định theo cách thực nghiệm ‘bên ngoài tôi’. Cái trường tồn ở đây chính là điều kiện cho phép những thay đổi ‘trong tôi’ hiện-diện-vô-tri. Trải nghiệm về cái Hữu-thể-trong-thời-gian của các biểu tượng đặt định một cái gì đó đang thay đổi ‘trong tôi’ và một cái gì đó trường tồn ‘bên ngoài tôi’, đồng thời xác lập cả hai với tính bản nguyên ngang bằng nhau. Tất nhiên, chứng minh này không phải là một suy luận nhân quả và do đó không vướng phải những bất cập đi kèm với kiểu suy luận đó. Có thể nói, Kant đưa ra một ‘chứng minh bản thể luận’ theo khuôn khổ ý niệm về một thực thể mang tính thời gian. 

Thoạt nhìn, dường như Kant đã từ bỏ cách tiếp cận của Descartes – vốn xác lập một chủ thể có thể được nhận biết một cách biệt lập. Nhưng đó chỉ là vẻ bề ngoài. Việc Kant đòi hỏi phải có chứng minh cho cái ‘Dasein của các Sự vật bên ngoài tôi’ đã cho thấy ông lấy chủ thể – tức cái ‘trong tôi’ – làm điểm xuất phát cho vấn đề này. Hơn nữa, bản thân chứng minh của ông được thực hiện bằng cách bắt đầu từ những thay đổi mang tính thực nghiệm diễn ra ‘trong tôi’. Bởi lẽ, chỉ ‘trong tôi’ thì ‘thời gian’ mới được trải nghiệm, và thời gian chính là yếu tố gánh vác trọng tâm của chứng minh này. Thời gian cung cấp cơ sở để thực hiện bước chuyển sang cái ‘bên ngoài tôi’ trong quá trình chứng minh. Ngoài ra, Kant còn nhấn mạnh rằng: ‘Loại vấn đề [của chủ nghĩa duy tâm] – vốn chỉ khẳng định sự bất lực của chúng ta trong việc chứng minh bằng trải nghiệm trực tiếp rằng có một Dasein bên ngoài chính chúng ta – là hợp lý và phù hợp với lối tư duy triết học đúng đắn: đó là không đưa ra phán đoán dứt khoát nào cho đến khi tìm được một chứng minh thỏa đáng.’xiii

Tuy nhiên, ngay cả khi ta từ bỏ tính ưu tiên ontic thực hữu của chủ thể biệt lập và trải nghiệm nội tại, thì lập trường của Descartes vẫn được bảo tồn ở cấp độ bản thể luận. Điều mà Kant chứng minh – nếu giả định rằng chứng minh của ông là đúng đắn và có cơ sở xác đáng – là các thực thể đang thay đổi và các thực thể trường tồn nhất thiết phải cùng hiện diện như những thực thể hiện-diện-vô-tri. Song, khi hai sự vật cùng hiện diện như những thực thể hiện-diện-vô-tri được đặt ngang hàng với nhau như vậy, thì điều đó chưa có nghĩa là chủ thể và Khách thể cùng hiện-diện-vô-tri. Và ngay cả khi điều này được chứng minh, thì yếu tố mang tính quyết định về mặt bản thể luận vẫn sẽ bị che khuất – đó chính là trạng thái cơ bản của ‘chủ thể’ Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. Việc Hữu-thể-cùng-hiện-diện-vô-tri của cái vật lý và cái tâm lý khác biệt hoàn toàn—cả về mặt ontic thực hữu lẫn bản thể luận—so với hiện tượng Hữu-thể-trong-thế-giới. Kant mặc nhiên thừa nhận cả sự phân biệt giữa cái ‘trong tôi’ và cái ‘bên ngoài tôi’ lẫn mối liên hệ giữa chúng; xét về mặt thực tế, ông làm vậy là đúng, nhưng xét từ quan điểm về khuynh hướng của lập luận chứng minh thì ông lại sai. Người ta chưa chứng minh được rằng kiểu quy luật được xác lập về cái Hữu-thể-cùng-hiện-diện-vô-tri của cái biến đổi và [tr.249] cái bất biến—khi lấy thời gian làm đầu mối—cũng sẽ áp dụng được cho mối liên hệ giữa cái ‘ở trong tôi’ và cái ‘bên ngoài tôi’. Tuy nhiên, nếu ta nhìn thấy trọn vẹn sự phân biệt giữa cái ‘bên trong’ và cái ‘bên ngoài’ cũng như toàn bộ mối liên hệ giữa chúng — những thứ vốn là tiền đề cho chứng minh của Kant — và nếu ta có được một quan niệm mang tính bản thể luận về những gì đã được giả định trong tiền đề ấy, thì quan điểm cho rằng việc chứng minh cái ‘Dasein của các Sự vật bên ngoài tôi’ là một điều tất yếu nhưng noch ausstehend vẫn chưa được thực hiện, sẽ hoàn toàn sụp đổ.

