Powered By Blogger

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

Phan Huy Lê và 4000 năm lịch sử Việt Nam



Phan Huy Lê và 4000 năm lịch sử Việt Nam

Le Minh Khai

Người dịch: Hà Hữu Nga


Lời người dịch: Trên trang mạng leminhkhai.wordpress.com có một số bài viết ngắn đề cập đến các vấn đề quan trọng về lịch sử, văn hóa Việt Nam; đề cập đến các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa hàng đầu của Việt Nam. Chúng tôi cố gắng dịch và chuyển tải đến những ai liên quan - quan tâm, và mong rằng các vị sẽ có các trao đổi giúp làm rõ vấn đề mà tác giả Le Minh Khai [Liam Christopher Kelley] đặt ra nhằm thúc đẩy học thuật phát triển.


Phan Huy Lê, Trần Quốc Vương, Hà Văn Tấn và Lương Ninh đã xuất bản một cuốn giáo trình vào những năm 1980 để sử dụng trong các trường đại học tại Việt Nam, có tiêu đề Lịch sử Việt Nam.

Phan Huy Lê viết chương sơ sử. Tại chương này, ông cho rằng một trong những thành tựu chính của giới nghiên cứu những năm 1960 – 1970 là đã xác lập được “một cơ sở tư liệu khoa học về thời đại Hùng vương”. Theo ông, nguồn thông tin đáng tin cậy nhất đã có được từ các cuộc khai quật và nghiên cứu khảo cổ học.

Ông cũng đã đưa ra những nhận xét về thời kỳ mà các vua Hùng cai quản vương quốc Văn Lang như sau: “Về thời gian tồn tại của “nước Văn Lang” thì giới hạn sau có thể xác định vào khoảng thế kỷ III tr.CN khi nước Âu Lạc thành lập thay thế cho nước Văn Lang, nhưng giới hạn mở đầu thì rất mơ hồ. Truyền thuyết và thư tịch cổ đặt “nước Văn Lang” trong một thời đại truyền thuyết gọi là “kỷ họ Hồng Bàng” gồm các đời Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương, mà đến thế kỷ XV, Ngô Sĩ Liên khi viết phần Ngoại kỷ của bộ Đại Việt sử ký toàn thư đặt cho một niên đại mở đầu là năm Nhâm tuất tức năm 2879 tr. CN. Như trong phần “phàm lệ,” Ngô Sĩ Liên đã nói: “việc chép trong Ngoại kỷ là gốc ở dã sử,” và “từ Hùng Vương trở về trước không có niên biểu.” Niên đại mở đầu “kỷ họ Hồng Bàng” là một niên đại do tác giả suy đoán: “Kinh Dương Vương. . . cùng với Đế Nghi đồng thời, cho nên chép năm đầu với năm đầu của Đế Nghi.” Quan niệm dân gian phổ biến coi thời Hùng Vương đến nay khoảng 4,000 năm với cách nói quen thuộc như: “bốn nghìn năm mở nước,” “bốn nghìn năm dựng nước,” “bốn nghìn năm văn hiến”. . .Có thể coi đó là một niên đại truyền thuyết làm cơ sở cho việc giới hạn phạm vi thời gian cần nghiên cứu về thời đại Hùng Vương”.

Liệu có nhận xét nào trong đoạn trên có chút ý nghĩa không? Phan Huy Lê muốn nói điều gi?

Ông cho rằng quan niệm dân gian là có “4000 năm lịch sử”, nhưng dân gian trong quá khứ nói gì? Liệu 1000 năm trước người Việt nói về “3000 năm lịch sử” không? 500 năm trước họ có nói về “3500 năm lịch sử” không? Nếu có thì bằng chứng ở đâu? Nếu không thì tại sao lại nói quan niệm dân gian về “4000 năm lịch sử” là rất quan trọng? Tại sao thông tin này lại cứ phải liên quan đến hiểu biết của chúng ta về thời sơ sử nếu đó vẫn còn là quan điểm cho đến bây giờ vẫn còn mới?

Thế còn Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân thì sao? Nếu họ là huyền thoại thì tại sao lại nói về họ? “Tư liệu khoa học” nào cho thấy sự tồn tại của họ?

Và cái gì là “khoa học” khi sử dụng một “giai đoạn truyền thuyết” để “làm cơ sở cho việc giới hạn phạm vi thời gian cần nghiên cứu về thời đại Hùng Vương”?. Phải chăng các nhà nghiên cứu không sử dụng “tư liệu khoa học” như các bằng chứng khảo cổ để xác định giới hạn thời gian của thời đại Hùng vương?

Cuối cùng Phan Huy Lê còn đặt các thuật ngữ như “nước Văn Lang” và “kỷ họ Hồng Bàng” trong ngoặc kép cứ như để cố tỏ ra rằng chúng tôi không khẳng định chắc chắn rằng chúng là thật, nhưng đến cuối đoạn người đọc bị đưa vào tình huống đối đầu không bằng chứng với quan niệm cho rằng lịch sử Việt Nam phải dài tới 4000 năm và vì vậy mà phải bao gồm trong đó cả “giai đoạn truyền thuyết” ấy.

Tôi cho rằng đoạn này là một ví dụ tuyệt vời về sự cố một thức giả buộc phải viết một đoạn mang tính dân tộc chủ nghĩa phục vụ cho nhà nước. Kết quả là một mớ thông tin tuyệt tạp. Nghe thì hay ho nhưng lại chẳng có ý nghĩa gì.
_____________________________________


Nguồn: Le Minh Khai [Liam Christopher Kelley] 2010, Phan Huy Lê and 4,000 Years of Vietnamese History, leminhkhai.wordpress.com/17Nov10



Trào lưu vùng trong bối cảnh toàn cầu hóa (II)



Trào lưu vùng trong bối cảnh toàn cầu hóa (II)

Hà Hữu Nga

Văn hóa vùng trong trào lưu toàn cầu hóa

Trào lưu vùng dù được qui về lĩnh vực chính trị học, về cả phương diện từ nguyên lẫn thực tiễn, tuy nhiên chúng ta vẫn cần phải trả lời một câu hỏi mà các nhà khoa học xã hội không thể lảng tránh. Văn hóa có vị trí gì trong quá trình toàn cầu hóa? Các nhà nghiên cứu xã hội học chô rằng đặc trưng toàn cầu hóa không phải là khuynh hướng của các văn hóa vùng và quá trình hội tụ như vậy rõ ràng là hướng tới một văn hóa toàn cầu – một hiện tượng được gọi một cách giễu nhại là “McDonal hóa” thế giới (cái tên do Ritzer đặt ra). Quá trình McDonal hóa tập trung vào việc tiêu chuẩn hóa các tương tác xã hội trước hết được phát triển trong sản xuất hàng hóa công nghiệp hàng loạt, sau đó được chuyển giao thông qua việc tổ chức hệ thống cửa hàng ăn nhanh để thực hiện mỗi trao đổi giữa khách hàng và người cung cấp sản phẩm và dịch vụ. Ở một khía cạnh nào đó, toàn cầu hóa đã được thể hiện một cách kinh nghiệm chủ nghĩa bằng cách tiêu thụ hamburgers. Một ví dụ nổi tiếng về sự thành công của hệ thống tổ chức McDonald là việc khai trương một nhà hàng McDonald tại Moscow. Tuy nhiên một Big Mac ở Moscow không có hương vị như một Big Mac ở Mỹ.

Bản thân Ritzer đã đưa ra một ví dụ thú vị về một hợp nhất (nhưng không phải là duy nhất) của các hệ thống tổ chức: một đặc trưng của nhà hàng McDonald tại Moscow là khách hàng xếp hàng dài chờ đợi tại lối vào nhưng một cửa hàng khác thì “người làm dịch vụ” lại cung cấp cho khách hàng các Big Mac trong vòng 15 phút nếu có một khoản lót tay nhỏ. Vậy là sự hấp dẫn ghê gớm của loại nhà hàng ăn nhanh này dường như bắt nguồn từ hình tượng của nó chứ không phải là sự vận hành của nó. Ăn một bữa ăn nhanh của McDonal ở Moscow lại không hề nhanh như nó được hứa hẹn tại Mỹ. Giá cho một bữa ăn như vậy giờ đây cũng đang tăng lên, đã tạo thêm mâu thuẫn với chiến lược marketing đầu tiên của McDonald. Kết quả trớ trêu đó là một sự pha trộn hoàn hảo của hai hệ thống Nga và Mỹ. Ở Moscow, việc cung cấp cho ai một cái gì đó trước hết là vấn đề tiếp xúc và các mối quan hệ đúng; ở đây theo đúng nghĩa thì “thời gian không phải là tiền bạc”, mà những nhân tố sáng tạo hiện nay đã kết hợp hai hệ thống lại với nhau bằng cách tạo ra một logic tương tác mới. Tương tự như vậy, trước khi đưa sản phẩm của mình ra thị trường các giám đốc có đầu óc sáng tạo của các công ty có một thị trường toàn cầu (“những người chơi toàn cầu”) luôn xem xét kỹ lưỡng các đặc trưng vùng và cố gắng phát triển các mối quan hệ địa phương [Hahn 2005: 92]. Coca-Cola và Sonny mô tả nhiệm vụ này là “địa phương hóa toàn cầu” [Beck 1997]. Chúng ta đang được chứng kiến một nghịch lý ghê gớm: một mặt nhu cầu tiêu chuẩn hóa vì các mục đích tổ chức toàn cầu, và mặt khác là việc tìm kiếm “tính chất xác thực” trong các vùng. Tác động của vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được xác định.