‘Nỗi tủi hổ của triết học’ không nằm ở chỗ người ta chưa đưa ra được bằng chứng này, mà ở chỗ người ta cứ mãi kỳ vọng và cố gắng thực hiện những kiểu chứng minh như vậy. Những kỳ vọng, mục đích và yêu cầu đó nảy sinh từ một cách tiếp cận thiếu sót về mặt bản thể luận: khởi đầu với một cái gì đó mang đặc tính sao cho một ‘thế giới’ – tồn tại độc lập và nằm ‘bên ngoài’ thực thể đó – lại cần phải được chứng minh là đang hiện-diện-vô-tri. Vấn đề không phải là các bằng chứng đó khiếm khuyết, mà là loại Hữu thể của chính thực thể thực hiện việc chứng minh và đòi hỏi bằng chứng đó vẫn chưa được xác định một cách thỏa đáng. Chính vì vậy, việc chứng minh rằng hai sự vật đang hiện diện-tại-tay thì nhất thiết phải cùng hiện-diện-vô-tri với nhau có thể tạo ra ảo tưởng rằng điều gì đó đã được chứng minh – hoặc thậm chí có thể chứng minh được – về Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. Nếu Dasein được hiểu đúng đắn, nó sẽ khước từ những kiểu chứng minh như vậy, bởi lẽ ngay trong chính Hữu thể của mình, nó đã là cái mà các bằng chứng về sau cho là cần thiết phải chứng minh cho nó rồi.

Nếu ai đó kết luận rằng vì không thể chứng minh Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri của các Sự vật bên ngoài chúng ta, nên ta buộc phải ‘chấp nhận chúng chỉ dựa trên đức tin’, xiv thì người đó vẫn thất bại trong việc vượt qua sự sai lệch trong cách đặt vấn đề này. Giả định vẫn còn đó là: về mặt bản chất và lý tưởng, việc thực hiện một bằng chứng như vậy vẫn là điều khả thi. Cách tiếp cận vấn đề không thỏa đáng này vẫn được tán thành khi người ta chỉ giới hạn mình trong ‘niềm tin vào Hiện thực tính của thế giới bên ngoài’, ngay cả khi niềm tin đó được công khai ‘thừa nhận’ là như vậy. Dù không đưa ra một bằng chứng chặt chẽ, về nguyên tắc người ta vẫn đang đòi hỏi một bằng chứng và cố gắng thỏa mãn đòi hỏi đó. Ngay cả khi viện dẫn học thuyết cho rằng chủ thể phải tiền giả định – và thực tế luôn vô thức tiền giả định loại hiện-diện-vô-tri của ‘thế giới bên ngoài’, thì người ta vẫn sẽ bắt đầu với cái cấu trúc của một chủ thể biệt lập. Hiện tượng ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ là một thứ gì đó không thể bắt gặp theo cách này, cũng giống như không thể bắt gặp nó bằng cách chứng minh rằng cái vật lý và cái tâm lý cùng hiện-diện-vô-tri với nhau vậy. Với những tiền giả định như thế, Dasein luôn đến ‘quá muộn’; bởi lẽ chừng nào nó thực hiện việc tiền giả định này với tư cách là một thực thể (và nếu không thì điều đó là bất khả), thì với tư cách là một thực thể, nó đã hiện hữu trong một thế giới rồi. ‘Sớm hơn’ bất kỳ tiền giả định nào, hay bất kỳ cách hành xử nào Dasein thực hiện, chính là tính chất a priori tiên nghiệm trong trạng thái Hữu thể của nó - một loại Hữu thể là chăm lo.