Tình trạng nước đôi này có thể được làm rõ bằng cách xem xét thực chất của cái mà Mill C. Wright [1959] đã gọi là “sự tưởng tượng xã hội học” hoặc Georg Simmel gọi là “nhãn kiến xã hội học” của các xã hội. Trong quan niệm chung nhất của nó xã hội học qui về sự phát hiện ra các cấu trúc trong đời sống xã hội. Các cấu trúc này được tạo ra bởi các mạng tiếp xúc giữa người và người và thường là những kết quả đã được định trước của các tương tác này. Điều đó củng cố cho việc tập trung vào các quá trình giao tiếp có thể nhìn thấy trong khuôn khổ của một phổ giữa hai cực, giao tiếp địa phương mặt đối mặt và cái gọi là truyền thông đại chúng. Sự đồng tồn tại của hai loại hình giao tiếp này có tầm quan trọng đặc biệt. Các lý thuyết xã hội học gần đây có thể giúp chúng ta phân tích các hiệu quả xã hội của các phương tiện giao tiếp hiện đại trong các vùng trong một bối cảnh mà vùng không còn được coi là các không gian hoặc các lãnh thổ được vạch ranh giới nữa. Để thảo luận các lý thuyết này, Hahn [2005: 93] đưa ra ba thuật ngữ chủ chốt: “tộc cảnh”, “cầu phương hóa”, và “biệt gộp”. Chúng ta có thể thấy một khía cạnh rất quan trọng trong khái niệm cầu phương hóa của Hahn là ở chỗ khái niệm này là một phương trình hồi qui, nó chứa đựng không phải hai mặt của một vấn đề như những cách nhìn “biện chứng” giữa hai mặt đối lập; ngược lại đây là một lối nhìn vào một thế giới song hành tồn tại và vận động của những sự kiện, những quá trình không đấu tranh với nhau, không loại trừ nhau mà nương tựa vào nhau, vào điều kiện tồn tại và phát triển cho nhau. Từ đó chúng ta có thể thấy rằng toàn cầu hóa không nhất thiết đồng hóa mọi văn hóa, ngược lại toàn cầu hóa làm cho các nền văn hóa riêng biệt có điều kiện khẳng định bản sắc văn hóa của mình.

Theo Hahn, thuật ngữ mới “tộc cảnh” qui chiếu vào một thực tế là căn nguyên của các bản sắc văn hóa chắc chắn không gắn liền với sự hiện diện của chúng trong một vùng nhất định nào đó [Appadurai 1991]. Ngược lại vô số bản sắc văn hóa có thể phát triển trong cùng một vùng. Cái đặc biệt có ý nghĩa khi mô tả một nhóm tộc người hoặc một văn hóa không thể có nguồn gốc riêng biệt từ những điều kiện nội tại trong đời sống của nhóm. Thế giới hiện đại thường được coi là một lọat các cộng đồng hòa trộn hoặc chuyển tiếp thay vì một số lượng nhất định các xã hội dân tộc. Trong trường hợp này việc tổ chức các mối quan hệ xã hội và cuộc sống hàng ngày không dựa trên sự phân loại vùng – theo nghĩa không gian. Hơn nữa hiện nay một vùng được xác định bằng sự pha trộn văn hóa cụ thể, và những cách thức cụ thể mà các sự kiện toàn cầu được đan dệt với các cấu trúc địa phương. Mặt khác, vùng là một hỗn hợp của các mối quan hệ xã hội vùng và xuyên quốc gia. Qúa trình “toàn cầu hóa” đã cho thấy rằng vùng vẫn là một vị trí mà ở đó các sự kiện toàn cầu và các ảnh hưởng là có tính chất trung gian và được con người trải nghiệm. Hàng lọat vùng và văn hóa không phải là “phi không gian” mà người ta đặc biệt chú ý đến tính mở của các không gian xã hội và môi trường của chúng [Beck 1997: 118-119]. Quan điểm này cho rằng các cộng đồng người khác nhau “nắm bắt” một cách chọn lọc các yếu tố từ các văn hóa đô thị để “tạo dựng” một phương tiện lai tạp để khớp nối kinh nghiệm và các đặc phẩm về phương diện lịch sử và xã hội riêng lại với nhau [Barber and Waterman 1995: 240]. Cách nhìn nhận này nhấn mạnh vào vai trò năng động và sáng tạo của con người với tư cách là những người sản xuất văn hóa chứ không phải là thể hiện chúng như những nạn nhân thụ động của toàn cầu hóa.

Cuối cùng điều này dẫn đến một câu hỏi: người ta cần phải hiểu như thế nào về các ranh giới giữa các nhóm văn hóa mà giờ đây các ranh giới không gian đã không còn giá trị nữa. Trong trường hợp này chúng ta có thể chỉ ra cái luận cứ “phân biệt gộp” đã nói. Điều đó có nghĩa là các ranh giới không phải được tạo dựng bằng cách “loại trừ” hoặc “chia tách” – mà thực tiễn hơn – bằng cách nhìn nhận rằng chúng không có cơ hội để tham gia vào tất cả các nhóm hoặc để hấp thụ tất cả mọi thông tin mà người ta tung ra. “Phân biệt gộp” ấn định một phương tiện nhất định để quan sát đời sống xã hội. Những phương tiện này hạ thấp tầm quan trọng của sự chia tách giữa các phạm trù xã hội hoặc các nhóm để làm nổi bật những giao điểm tạo ra những mối quan hệ mới giữa các nhóm và các phạm trù xã hội. Trong việc gắn kết các cấu trúc xã hội và văn hóa “Phân biệt gộp” không phân biệt giữa “cũng/hoặc” mà nhấn mạnh “cũng như”. Các lý thuyết và các luận cứ này gợi ý các phương pháp phân tích trào lưu vùng hoặc “các văn hóa vùng” trong các xã hội toàn cầu. Chúng chỉ ra rằng chúng ta không nên quá mất công thực hiện việc “phân biệt loại trừ” và không nên tìm kiếm các ranh giới và các khác biệt bất biến do tăng cường các quá trình đồng hóa của các nhóm văn hóa [Hahn 2005: 94]. Hoàn toàn có thể coi đây là một trong những đóng góp lớn của Hahn vào việc xây dựng một cách tiếp cận mới về văn hóa, đó là lối tiếp các quá trình bổ sung mà không bài trừ nhau, chúng ta có thể gọi đó là phép biện chứng tổng quát, trong khi sự vận động và đấu tranh giữa hai mặt đối lập là trường hợp riêng của phép biện chứng này.

Căn cứ vào một thực tế là quá trình toàn cầu hóa thể hiện trong quá trình lai tạp mới các cấu trúc và bản sắc toàn cầu thì các mâu thuẫn của toàn cầu hóa sẽ được phát hiện ra chủ yếu trong quá trình sống của các cá nhân. Như Ulrich Beck đã nói: Chúng ta đang sống “toàn cầu” và chúng ta trải qua hiện tượng này trong các cuộc sống gia đình đa văn hóa, trong kinh doanh, trong tương tác và giao tiếp với bạn bè, xem phim, mua sắm, và nghe nhạc [Beck 1997: 129]. Vì vậy các tiểu sử “hiện đại” đã đưa ra một sự thỏa hiệp giữa tất cả các tư tưởng cá nhân về các cơ hội và các thách thức trong một môi trường “mở” của các hành động và cái có thể thực sự được thực hiện. Điều này tác động đến việc lý giải trào lưu vùng. Trước hết chúng ta có thể nói rằng giá trị và việc định giá một vùng chỉ có thể được phát triển khi có dịp trải nghiệm sự phân chia không-thời gian” trong các tiếp xúc hoặc “phép gián cách” khỏi nơi đó [Robertson 1998: 215]. 

Vì vậy thảo luận về một vùng có nghĩa là bất cứ khi nào việc thảo luận về hình ảnh của nó hoặc cách thức mô tả vùng được thể hiện bằng cái nhìn của người dân sống ở đó. Anthony Giddens đã viết: “Trong các điều kiện tính hiện đại, quê hương, nơi chốn ngày càng trở thành ảo ảnh…Cái cấu trúc nên nơi chốn lại không đơn giản là cái giờ đây đang hiện diện; “hình thức thị giác” của nơi chốn che đậy những mối quan hệ đã trở nên xa cách là cái quyết định thực chất của nó [Giddens 1990: 18-19]. Cuối cùng việc nhận thức sâu sắc về “tộc cảnh” cần phải có sự phát triển các phương pháp mới bằng cách coi văn hóa của một nhóm xã hội kết hợp một số tiêu chuẩn vùng và liên vùng bao gồm cả sự thay đổi các suy tư về cái đặc trưng cho vùng. Khi Robertson lý giải quá trình toàn cầu hóa thì ông đã phát hiện ra rằng trong quá trình này, tính đặc thù đang trở thành một giá trị toàn cầu [Robertson 1992]. Điều này làm cho bản sắc trở thành một cấu trúc phức tạp. Một mặt người ta phản đối ầm ĩ nhân danh lòng trung thành với các giá trị địa phương và tự mình làm vững dạ mình bằng những gì đã quá đỗi thân quen trong một thế giới đang toàn cầu hóa không gì cưỡng lại được. Mặc khác người ta lại đánh giá cao các tư tưởng chủ nghĩa thế giới và tham dự vào các lối sống theo chủ nghĩa thế giới [Beck 1997: 91; Giddens 1990: 140]. Trước khi tập trung vào các phương pháp kinh nghiệm chủ nghĩa Honnighausen đã đưa ra một số gợi ý từ một số kết quả kinh nghiệm chủ nghĩa bằng cách dẫn Daniel Miller như sau:

Hãy “thử cố gắng tìm hiểu xem tại sao Lễ Giáng sinh lại gia sức bành trướng trên toàn thế giới…Chúng ta cần lưu ý rằng lễ hội này vừa đáng yêu đối với các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian với tư cách là những người luôn luôn cất công tìm cho ra các tập quán địa phương đi kèm với nó, và lại cũng phát triển như một lễ hội tiềm tàng khả năng toàn cầu nhất trong các quốc gia Thiên chúa giáo…Trong khi các nhà triết học vật lộn với câu hỏi: cái gì được gọi là “đang tồn tại trong ngôi nhà trên trần thế” thì những người làm lễ Giáng sinh lại coi đây là một ngữ đoạn theo đúng nghĩa đen. Lễ Giáng sinh tôn thờ ngôi nhà với tư cách một đời sống gia đình thuần túy, một nơi chốn duy nhất mà người ta thực sự có mặt trong buổi lễ. Sau đó nó sử dụng thế giới vi mô của đời sống gia đình để hoàn thiện ý nghĩa toàn cầu, nó hình dung tất cả các dân tộc trên thế giới tiến hành cùng một nghi lễ trong cùng một thời điểm như là một gia đình toàn cầu vậy. Như vậy lễ Giáng sinh vừa tạo ra tính chất có thể so sánh với nhau về phương diện biểu tượng cũng như thực tế giữa cái vũ trụ xã hội lớn nhất (hoặc đối với người theo tôn giáo – nó có tính vũ trụ luận) mà chúng ta được mời gọi để hình dung ngay cả cái vũ trụ xã hội nhỏ nhất mà chúng ta có ý giả định [Miller 1995: 18].

Quan sát này mâu thuẫn với lý thuyết nổi tiếng của Joshua Meyrowitz. Bằng cách dồn nén vào mấy chữ “Nơi chốn là vô nghĩa”, Meyrowitz nhấn mạnh tuyên bố này để lý giải các thông tin được truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng đã tác động như thế nào đến các mối quan hệ giao tiếp mặt đối mặt. Chắc chắn là một khối lượng khổng lồ phim ảnh và TV ở các xưởng sản xuất Hollywood được lưu hành trên toàn thế giới cần phải được xem xét một cách cẩn thận khi đánh giá các tương tác và các kinh nghiệm về quê hương bản quán. Nhưng trong bối cảnh này, nghiên cứu kinh nghiệm chủ nghĩa sẽ đưa lại cho chúng ta những gợi ý về việc thấu hiểu các nội dung truyền thông. Để chỉ ra cách thức nghiên cứu kinh nghiệm chủ nghĩa hướng dẫn cho chúng ta cách thức tìm hiểu tư liệu truyền thông, chúng ta có thể đưa ra một số kết quả của một dự án “các cách đọc liên văn hóa Dallas”. Các tác giả Tamar Liebes và Elihu Katz đã cố lý giải việc “xuất khẩu nghĩa” của hàng lọat Dallas rất nổi tiếng [Liebes and Katz 1990]. Nhưng họ đã thấy là không thể xuất khẩu nghĩa bằng truyền hình. Họ đã nhấn mạnh một cách cụ thể đặc trưng của tri giác, là cái trước hết tạo ra nghĩa và có thể phân biệt theo thành viên nhóm xã hội. Khi Liebes và Katz cố gắng phát hiện ra những người thuộc các dân tộc khác nhau (Nga, Arab, Nhật, Mỹ, và Do Thái sống trong một kibbutz – khu định cư Do Thái) “đã thấy” gì khi họ xem Dallas, họ bắt đầu biết được rằng những lý giải của họ là mâu thuẫn. Chẳng hạn trong một đoạn, Sue Ellen đã bỏ chồng cô là J. R. lại để quay trở về với người yêu cũ của cô và sống với anh ta trong ngôi nhà của cha anh ta. Khi các tác giả thảo luận về sự kiện này tất cả nhóm Arab đều tin chắc rằng Sue Ellen đã trốn thoát khỏi J.R. và quay trở về với ngôi nhà của cha cô. “Lý giải” sai lầm này cho thấy sự thống trị của cả hai cách đọc địa phương và tính chất bền vững của việc tạo ra các kinh nghiệm chung trong các nhóm xã hội. Khẩu hiệu “Nơi chốn là vô nghĩa” có thể được thảo luận theo cách cấu trúc vĩ mô hơn. Blackely và Snyder đã nhấn mạnh rằng “việc sử dụng không gian vật lý để tạo ra vị trí xã hội là một truyền thống sâu đậm và dài lâu của Mỹ” [Blakeley and Snyder M.G. 1999: 1]. Truyền thống này được áp dụng vào một loại hình hiện đại của vị thế cư trú, “các cộng đồng đóng kín”.

Trào lưu vùng, toàn cầu hóa và quyền tự trị xã hội

Các cộng đồng khép kín bảo lưu một đặc trưng tổ chức xã hội đến mức mà các thành viên của cộng đồng đó tìm mọi cách để phân biệt khi chia bất động sản của họ. Một mặt việc phân vùng các cộng đồng đóng kín tạo ra một đặc trưng mới nào đó, cho dù cộng đồng đó bị phân rã. Sự tách biệt (vì những lý do nào đó) thực sự sản sinh ra một mối gắn bó thống nhất các cư dân lại và cho phép họ sống mà không để lộ tung tích của mình như là những gia đình biệt lập hoặc đơn chiếc (chừng nào họ còn tôn trọng rất nhiều nguyên tắc và qui định bắt buộc chẳng hạn như phải trang trí mặt tiền ngôi nhà của họ như thế nào và thậm chí các hành vi của họ bên ngoài bức tường ngôi nhà của mình ra sao). Nói tóm lại các cộng đồng đóng kín trong tổ chức không gian riêng biệt của họ cho phép họ sống mà không tiếp xúc với mọi người xung quanh mình. Tuy nhiên điều đó dẫn đến một vấn đề: Liệu có phải các cư dân đóng kín đó sắp xếp các mối quan hệ xã hội mà không quan tâm đến không gian vật chất (như NY-LON chẳng hạn) mà chỉ quan tâm đến tính vận động của không gian và việc giao tiếp theo “không gian điều khiển” hay không? Ngay cả khi sống theo quan niệm “nơi chốn là vô nghĩa” theo một lối sống cũ theo truyền thống tạo ra sự phân biệt Châu Âu. Thay thế cho việc chia tách không gian thì sự phân biệt xã hội được tổ chức theo những cách thức khác nhau hay bằng việc thể hiện của các mô hình tiêu thụ nhất định về phương diện biểu tượng bằng cách cam kết với bất cứ vị thế hoặc giai cấp nào của mọi người trong một đơn vị không gian [Veblen 1991]. Thậm chí ngay cả ở đây ảnh hưởng của toàn cầu hóa cũng sẽ là một đề tài cực kỳ hấp dẫn cần được tiếp tục nghiên cứu thêm.

Hahn gợi ý rằng các phương pháp phân tích trào lưu vùng trong một thế giới toàn cầu hóa phải đem đến một phương tiện quan sát nhằm trả lời cho các câu hỏi này: Trào lưu vùng có thể được trải nghiệm như thế nào trong một thế giới “phân ly không-thời gian”? Làm thế nào để những ảnh hưởng và suy tư về “sự phân ly không-thời gian” được mô tả bằng cách kết nối với các trải nghiệm về một nơi chốn nhất định? Từ quan điểm này liệu chúng ta có thể nhận thấy nhu cầu kết nối giữa các viễn cảnh phân tích vĩ mô và vi mô cũng như nhu cầu nhấn mạnh vào các mô thức lý giải chủ quan về các tác nhân? Hơn nữa quá trình toàn cầu hóa chỉ có thể được làm chủ bằng cách khảo sát các trạng huống xã hội, các tương tác địa phương, hoặc các dấu hiệu biểu trưng được qui vào các điều kiện toàn cầu. Gần đây người ta đã phát triển một số phương pháp nghiên cứu văn hóa dựa trên những tiếp cận bổ sung trước hết được phát triển trong các bộ môn khác nhau. Việc bổ sung cho phương pháp nghiên cứu kinh nghiệm cổ điển trong xã hội học vẫn thường dựa trên các dữ kiện vĩ mô thuộc các cấu trúc kinh tế xã hội. Giờ đây rất cần có thêm các phương pháp của những lĩnh vực nghiên cứu khác. Chẳng hạn việc nghiên cứu tiểu sử hoặc lịch sử truyền miệng, việc lý giải văn liệu thì các phương pháp địa lý, ngôn ngữ học, và các mô tả về phương pháp luận tộc người hoặc nhân học tất cả đều đưa ra cách tiếp cận các kinh nghiệm cá nhân. Khi đề cập đến tầm quan trọng của việc xem xét ảnh hưởng chung của các cấp độ vi mô và vĩ mô của tư liệu, cần đặc biệt nhấn mạnh đến hai phương pháp. Các phương pháp này gắn kết dữ liệu vĩ mô với dữ liệu vi mô đến mức chúng có thể bổ sung cho nhau. Mỗi phương pháp thể hiện một mô thức phân tích xã hội học về các văn hóa vùng.

Cách tiếp cận đầu tiên được R.T. McKenzie phát triển. Ngay từ những năm 1920s-1930s ông đã là thành viên của một nhóm các nhà xã hội học sau này trở nên nổi tiếng với tên gọi là Trường phái Xã hội học Chicago. McKenzie đã đưa ra một số nguyên tắc gắn liền với lý thuyết nổi tiếng của Trường phái Chicago về sinh thái học xã hội cho đến nay vẫn còn hữu dụng như một phương pháp phân tích kinh điển về không gian xã hội. Lý thuyết này được giành riêng cho cách tiếp cận chức năng để củng cố một viễn cảnh vĩ mô. Trong khái niệm “sinh thái xã hội” của mình, McKenzie đã chỉ ra rằng khái niệm sinh thái bao gồm tất cả các quá trình (được tạo bởi các tương tác và các thể chế) trong một không gian. Đặc biệt hơn, nó phân tích cách thức phân bố con người và các họat động của họ trong không gian phù hợp với các loại hình tổ chức đặc biệt trong một vùng và với các hình thức liên hệ chặt chẽ với cái không gian đặc biệt đó. Vì vậy “những đơn vị sinh thái” khác nhau có thể được phân biệt theo các nguyên tắc tổ chức nội tại. Để phân biệt các nguyên tắc này McKenzie đã xác định những phạm trù không gian xã hội sau đây: i) Tính di động và dao động: thay đổi các vị trí của cư dân, nơi làm việc hoặc hàng hóa vì tính động của sự tiến bộ văn hóa và công nghệ; ii) Khoảng cách: sự mở rộng không gian và giao thông vận tải tùy thuộc vào sự cân bằng về thời gian và chi phí; iii) Mức độ tập trung: mật độ người trong một giai đoạn nhất định; iv) Trung tâm hóa: các trung tâm hấp dẫn đặc biệt mà rất đông người thường xuyên lui tới một cách tạm thời; v) Sự chia tách: sự thay đổi mật độ trong các nhóm cư dân để tạo nên một cộng đồng có thể là đồng nhất hoặc khác biệt hơn về phương tiện tài chính, điều kiện ngôn ngữ, tộc thuộc, và …vv.; vi) Sự xâm nhập: sự chuyển chỗ của các nhóm cư dân tạo ra bởi sự chia tách; vii) Sự kế tiếp: một quá trình thay đổi tuần hoàn trong việc tận dụng một không gian đến mức các loại cư dân khác nhau hoặc các hình thức sử dụng không gian khác nhau xảy ra kế tiếp nhau (kể cả kết quả của sự xâm nhập).

Các phạm trù này vẫn còn giá trị khi tiến hành một phân tích cấu trúc, nhưng nó sẽ trùng với một quan điểm gần hơn với chủ thuyết thế giới vi mô. Cách tiếp cận thứ hai dựa trên khái niệm tương tác biểu tượng xuất phát từ Clifford Geertz. Geertz đã đưa ra phương pháp “miêu tả dày”, có thể giúp hoàn thành các dữ liệu vĩ mô “bề mặt” bao gồm cả viễn cảnh vi mô của các tác nhân [Geertz 1973]. Ngược lại với cách tiếp cận của McKenzie nhấn vào tổ chức xã hội của không gian, “miêu tả dày” của Geertz lại tập trung vào các phương biểu tượng của hành động xã hội, hoặc các ý nghĩa mà tự thân các tác nhân gán cho các biểu tượng trong khi tương tác. Vì vậy phương pháp này dựa trên cách tiếp cận verstehen (nhận thức) của Max Weber, một trong những nền tảng phương pháp luận nổi tiếng nhất trong các khoa học xã hội. Căn cứ vào đó Geertz giải thích rằng “con người là một động vật treo lơ lửng trong các mạng ý nghĩa mà bản thân nó đã giăng ra”, rằng mỗi mạng lưới đó có thể được coi là một “văn hóa” [Geertz 1973: 5]. Vì vậy ông đã đề xuất nhiệm vụ chủ yếu của nhà nghiên cứu là lý giải các biểu hiện xã hội được tạo dựng bằng cách tìm ra nghĩa. Mục đích là nhắm vào việc mô tả dân tộc học bao gồm cả ba đặc trưng: “đó là giải thích; giải thích có nghĩa là dòng diễn ngôn xã hội; và hành động giải thích bao gồm cả việc cố gắng cứu lấy điều “đã nói” của diễn ngôn như vậy vì các duyên do của nó đang biến mất đi” [Geertz 1973: 20]. Dòng diễn ngôn trong mỗi tình huống xã hội tăng cường mạng ý nghĩa, vì vậy công việc phân tích là phải phân loại cấu trúc của nó. Nhưng phần lớn thời gian nhà dân tộc học phải đối mặt với “vô số cấu trúc khái niệm phức tạp, mà đa phần đều được tống thêm vào hoặc được buộc chặt vào một cấu trúc khác” [Geertz 1973: 10]. Geertz lý giải một tập hợp dữ liệu như một văn bản, với một hàm ý rằng phương pháp tiếp cận đó thuộc về thuật phê bình văn học [Geertz 1973: 9]. Trong trường hợp này các khác biệt phát triển cả trong việc xác định cơ sở xã hội và sự nhập khẩu cách lý giải văn bản và - gắn liền với nhiệm vụ này – là việc nhận thức, hoặc chí ít thì cũng ghi nhớ được rằng không thể chia tách quan sátlý giải kể cả trong tư duy lẫn trong thực tiễn. Vì vậy có thể đi tới kết luận là “miêu tả dày” có nghĩa là “viết ra những nguyên tắc hệ thống…là cái, nếu được tuân thủ, sẽ có thể vận hành như vậy, có thể trao truyền …cho một địa phương” [Geertz 1973: 11]. Đồng thời việc đạt được năng lực này làm tăng thêm giá trị của phương pháp tiếp cận ấy và là một biểu hiện của việc vượt qua quan điểm thuần túy chủ quan của việc mô tả mang tính lý giải. Hai cách tiếp cận này có thể bổ sung cho nhau. Tuy nhiên chúng cũng giúp kết hợp các kinh nghiệm địa phương và các tác động vùng về mặt phương pháp luận [Hahn 2005: 100].
___________________________________      

Còn nữa....

Tài liệu Tham khảo

Appadurai, Arjun 1991. Global Ethnoscapes: Notes and Queries for a Transnational Anthropology. In Recapturing Anthropology: Working in the Present, ed. Richard G. Fox (Santa Fe: School of American Research, 1991).

Barber, K. and Waterman C. 1995. Treversing the Global and the Local: Fuji Music and Praise Poetry in the Production of Contemporary Yoruba Popular Culture. In Worlds Apart: Modernity through the Prism of the Local, ed,. Daniel Miller (London and New York: Routledge, 1995).

Beck, Ulrich 1997. Was ist Globalisierung? Irrtumer des Globalismus – Antworten auf Globalisierung (Franfurt a.M: Suhrkamp).

Blakeley Edward J. E.J. and Snyder M.G. 1999. Fortress America: Gated Communities in the United States (Washington, DC: Brookings Institution Press, 1999).

Geertz, Clifford 1973. Thick Description: Toward an Interprettive Theory of Culture. In The Interpretation of Culture: Selected Essays by Clifford Geertz (New York: Basic Books.

Giddens, Anthony 1990. The Consequences of Modernity (Stanford: Stanford University Press).

Hahn, Kornelia 2005. Regionalism in Global Societies A Contradiction?. In Regionalism in the Age of Globalism – Concepts of Regionalism. Volume 1. Edited by Lothar Honnighausen, Marc Frey, James Peacock, Nicolaus Steiner. Center for the Study of Upper Midwestern Cultures 901 University Bay Dr. Madison, W1 53705. Copyright 2005, The Board of Regents of the University of Winsconsin System All rights reserved. Printed in the United States of America.

Liebes T. and Katz  E. 1990. The Export of Meaning: Cross-cultural Readings of Dallas (New York: Oxford University Press, 1990).

Miller, Daniel 1995. Introduction: Anthropology, Modernity and Consumption. In Worlds Apart, 18).

Mills C. Wright 1959. The Sociological Imagination, New York. Oxford University Press.

Robertson, Roland 1998. Glokalisierung: Homogenitat und Heterogenitat in Raum and Zeit. In Weltgesellschaft, ed., by Ulrich Beck (Franfurt a/M: Suhrkamp).

Veblen, Thorstein 1991. The Theory of the Leisure Class (Fairfield, NJ: Kelley, 1991). [Originally published in 1899].


Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

Champa Nhìn lại (I)




Champa Nhìn lại (I)

Michael Vickery

Người dịch: Hà Hữu Nga

Như đầu đề của bài viết muốn nói, tôi cho rằng lịch sử Champa, với tư cách là một tổng thể hầu như chưa có một nghiên cứu phê phán nào, kể từ khi cuốn sách1 của Georges Maspéro xuất bản năm 1928, nay cần phải được nhìn lại với các vấn đề sau: i) Nguồn gốc của người Chăm nói tiếng Nam Đảo hiện sinh sống tại Việt Nam và Cambodia; ii) Vấn đề Lâm Ấp; có phải Lâm Ấp chính là Champa do những hồ sơ đầu tiên liên quan đến vấn đề này, hay là do được xác định về sau, còn nếu Lâm Ấp không phải là Champa thì đó là gì?2 ; iii) Các quan hệ với Việt Nam, đặc biệt là quan niệm cho rằng Champa, bao gồm cả Lâm Ấp thường xuyên là nạn nhân của tệ bành trướng của người láng giềng phía bắc; iv) Cách kể về lịch sử Champa của Maspéro. Mặc dù cuốn sách của ông lập tức thu hút sự xét đoán của độc giả ngay sau khi xuất bản và càng ngày càng thấu đáo hơn kể từ Rolf Stein, nhưng các kết luận chủ yếu của ông lại được trao truyền theo nghĩa đen vào công trình tổng hợp nổi tiếng của Georges Coedès, và đã tiếp tục tác động ảnh hưởng mạnh mẽ đến các công trình nghiên cứu khác, kể cả việc chấp nhận chung của một số nhà ngôn ngữ cho đến tận thập kỷ vừa qua 3.

Bài viết này bao gồm cả việc xem xét lại vị thế chính trị - hành chính của các vùng người Chăm sinh sống được xác định căn cứ vào các di tích kiến trúc và bi ký trải dài từ Quảng Bình đến nam Phan Rang. Có nghĩa là nhìn lại xem liệu có phải Champa là một nhà nước/vương quốc thống nhất duy nhất như mô tả trong các công trình nghiên cứu kinh điển đã có hay đó là một loại liên chính thể do người Chăm nói tiếng Nam Đảo thống trị, hay cả hai, hoặc đó là những chính thể hoàn toàn riêng biệt, thỉnh thoảng có tranh chấp? 4

Các nguồn tư liệu: Có ba loại nguồn tư liệu cho lịch sử Champa: (1) các di tích vật chất – kiến trúc gạch vẫn được coi là hệ thống đền tháp đi liền với các công trình điêu khắc, và các tư liệu thu được từ các cuộc khai quật khảo cổ học; (2) các bi ký bằng tiếng Chăm cổ và tiếng Phạn; và (3) các sử liệu chữ Hán và tiếng Việt về mối quan hệ giữa các quốc gia đó và các chính thể khác thuộc các vùng phía nam Trung Quốc, trong đó có bắc Việt Nam, và vùng lãnh thổ thuộc nam Việt Nam ngày nay.

Các di tích vật chất: Các di tích vật chất trên mặt đất, hệ thống đền tháp thông qua các công trình kiến trúc đã cho thấy tối thiểu có ba vùng bắt đầu phát triển vào cùng một thời gian – khoảng các thế kỷ 8 – 9. Tuy nhiên, chắc chắn là đã có các kiến trúc sớm hơn giờ đây không còn nữa và niên đại khởi đầu thực sự thì sớm hơn. Kể từ Bắc vào Nam, các vùng đó là (1) Quảng Nam, nhất là lưu vực sông Thu Bồn, khu vực Mỹ Sơn, Trà Kiệu và Đồng Dương; (2) vùng Nha Trang với phức hợp Po Nagar, và (3) vùng Phan Rang, trong đó các bộ phận thuộc di tích Hòa Lai có thể có niên đại vào thế kỷ 8, và có lẽ có thể gồm cả các kiến trúc Pô Dam và Phan Thiết xa hơn về phía Nam.5

Một vùng khác, ở đó có số lượng lớn các di tích đền tháp, đó chính là khu vực Quy Nhơn, nhưng các kiến trúc ở đó lại có niên đại thế kỷ 11 – 13, mà không có các di tích sớm hơn. Toàn bộ các vùng này đều nằm ở các cảng rất thuận tiện thuộc các cửa sông, hoặc trên các con sông, không xa biển. Một di chỉ cổ tại lưu vực Thu Bồn ở đó toàn bộ các công trình kiến trúc trên mặt đất đã biến mất theo thời gian, là đề tài thu hút rất nhiều mối quan tâm, nhưng ở đó các công trình điêu khắc ấn tượng thì lại vẫn còn, đó là Trà Kiệu, cách Mỹ Sơn khoảng 20 – 30 km; tầm quan trọng của nó có lẽ từ thế kỷ thứ nhất đã được khảo cổ học phát lộ 6.

Hai con sông có tầm quan trọng hơn cả trong lịch sử sớm Champa, mặc dù cho đến bây giờ vẫn chưa được chú ý đúng mức. Một là – tôi sẽ chỉ rõ, con sông chưa bao giờ được quan tâm đến – sông Trà Kúk ở Quảng Ngãi với hai ngôi thành cổ Châu Sa (rõ ràng là một thành lũy lớn) và Cổ Lũy (nơi này đã phát hiện được một số công trình điêu khắc quan trọng, có lẽ niên đại từ thế kỷ 7 – 8). Cả hai ngôi thành này đều nằm gần cửa sông, cùng với các di tích của ngôi tháp Chánh Lộ có các công trình điêu khắc rất đáng chú ý, có niên đại thế kỷ 11. Việc gần như bỏ qua thành Châu Sa của các nhà khảo sát trước đây có lẽ do họ không phát hiện được hệ thống đền tháp ấn tượng, mà lại chỉ có một bi ký 7. Còn con sông kia là Đà Rằng - Sông Ba, đổ vào biển ở Tuy Hòa, giữa Quy Nhơn và Nha Trang; đó là một lưu vực rộng nhất ở Việt Nam. Các di tích của các giai đoạn khác nhau đã được phát hiện dọc triền sông, một bi ký Phạn thế kỷ XV ở vùng cửa sông, và Thành Hồ rộng hơn thành Châu Sa, cách biển khoảng 15 km. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là một tuyến đường thủy quan trọng vào nội địa 8.

Một vùng khác cũng bị bỏ qua, đó là vùng phía cực bắc của Champa ở Quảng Trị và Quảng Bình, rõ ràng là thuộc thế kỷ 9 – 10, khi Indrapura và khu vực đền tháp Đồng Dương hưng thịnh và khi các di chỉ Phật giáo Đại thừa phát triển tại Ròn/Bắc Hạ, Đại Hữu, Mỹ Đức và Hà Trung 9. Vùng này có lẽ được đưa vào phạm vi “triều vua thứ sáu” của Maspéro, nhưng các công trình tưởng niệm của nó đã không được nghiên cứu trong thời gian ông đang viết về vấn đề này, và tầm quan trọng của vùng này chưa bao giờ được đánh giá đúng mức. Hơn nữa, ý nghĩa to lớn của nó lại bị lu mờ đi trong các văn liệu với việc quy cho các công trình đó thuộc “phong cách” được đặt tên cho các trung tâm xa hơn về phía nam, chẳng hạn như Đồng Dương, Mỹ Sơn, v.v...10. Việc chú ý thiết yếu đến vùng này buộc chúng ta phải diễn giải lại lịch sử các sự kiện trong các thế kỷ 10 – 11.

Cần phải nhấn mạnh rằng việc định niên đại nhiều di tích kiến trúc và việc phát hiện các công trình điêu khắc trên mặt đất vẫn cần phải được nghiên cứu kỹ hơn, vì người ta đã không còn chấp nhận các diễn giải cũ là hợp lý nữa. Các mẫu bao gồm Mỹ Sơn E-1, được định niên đại bằng cách so sánh với điêu khắc Cambodia cách xa 700 km với một bi ký mơ hồ đi kèm; cụm tháp Hòa Lai, Phan Rang được định niên đại theo Damrei Krap ở Phnom Kulen, Cambodia, căn cứ vào một mẩu huyền thoại trên bi ký Cambodia Sdok Kak Thom; phong cách Tháp Mắm, Bình Định thì dựa vào cách xử lý nặng tính hư cấu của Maspéro; còn phong cách Mỹ Sơn A1 trước hết dựa trên một định kiến của Henri Parmentier cùng một bi ký bị lạm dụng và giờ đây không còn được phân biệt rõ ràng khỏi Trà Kiệu mà ngày nay rất ít người đồng ý vì những phong cách Trà Kiệu khác nhau được khảo cổ học thực địa phát hiện11. Vì vậy trong giai đoạn nghiên cứu này thì việc định niên đại các công trình kiến trúc và điêu khắc của lịch sử Champa đều khá lỏng lẻo.

Bi ký: Bi ký Champa được thể hiện bằng hai ngôn ngữ, Chăm và Phạn. Bi ký Chăm được coi là cổ nhất chính là bia Võ Cạnh được phát hiện tại một di chỉ gần Nha Trang. Nó được định niên đại vào khoảng thế kỷ 2 – 4, và càng ngày người ta càng có những ý kiến khác nhau về việc nó có thuộc Champa hay thuộc về một thủ lĩnh Phù Nam đã từng chinh phục vùng đất sau đó đã trở thành một phần của Champa. Quan điểm cuối cùng của Coedès được Maspéro ủng hộ cho rằng bia đó thuộc Phù Nam, và vị thủ lĩnh được xác định rõ ràng, có tên श्री मार* Śrī Māra, được viết bằng chữ Hán là 范師蔓* Fan Shih man Phạm Sư Mạn, còn tôn giáo thời kỳ đó là Đạo Phật. Quan điểm đó được thịnh hành đến tận năm 1969, khi Jean Filliozat cho rằng tước vị Māra có lẽ có nguồn gốc từ một tước vị hoàng gia पाण्ड्य* Pandyan, còn nội dung của tấm bi ký có thể cũng chỉ ẩn ý Ấn Độ giáo như là Phật giáo mà thôi. Cách xử lý như vậy dường như cho thấy bia Võ Cạnh có thể không được coi là thuộc Phù Nam, hoặc Champa, và chắc chắn không thuộc Lâm Ấp 12.  

Tuy nhiên ngày nay William Southworth đã lôi cuốn sự chú ý đến những đặc điểm nhất định của nội dung bi ký, có vẻ thể hiện xã hội Nam Đảo; nếu lập luận ấy đứng vững thì có thể hoàn trả lại cho một thực thể Chăm tấm bi ký đầu tiên đó, mặc dù nó không thuộc Lâm Ấp. Như Southworth đã lưu ý, đoạn dịch dưới đây của Filliozat và Claude Jacques: “Tác giả của tấm bi ký này có lẽ không hề là hậu duệ của Śrī Māra, mà là một người con rể đã kết hôn với dòng tộc mẫu hệ thống trị. Trọng tâm then chốt của dòng tộc này rõ ràng là người con gái của cháu nội Śrī Māra, mà tác giả của tấm bi ký xuất thân từ gia đình đó, còn nội dung tấm bi ký đã cho thấy tôn ty mẫu hệ này”.  

Có nghĩa là loại vật quyên cúng này được mô tả trong bi ký là “rất thông thường trong các xã hội mẫu hệ”, và tấm bi ký “chủ yếu được thúc đẩy bởi các mối quan tâm xã hội bản địa”. Cái tên Śrī Māra có thể vẫn thuộc về nguồn gốc Tamil như Filliozat đề xuất – mà người Chăm học được trong các chuyến hải hành đến Ấn Độ và sử dụng cái tên đó một thời gian cho đến khi tước vị phạn वर्मन्* varma che chở, bảo vệ* trở thành phổ biến vào giai đoạn sau. Nha Trang, như Southworth đã mô tả, là một cảng “trên tuyến thương mại chính qua Đông Nam Á” từ Ấn Độ đến bắc Việt Nam và nam Trung Quốc, “tạo ra một bối cảnh lịch sử và địa lý hợp lý cho việc dựng bia Võ Cạnh” 13. Tấm bia được coi là cổ xưa thứ hai, thế kỷ IV, sau Võ Cạnh là một văn bản cổ ngữ Chăm thuộc Đông Yên Châu, gần Trà Kiệu. Được phát hiện tại vùng Thu Bồn, không xa Mỹ Sơn, đây cũng là loại văn bản cổ nhất của bất cứ cổ ngữ Nam Đảo hoặc Đông Nam Á nào 14.   

Cả hai tấm bia sớm này đều biệt lập và có thể không thuộc vào số còn lại, những tấm bia còn sót lại không được phân bố hoàn toàn phù hợp với các di tích vật chất. Nhóm bia có nội dung mạch lạc nhất gắn liền với sự phát triển sớm của lưu vực sông Thu Bồn, di chỉ Mỹ Sơn, đồng thời chỉ có những văn bản biệt lập ở nơi khác. Từ thế kỷ V-VIII có 20 bi ký tất cả đều bằng chữ Phạn, trừ hai bia ở Mỹ Sơn hoặc gần đó. Theo các thống kê của Southworth thì 19 bi ký với 279 dòng văn bản ở Quảng Nam, với 12 bi ký và 258 dòng ở Mỹ Sơn, nhưng chỉ có ba bi ký với 13 dòng ở nơi khác 15. Sau đó từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX, khoảng 774 đến 854, có một nhóm 8 bia mạch lạc nhất ở phía Nam. Hầu hết các bia này đều ở Phan Rang, chỉ có vài cái ở Nha Trang; 5 tấm bia hòan toàn, hoặc một phần, viết bằng chữ Chăm. Tiếp theo, từ 875 (hoặc sớm hơn tý chút) đến 965, có 25 bi ký được coi là thuộc triều इन्द्रपुरा* Indrapura/Đồng Dương, lại ở phía bắc vùng Thu Bồn, nhưng riêng biệt khỏi Mỹ Sơn. Các bi ký này đều phác họa một khu vực rõ ràng từ Quảng Nam đến Quảng Bình và chỉ có loại cổ tự trong các văn tập đã được công bố phát hiện ở phía bắc Huế. Bốn bi ký nhóm này ở phía Nam và 16 bi ký hoàn toàn hoặc một phần thuộc chữ Chăm 16. Một bi ký có nhiều cổ tự Chăm hơn cả, và có lẽ liên quan là bia Mỹ Sơn, có niên đại 991 (xem bên dưới).

Về sau các bi ký này phân bố khá đồng đều giữa Bắc và Nam cho đến đầu thế kỷ XIII, sau đó có 32 bia được phát ở phía Nam, và chỉ có sáu bia ở Mỹ Sơn, niên đại muộn nhất là 1263. Sau năm 991, trong số 75 bia đã biết cho đến cái cuối cùng năm 1456 thì chỉ có 5 cái bằng chữ Phạn, tất cả đều trước năm 1263, và số còn lại là chữ Chăm. Trong cùng giai đoạn có 18 bia Mỹ Sơn tính đến chiếc cuối cùng được định niên đại 1263 và một bia khác từ cuối thế kỷ शक* śaka XII, hai trăm năm sau khi các vua Champa, theo Maspéro, được cho là chuyển về phía nam đến विजय* Vijaya do sc ép ca người Vit, mt hoàn cnh buc phi xem xét li các mi quan h gia hai chính th này.    

Thật khác thường là Bình Định/Quy Nhơn mặc dù rõ ràng có tầm quan trọng như hệ thống tháp gạch đã chứng tỏ và rõ ràng các nguồn tư liệu Champa và Cambodia đều chú ý đến nó, nhưng ở đây lại chỉ thấy có 7 bi ký rất ngắn – tất cả đều muộn màng, và chỉ có một bi ký có nhiều giá trị lịch sử hơn cả (C53 and C54/1178-1278, C58/1259, C55/1265, C52/thế kỷ ś., C47/1401, C56/1456). Tất cả các bi ký chủ yếu của các nhà cai trị được cho là đã kiểm soát Bình Định trước thế kỷ XIII đều được chạm khắc tại Mỹ Sơn. [Về vấn đề này, xin xem ở dưới, trong phần nói về Vijaya.

Một tập hợp các bi ký chi tiết và mạch lạc nhất, chí ít là có một chục văn bản, liên quan đến các mối quan hệ của các thế kỷ XI – XIII, hầu như hoàn toàn là chiến tranh với Cambodia. Việc thảo luận chi tiết về các bi ký này được trình bày tại mục về lịch sử tự sự ở phía dưới. Công trình đầu tiên về các bi ký Champa bắt đầu vào cuối thế kỷ XIX. Abel Bergaigne bắt đầu tổng hợp các thông tin từ các bi ký từ năm 1888, và công bố các văn bản Phạn ngữ năm 1893. Công trình đầu tiên về các bi ký Chăm ngữ là của Étienne Aymonier năm 1891. Sau đó, trong một loạt bài viết, Louis Finot đã xử lý cả các bi ký Chăm ngữ và Phạn ngữ, bằng cách biến đổi một số vấn đề diễn giải về sau của Aymonier. Édouard Huber cũng đã thực hiện một công trình nghiên cứu quan trọng liên quan 17

Vẫn còn những vấn đề về việc giải thích theo nghĩa đen một số văn bản Chăm ngữ. Vì hầu hết các bi ký được Aymonier xử lý trong bài viết năm 1891, nhưng ông đã không công bố chính văn bản đó, và cũng không hề đưa ra một bản dịch đầy đủ, mà chỉ tóm tắt các chi tiết quan trọng. Rõ ràng là một số bi ký vẫn cần có những diễn giải mới, để rồi cuối cùng, nó đã thu hút được sự chú ý của một nhà Chăm học tài năng. Khi Louis Finot tiếp tục công việc công bố và dịch các bi ký Chăm, ông luôn chọn các văn bản mà Aymonier không xử lý; và vì ông không phải là một chuyên gia về ngôn ngữ, nên không thể chấp nhận toàn bộ các bản dịch của ông mà không đặt câu hỏi.  Vì chất lượng không chắc chắn của các bản dịch cổ ngữ Chăm, nhất là công trình của Aymonier, và của cả Finot nữa, nên tất cả các diễn giải về các sự kiện lịch sử dựa vào đó đều phải được trình bày bằng cách thông báo trước rằng để có được những bản dịch tốt hơn thì buộc phải xem xét lại một số chi tiết.

Giờ đây đã có một công trình mới của Anne-Valérie Shweyer về các bi ký Champa được sử dụng làm hướng dẫn cho tất cả các xuất bản phẩm. Nó có ý liệt kê toàn bộ các bi ký đã được công bố theo trật tự niên đại, đã được hiệu chỉnh với các cột ghi số đăng ký, vị trí, tên người và tên các thần được đề cập và các công bố khác liên quan 18. Ngoài công trình của Shweyer, không có một nghiên cứu nguyên bản nào mới về các bi ký Chăm trước năm 1920, và danh mục tư liệu chuẩn về các bi ký Champa, cả Chăm ngữ và Phạn ngữ, đều có niên đại từ 1923 19.
____________________________

Còn nữa...

Nguồn: Michael Vickery 2005. Champa revised, Asia Research Institute Working Paper Series No. 37, 2005. The ARI Working Paper Series is published electronically by the Asia Research Institute of the National University of Singapore.

Tác giả: Chân thành cảm ơn Bruce Lockhart đã giúp chuẩn bị bản thảo để công bố trong ARI Working Papers Series.

Ghi chú của người dịch: Các từ có đánh dấu sao [*] là do tôi, Hà Hữu Nga, trộm tìm, dịch sang tiếng Phạn, tiếng Hán và tiếng Việt để tiện cho bản thân trong việc nghiên cứu, so sánh và xác định nghĩa của từ mà thôi.

1. Georges Maspéro, Le Royaume de Champa (Paris: École Française d’Extrême-Orient reprint, 1988); ấn bản gốc là Paris and Brussels: Éds. G. Van Oest, 1928.

2. Tôi quyết định đọc vần này là Linyi. Cách viết ở Việt Nam ngày nay đã bỏ đi dấu gạch nối giữa hai từ tên địa danh. Trước đây nó được viết là Lin-I hoặc Lin-Yi, như trong Rolf Stein, Le Lin-Yi, sa localisation, sa contribution à la formation du Champa et ses liens avec la Chine, in Han-Hiue, Bulletin du Centre d’Études Sinologiques de Pékin, 2 (1947). [Lâm Ấp, định vị và đóng góp của nó cho quá trình hình thành Champa và các mối quan hệ của chúng với Trung Quốc]. Các địa danh và tên đền tháp Champa cũng được ghi theo cách đọc vần trong các văn liệu tiếng Việt hiện nay.

3. Louis Finot, nhìn lại Maspéro, Le Royaume de Champa, Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient (henceforth BEFEO), 28 (1928): 285-92; in lại năm bản năm 1988 của Maspéro, Royaume de Champa; George Coedès, Histoire ancienne des états hindouisés d’Extrême-Orient (Hanoi: Imprimerie d’Extrême-Orient, 1944); Coedès, Les états hindouisés d’Indochine et d’Indonésie (Paris: Éditions E. de Boccard,1948); Coedès, Les états hindouisés d’Indochine et d’Indonésie, rev. edn (Paris: Éditions E. de Boccard, 1964); Coedès, The Indianized states of Southeast Asia, ed. Walter F. Vella, tr. Sue Brown Cowing (Honolulu: University of Hawaii, 1968); Graham Thurgood, From ancient Cham to modern dialects, two thousand years of language contact and change (Honolulu: University of Hawaii, 1999). 

4. Đối với các sử gia và các bi ký học Champa trước đây nó được coi là có một một Champa duy nhất từ khi xuất hiện Lâm Ấp. Xem Étienne Aymonier, ‘Première étude sur les inscriptions tchames’, Journal Asiatique (henceforth JA), série 8, 17 (1891): 5-86; Louis Finot, Bia Śambhuvarman [शम्भुवर्मन्* Fan Fan-tche 范梵志* Phạm Phạm Chí] ở Mĩ Sơn - ‘Stèle de Śambhuvarman à Mi-so’n’, BEFEO, 3 (1903): 206-11; Louis Finot, ‘Notes d’épigraphie VI: Inscriptions de Quảng Nam’, BEFEO, 4 (1904): 83-115 (see p. 113); Finot, ‘Notes d’épigraphie XI: Les inscriptions de Mi-so’n’, BEFEO, 4 (1904): 897-977; Finot, ‘Les inscriptions du Musée de Hanoi’, BEFEO, 15 (1915): 1-19; Paul Pelliot, ‘Deux itinéraires de Chine en Inde à la fin du VIIIe siècle’, BEFEO, 4 (1904): 131-385; và các nguồn tư liệu dẫn trong ghi chú ở trên. Các nghiên cứu gần đây coi Champa là một liên chính thể có thể thấy trong Actes du séminaire sur le Campā, organisé à l’Université de Copenhague le 23 mai 1987 (Paris: Centre d’Histoire et Civilisations de la Péninsule Indochinoise, 1988).

5. William Aelred Southworth, The origins of Campā in Central Vietnam, a preliminary review (Ph.D. diss., School of Oriental and African Studies, University of London, 2001), pp. 416-7. Bảng 3 cho thấy chuỗi kiến trúc do Philippe Stern đề xuất trong L’art du Champa (ancien Annam) et son évolution (Paris: Adrien-Maisonneuve, 1942), và Bảng 4, đề xuất xem xét lại của Southworth. Ông đã bỏ qua mọi tham chiếu với Pô Nagar of Nha Trang, cho dù Bảng đề xuất của ông có tiêu đề là Chuỗi định vị kiến trúc Campa đến đầu thế kỷ 11 SCN, trong khoảng thời gian đó, sao lại có thể bỏ qua Pô Nagar được.

6. Ibid., dẫn công trình trước đây của Claeys và Glover.

7. Đây là trường hợp bi ký C61 được trích dẫn, như trong Édouard Huber, ‘L’épigraphie de la dynastie de Đồng Dương’, BEFEO, 11 (1911) 282; Finot, ‘Inscriptions du Musée’, p. 11; Southworth, ‘Origins of Campā’, pp. 149, 151. For Chánh Lộ see Jean Boisselier, La statuaire du Champa (Paris: Publications de l’École Française d’Extrême-Orient, 1963, p. 214.

8. Charles Higham, The archaeology of mainland Southeast Asia (Cambridge: Cambridge University Press,1989), pp. 304-5; Ngô Văn Doanh, Chămpa ancient towers: Reality & legend (Hanoi: Institute for South-East Asian Studies, 2002), pp. 281-92.

9. Boisselier, Statuaire du Champa, pp. 118, 101, 133-9, 141, 147-8, 276. 

10. Examples are L’Association Française des Amis de l’Orient, Le Musée de sculpture Caü de Đà Nẵng (Paris: Éditions de l’AFAO, 1997), p. 142, no. 121, from Hà Trung (Mỹ Sơn style); p. 144, no. 124, from Đại An (Mỹ Sơn style); and p. 175, no. 192, from Mỹ Đức (Đồng Dương style).

11. Stern, Art du Champa, p. 70, mặc dù không khẳng định sử dụng bất cứ bi ký nào trong việc định niên đại các công trình tưởng niệm thì việc Damrei Krap được xác định niên đại đầu thế kỷ IX, khoảng 802, trên cơ sở tích truyện Jayavarman II trong bi ký Sdok Kak Thom, Cambodia (AD 1052), nhưng với niên đại 802 được qui cho Jayavarman là từ các bi ký sau này. Đối với Mỹ Sơn A1, Stern chỉ rõ, tr. 94, rằng Parmentier “làm việc theo nguyên tắc các hình thái nghệ thuật hoàn hảo hơn thì cổ hơn”. Đó là định kiến nảy sinh ra cách định niên đại sai lầm cho Mỹ Sơn A-1, sau đó hình như đã được hỗ trợ bởi một bi ký sớm được phát hiện gần đó nhưng thực ra lại không có liên hệ gì quần thể khu tưởng niệm. Vì cách xử lý Tháp Mắm của Boisselier quá vụng về, có lẽ vì ông quá tòng phục theo cách xác định của Stern đối với phong cách Bình Định. Trước hết Boisselier gợi ý rằng phong cách đó xuất hiện sớm ngay sau khi thủ đô được cho là đã chuyển về Bình Định, khoảng năm 1000, theo Maspéro, nhưng sau đó khi thấy không ổn, ông đã vẫn tiếp tục vụng về đặt nó vào thế kỷ XII, chắc chắn không ăn nhập gì với quần thể tưởng niệm chính ở khu vực đó, các đền tháp xung quanh Quy Nhơn (Boisselier, Statuaire du Champa, pp. 223, 256-274, 308-9). Những điêu khắc loài quỷ được bảo tồn tốt tại Bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm Đà Nẵng cho thấy ảnh hưởng Việt Nam/Trung Quốc [Boisselier, pp. 291-3] và phải muộn hơn, có thể thế kỷ XIV hoặc thậm chí XV. Như William Southworth, thông tin riêng ngày 10 tháng 11 năm 2004, đã lưy ý “Toàn bộ giai đoạn này và toàn bộ chuỗi lịch sử nghệ thuật và điêu khắc Bình Định cần phải được xem lại một cách chi tiết hơn ... [và] bản thân di chỉ Tháp Mắm thực sự cũng có thể có niên đại từ cuối thế kỷ XIV đến thế kỷ XV”.   

12. Coedès, Các nhà nước Ấn Độ hóa, Indianized states, p. 40; Jean Filliozat Bi ký được gọi là “Vỏ [sic]-Cạnh”, ‘L’inscription dite de “Vỏ [sic]-Cạnh”’, BEFEO, 55 (1969): 107-16; Claude Jacques, Ghi chú về phong cách “Vỏ [sic]-Cạnh” Notes sur la stèle de “Vỏ [sic]-Cạnh”’, pp. 117-24 cũng có cùng vấn đề; Michael Vickery, ‘Funan reviewed: Deconstructing the ancients’, BEFEO, 90-91 (2003-4): 101-43; và thảo luận của Southworth, ‘Origins of Campā’, ghi chú ở dưới.

13. Ibid., pp. 204-5. 

14. Bi ký Chăm sớm nhất này là C174, mà Maspéro vẫn chưa biết và Anne-Valérie Schweyer đã bỏ qua trong Niên đại bi ký Champa đã công bố - Chronologie des inscriptions publiées de Campā, Études d’épigraphie cam-1, BEFEO, 86 (1999): 321-44. Xem George Coedès Bi ký Chăm ngữ cổ nhất ‘La plus ancienne inscription en langue chame’, in Eastern and Indian Studies in honour of F. W. Thomas, C. I. E. (Bombay: New Indian Antiquary Extra Series I, No. 48), pp. 39-52..

15. Southworth, Các cội nguồn Champa ‘Origins of Campā’, 241.

16. Anne-Valérie Schweyer, Triều vương Indrapura Quảng Nam, Việt Nam - Le dynastie d’Indrapura (Quảng Nam, Viet Nam)’, Southeast Asian Archaeology 1998: Proceedings of the 7 International Conference of the European Association of Southeast Asian Archaeologists, ed. Wibke Lobo and Stefanie Reimann (Hull: University of Hull Centre for South to East Asian Studies, 1998), pp. 205-17; Schweyer, Niên đại các bi ký - Chronologie des inscriptions. Schweyer – Nghề làm đồ bạc thời triều vương Indrapura Quảng Nam, Việt Nam -  La vaisselle en argent de la dynastie d’Indrapura (Quảng Nam, Việt Nam), Études d’épigraphie cam - II’, BEFEO, 86 (1991): 345-55 cho rằng khu vực có các bi ký là thuộc quyền kiểm soát cảu triều vương này. William Southworth cực kỳ phản đối việc sử dụng Indrapura ngoài di chỉ Đồng Dương, và rõ ràng ông không chấp nhận quan điểm của Schweyer về một triều đại; xem Southworth Ghi chú về địa chính trị Champa ở miền trung Việt Nam trong các thế kỷ 8-9 SCN - Notes on the political geography of Campā in central Vietnam during the late 8 and early 9 centuries AD’ trong Lobo and Reimann ed., Southeast Asian Archaeology 1998, pp. 237-44. 

17. Aymonier, ‘Première étude’; Finot, các bài viết dẫn trong chú thích 4; Abel Bergaigne,  Vương quốc Champa cổ ở Đông Dương, theo các bi ký - L’ancien royaume de Campā dans l’Indochine, d’après les inscriptions’, in lại từ Journal Asiatique (Paris: Imprimerie Nationale, 1888); Bergaigne, Bi ký Phạn ngữ Champa, Bi ký Phạn ngữ Cambodge - Inscriptions sanscrites de Campā, Inscriptions sanscrites du Cambodge (Paris: Imprimerie Nationale, 1893); Huber, Nghiên cứu văn bia Vương triều ‘Épigraphie de la dynastie’. 

18. Schweyer, như lưu ý ở trên, đã bỏ qua bi ký Chăm ngữ sớm nhất, C174 from Ðông Yên Châu, do Coedès công bố trong ‘Plus ancienne inscription’. Bi ký này cũng bị quên trong danh mục Nghiên cứu văn bia xứ Chăm - Études épigraphiques sur le pays cham, ed. Claude Jacques (Paris: École Française d’Extrême-Orient, 1995). Schweyer cũng đã chuẩn bị một số bản dịch mới về các bi ký Chăm Pô Nagar, Nha Trang, sẽ in trong Aséanie, 14 (2004): 109-40 và 15 (2005), sắp tới. Các đoạn dịch được dẫn ở đây chính là ‘Po Nagar’. Xin chân thành cảm ơn cô vì đã cung cấp các đoạn dịch đó cho tôi.

19. Đây là danh mục trong công trình của George Coedès và Henri Parmentier, Danh mục tổng hợp về bi ký và công trình đền tháp Champa và Cambodge - Listes générales des inscriptions et des monuments du Champa et du Cambodge (Hanoi, Ecole Française d’Extrême-Orient, 1923).

Bibliography

L’Association française des amis de l’orient (AFAO), 1997 Le Musée de sculpture Ca de Đà Nẵng, Editions de l’AFAO, Paris.

Aymonier, Étienne 1880 “Chronique des anciens rois du Cambodge”.

Excursions et Reconnaissances, IV, 2 (1880), pp. 149-80.

1891 “Première étude sur les inscriptions tchames”, Journal Asiatique, janvier-février 1981, pp. 5-86.

1901, 1904 Le Cambodge. Vol I: Le royaume actuel. Paris: Ernest Leroux. Editeur, 1900. Vol. II: Les provinces siamoises. Paris: Ernest Leroux, Editeur, 1901. Vol III: Le Groupe d’Angkor et l’histoire. Paris: Ernest Leroux, Editeur, 1904.

1911 “L’inscription came de Po Sah”, Bulletin de la Commission Archéologique de l’Indochne, pp. 13-19.

Aymonier, Étienne et Antoine Cabaton 1906 Dictionnaire Čam-Français, Paris, Imprimerie Nationale, Ernest Leroux, Éditeur.

Bellwood, Peter 1985 Prehistory of the Indo-Malaysian Archpelago, Orlando, Academic Press.

1992 “Southeast Asia Before History”, The Cambridge History of Southeast Asia Volume I, pp. 53-136.

1993 "Cultural and Biological Differentiation in Peninsular Malaysia: The Last 10,000 Years", Asian Perspectives Vol. 32, No. 2 (Fall 1993), pp. 37-59.

Bergaigne, Abel 1888 “L’Ancien royaume de Campā dans l’Indochine, d’après les inscriptions”, Extrait du Journal Asiatique, Paris, Imprimerie Nationale.

1893 Inscriptions sanscrites de Campa, Inscriptions sanscrites du Cambodge. Notices et extraits des manuscrits de la Bibliothèque Nationale, Tome 27, (1ere partie), 2e fascicule, Paris, Imprimerie Nationale.

Blust, Robert A. 1988 "The Austronesian Homeland: A Linguistic Perspective", Asian Perspectives 26, pp. 45-67.

1992 “The Austronesian Settlement of Mainland Southeast Asia”, in Papers From the Second Annual Meeting of the southeast Asian Linguistics Society 1992, Edited by Karen L. Adams and Thomas John Hudak Arizona Sate University, Program for Southeast Asian Studies, Tempe,
Arizona, 1994.

Coedès, George 1918 “Le royaume de Çrī Vijaya", BEFEO 18, 6 (1918), pp. 1-28

1928 “La date du Bayon”, BEFEO 28, pp. 81-103

1929 “Nouvelles données chronologiques et généalogiques sur la dynastie de Mahīdharapura”, BEFEO 29, pp. 297-330, including the inscription of Banteay Chhmar, pp. 309-315.

1932 “Quelques sugestions sur la méthode à suivre pour interpreter les bas-reliefs de Bantãy Chmàr et de la galérie extérieure du Bàyon”, BEFEO 32, pp. 71-81.

1939 “La plus ancienne inscription en langue chame”, in Eastern and Indian Studies in honour of F.W. Thomas, C.I.E., pp. 46, ff.

1942. Inscriptions du Cambodge Vol. 2. École Française d’Extrême-Orient. Collection de textes et documents sur l’Indochine III. Hanoi: Imprimerie d’Extrême-Orient.

1944 Histoire ancienne des états hindouisés d’extrême-orient. Hanoi. Imprimerie d’extrême-orient.

1964a Les états hindouisés d’Indochine et d’Indonésie. Nouvelle édition revue et mise à jour. Paris: Éditions E. de Boccard.

1964b Inscriptions du Cambodge Vol. 7. École Française d’Extrême-Orient. Collection de textes et documents sur l’Indochine III. Paris: École Française d’Extrême-Orient.

1966 Inscriptions du Cambodge Vol. 8. Paris, École Française d’Extrême-Orient.

1968 The Indianized States of Southeast Asia, edited by Walter F. Vella, translated by Sue Brown Cowing. Honolulu, University of Hawaii Press.

Coedès, George et Pierre Dupont 1943-46 "Les stèles de Sdòk Kak Thom, Phnom Sandak et Prá.h Vihãr.” BEFEO 43:56-154.

Coedès, George et Henri Parmentier 1923 Listes générales des inscriptions et des monuments du Champa et du Cambodge, Hanoi, Ecole Française d’Extrême-Orient, 1923.

Copenhagen 1988 Actes du séminaire sur le Campā, organisé à l’Université de Copenhague le 23 mai 1987, Paris, Travaux du centre d’histoire et civilisations de la péninsule indochinoise. 1988

Damais, L[ouis]-C[harles] 1957 Review of Prof. Dr. Poerbatjaraka. Riwajat Indonesia, djilid 1 (Histoire de l’Indonésie, vol. 1). Djakarta. Jajasan Pembangunan. Bulletin de L’École Française d’Extrême- Orient 48 (1957), pt. 2, pp. 607-49.

Demiéville, Paul 1951 “R.A. Stein, ‘Le Lin-yi, sa localisation, sa contribution à la formation du Champa et ses liens avec la Chine’”, T’oung Pao 40:336-351.

Diffloth, Gérard 1992 “Vietnamese as a Mon-Khmer Language”, in Papers from the 1st Annual Meeting of the South to East Asisan Linguistivcs Society. M. Ratliff and E. Schiller, eds., Tucson, Arizona State University Press, pp. 125-139.

1995 Paper presented in Hanoi, cited in Nguyễn Hữu Hoành, Tiêng Katu, 21-22, 219.

ÉÉPC 1995 Études Épigraphiques sur le Pays Cham, réunies par Claude Jacques. Paris: Presses de l’École Française d’Extrême- Orient, Réimpression No 7.

Filliozat, Jean 1969 ‘L’inscription dite de ‘Vỏ [sic! Võ]-Cạnh’”, Bulletin de L’École Française d’Extrême-Orient 55 (1969), pp. 107-116.

Finot, Louis 1902 “Deux nouvelles inscriptions de Bhadravarman Ier”, Bulletin de L’École Française d’Extrême-Orient II, pp. 185-191.

1903 “Stèle de Śambhuvarman à Mi-so’n”, Bulletin de L’École Française d’Extrême-Orient III (1903), pp. 206-211

1904a “Notes d’épigraphie VI: Inscriptions de Quảng Nam”, Bulletin de L’École Française d’Extrême-Orient IV (1904), pp. 83-115

1904b “Notes d’épigraphie XI: Les inscriptions de Mi-so’n”, Bulletin de L’École Française d’Extrême-Orient IV (1904), pp. 897-977

1915 "Les inscriptions du Musée de Hanoi, BEFEO XV (1915), pp. 1-19

1915 b ‘Les inscriptions du Jaya Parameśvaravarman I roi du Champa’, Bulletin de L’École Française d’Extrême-Orient, 15/2, pp. 39-43.

1915c ‘Errata et Addenda’, Bulletin de L’École Française d’Extrême-Orient, 15/2, pp. 185-192.

1928 Review of Maspéro, Le royaume de Champa, BEFEO XXVIII, pp. 285-292. Reprinted in Maspéro 1928.

Glover, Ian 1997 "The Excavations of J.-Y. Claeys at Trà Kiệu , Central Vietnam, 1927- 28: from unpublished archives of the EFEO, Paris, and records in the possession of the Claeys family", Journal of the Siam Society, Volume 85, Parts 1&2, pp. 173-186.

Groslier, Bernard Philippe 1973 Inscriptions du Bayon, in Jacques Dumarçay, Le Bayon histoire
architecturale du temple, Publications de l’Ecole Française d’Extrême-Orient, Mémoires Archéologiques III-2, Paris, l’Ecole Française d’Extrême-Orient, 1973, pp. 83-306.

Hall, Kenneth R. 1985 Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia. Honolulu: University of Hawaii Press, 1985

Huber, Edouard 1905 "Le clan de l’aréquier", Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient V,1905, pp. 170-5.

1911 “L’épigraphie de la dynastie de Đồng Dương”, BEFEO 11, pp. 268-311.

Jacques, Claude 1969 “Notes sur la stèle de ‘Vỏ [sic! Võ]-Cạnh’”, Bulletin de L’École Française d’Extrême-Orient 55 (1969), pp. 117-124.

1995 Études Épigraphiques sur le Pays Cham, réunies par Claude Jacques. Paris: Presses de l’École Française d’Extrême-Orient, Réimpression No 7.

1996 "Le Bayon et l’épigraphie", in First Symposium on the Bayon, Final Report – Volume I, pp. 78-86.

Lafont, Pierre-Bernard 1979 “Études Cam III. Pour une réhabilitation des chroniques rédigées en Ca moderne, BEFEO 1979, pp. 105-111.

1988 “Avant Propos”, Actes du séminaire sur le Campā, organisé à l’Université de Copenhague le 23 mai 1987, Paris, Travaux du centre d’histoire et civilisations de la péninsule Li Tana

1998 Nguyễn Cochinchina, Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries, Ithaca: Cornell Southeast Asia Program Publications.

Pierre-Yves Manguin 1979 "L’Introduction de l’Islam au Campā", BEFEO, LXVI, 1979, pp. 255-287.

Maspéro, Georges 1928 [1988] Le royaume de Champa, réimpression de l’École Française d’Extrême-Orient, Paris.

Moussay, Gerard 1971 Dictionnaire Căm-Vietnamien-Français, Phanrang, Centre Culturel Căm.

Népote, Jacques 1993 (1-2) “Champa, propositions pour une histoire de temps long”, Péninsule, Nouvelle série, 26-27.

Pelliot, Paul 1903 “Le Fou-Nan”, Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient III, 1903, Hanoi, pp. 248-303.

1904 “Deux itinéraires de Chine en Inde à la fin du VIIIe siècle”, Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient IV, Hanoi, pp. 131-385.

Po Dharma 1987 (I-II) Le Pa∂urajga (Campa) 1802-1835, tomes I-II. Paris, Publications de l’École Française d’Extrême-Orient.

1988 "Etat des dernières recherches sur la date de l’absorption du Campā par le Vietnam", Actes du séminaire sur le Campā, organisé à l’Université de Copenhague le 23 mai 1987, Paris,
Travaux du centre d’histoire et civilisations de la péninsule indochinoise, pp. 58-69.

1999 Quatre lexiques malais-can anciens rédigés au Campā, Presses de l’École française d’Extrême-Orient, Paris.

Reid, Anthony 1999 Changing the Shape of Early Modern Southeast Asia, Chiang Mai, Silkworm Books 1999

Roveda, Vittorio 2000 Khmer Mythology, Secrets of Angkor. Bangkok, River Books.

Schweyer, Anne-Valérie 1998 “Le dynastie d’Indrapura (Quảng Nam, Viet Nam)”, Southeast Asian Archaeology 1998, Proceedings of the 7th International Conference of the Europezan Association of Southeast Asian Archaeologists, Berlin, 31 August – 4 September 1998, Wibke Lobo and Stefanie Reimann Editors, Centre for South to East Asian Studies, University of Hull,
Special Issue & Ethnologisches Museum, Staatliche Museen zu Berlin, Stiftung Preussischer Kulturbesitz, pp. 205-217.

1999a “Chronologie des inscriptions publiées de Campa, Études d’épigraphie cam-1”, Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient 86, pp. 321-344.

1999b "La vaisselle en argent de la dynastie d’Indrapura (Quảng Nam, Việt Nam, Études d’épigraphie cam - II", Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient 86, pp. 345-355.

2004 ‘Po Nagar de Nha Trang’, Aséanie, 14, pp. 109-40.

2005 ‘Po Nagar de Nha Trang’, deuxième partie, Aséanie, 15, forthcoming.

Southworth, William Aelred 2001 “The Origins of Campā in Central Vietnam, A Preliminary Review”, Ph.D. thesis, Archaeology, SOAS, University of London, 2001

Stern, Philippe 1927 Le Bayon d’Angkor Thom et l’évolution de l’art khmer. Paris: Annales du Musée Guimet, Bibliothèque de vulgarisation, no. 47. Librairie orientale Paul Geuthner.

1942 Philippe Stern, L’Art du Champa (Ancien Annam) et son Evolution, Toulouse.

Stein, Rolf 1947 Le Lin-Yi, sa localisation, sa contribution à la formation du Champa et ses liens avec la Chine. In Han-Hiue, Bulletin du

Taylor, Keith W. 1983 The Birth of Vietnam, Berkeley, University of California Press.

1998 “Surface Orientations in Vietnam: Beyond Histories of Nation and Region”, Journal of Asian Studies, vol. 57, no. 4, 1998, pp. 949–978.

Thurgood, Graham 1999 From Ancient Cham to Modern Dialects, Two Thousand Years of Language Contact and Change. Honolulu, University of Hawaii.

Vickery, Michael 1998 Society, Economics and Politics in Pre-Angkor Cambodia: The 7th to eighth Centuries. Tokyo.The Centre for East Asian Cultural Studies for Unesco, The Toyo Bunko.

2003 “Funan Reviewed: Deconstructing the Ancients”, publication pending in BEFEO.

2004a “Two Historical Records of the Kingdom of Vientiane”, in Christopher E. Goscha and Sören Ivarsson (eds.), Contesting Visions of the Lao Past Lao Historiography at the Crossroads, Richmond: Curzon Press.

2004b Cambodia and its Neighbors in the 15th Century, Asia Research Institute Working Paper Series No. 27, Singapore. www.ari.nus.edu.sg/pub/wps.htm

Wade, Geoff 2005 Champa in the Song hui-yao: A Draft Translation, Asia Research Institute Online Working Paper Series, No. 53, Singapore.

Vietnamese histories.

Cm = Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục
Tt  =   Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư
Vsl = Việt Sử Lược