[Tr.250] Việc đặt niềm tin vào Hiện thực tính của ‘thế giới bên ngoài’ dù đúng hay sai; việc ‘chứng minh’ Hiện thực tính này dù thỏa đáng hay không; việc giả định điều đó, dù tường minh hay không thì những nỗ lực kiểu này, khi chưa nắm bắt được cơ sở của chính mình một cách hoàn toàn minh bạch, đều tiền giả định một chủ thể vốn dĩ không có thế giới hoặc không chắc chắn về thế giới của mình, và do đó, về căn bản, chủ thể ấy trước hết phải tự xác tín về một thế giới. Như vậy, ngay từ khởi đầu, Hữu-thể-trong-thế-giới đã có khuynh hướng ‘tiếp nhận sự vật’ theo một cách thức nào đó—như giả định, xác tín, hay tin tưởng—một cách hành xử vốn luôn là một phương thức được xác lập dựa trên nền tảng của Hữu-thể-trong-thế-giới. 

____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘…das, der Geworfenheit verfallen, den Moglichkeiten lediglich noch nachhängt.’ [p.240]

2 ‘…in ein “Nur-immer-schon-bei…”.’ Ở đây chúng ta theo dõi cách đọc của các lần xuất bản sau. Các phiên bản trước đó có ‘“Nur-immer-schon-sein-bei…”’ (‘chỉ-luôn luôn ở bên cạnh’). [tr.240]

3 ‘Dagegen ist der Drang “zu Ieben” ein “Hin-zu”, das von ihm selbst her den Antrieb mitbringt.’ Chữ in nghiêng của ‘Drang’ chỉ xuất hiện trong các ấn bản sau này. [tr.240]

4 ‘…das Bedrüngtsein des Daseins aus ihm selbst cô ấy…’. [trang 240]

5 ‘Sự chứng thực của diễn giải hiện sinh về Daseins như một nỗi ám ảnh từ sự tự hủy hoại bản thân của Daseins.’ [trang 241]

6 Trong cả hai ấn bản trước và sau, Heidegger đều dùng 'videt' ở dòng đầu tiên của phiên bản tiếng Latinh của truyện ngụ ngôn, trong khi Bücheler, người mà văn bản được lấy từ đó, lại dùng 'vidit'; ở dòng thứ 12, Heidegger dùng 'eninl' trong khi Bücheler dùng 'eum'. Dấu câu của phiên bản tiếng Latinh giống như Bücheler đã đưa ra. Dấu ngoặc đơn trong bản dịch tiếng Anh hoàn toàn tương ứng với dấu ngoặc kép trong phiên bản của Heidegger; một số dấu ngoặc kép này không có trong bản dịch của Burdach, mà ngoại trừ hai thay đổi hoàn toàn nhỏ nhặt, Heidegger đã sao chép rất chính xác. (Về Bücheler và Burdach, xem ghi chú v, ad Joe của Heidegger.) Bản dịch của chúng tôi là sự dung hòa giữa Burdach và nguyên bản tiếng Latin. [tr.242]

7 ‘…das, wovon Unabhangigkeit bestehen soli, was transzendiert werden soll…’ [p.246]

8 ‘…warum das Dasein als In-der-Welt-sein die Tendenz hat, die “Aussenwelt” zunachst “erkenntnistheoretisch” in Nichtigkeit zu begraben urn sie dann erst zu beweisen.' [tr.250]

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét