Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’
A. Cấu thành Hiện sinh của cái ‘Ở-đó’
[Tr. 214] Phiếm đàm [Chen ngang: Thuật ngữ Gerede Phiếm đàm của Martin Heidegger chỉ một lối nói năng và thấu hiểu mang tính thiếu chân thực, thường thấy trong đời sống thường nhật, nơi người ta lặp lại những điều chỉ vì người khác nói thế, mà không có sự hiểu biết thực sự hay thấu đáo. Kiểu nói này ngăn trở sự truy vấn đích thực và giam hãm con người trong thói quen tuân thủ khuôn mẫu chung. Các đặc điểm cốt lõi của Gerede Phiếm đàm: i) Diễn ngôn thiếu chân thực: Đây là một dạng thức sa sút hoặc suy thoái của giao tiếp người; ii) Lặp lại thiếu phản tư: Người ta truyền đạt thông tin, tin đồn hoặc ý kiến chỉ vì ‘họ’ nói vậy, phản ánh sự tuân theo das Man đám đông đối với các chuẩn mực xã hội hay cái ‘họ’/số đông; iii) Ảo tưởng về sự thấu hiểu - phiếm đàm mặc định rằng mọi điều được nói ra đều đã được hiểu trọn vẹn, từ đó ngăn cản cái nhìn sâu sắc và nguyên bản về sự vật; iv) Lan truyền điều không đúng sự thật - thay vì phơi bày bản chất thực sự của sự vật, nó lan truyền những quan điểm hời hợt và che đậy thực tại đích thực.HHN]—thứ khép kín mọi sự theo cách thức mà chúng ta đã xác định—là một loại Hữu thể thuộc về hiểu biết của Dasein khi hiểu biết ấy đã bị bứng cội rễ. Tuy nhiên, phiếm đàm không diễn ra như một trạng thái hiện-diện-vô-tri nằm trong một cái gì đó hiện-diện-vô-tri: phiếm đàm vốn đã bị bứng khỏi cội rễ về mặt hiện sinh, và sự bứng gốc này diễn ra liên tục. Xét về mặt bản thể luận, điều này có nghĩa là khi Dasein duy trì chính mình trong phiếm đàm, nó—với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới —bị cắt đứt khỏi các mối-quan-hệ-của-Hữu-thể nguyên thủy và đích thực hướng đến thế giới của nó, hướng đến Dasein-với, và hướng đến chính Hữu-thể-trong của nó. Một Dasein như vậy cứ lơ lửng, không bám víu vào đâu; song trong trạng thái đó, nó vẫn luôn hiện diện bên cạnh thế giới, cùng với những Kẻ Khác, và hướng về chính mình. Việc bị bứng khỏi cội rễ theo cách này chỉ là một khả-tính-của-Hữu-thể đối với một thực thể mà tình trạng bộc lộ được cấu thành bởi diễn ngôn—vốn mang đặc tính của hiểu biết và các tâm thế—tức là đối với một thực thể mà tình trạng bộc lộ của nó trong trạng thái cấu thành về mặt bản thể luận như vậy chính là cái ‘ở đó’ của nó, cái ‘trong-thế-giới’ của nó. Cú bứng gốc này hoàn toàn không phải là một loại ‘phi-Hữu-thể’ của Dasein; trái lại, nó chính là cái ‘Thực tại’ thường nhật và ngoan cố nhất của Dasein. Tuy nhiên, tính hiển nhiên và tự tin của việc diễn giải thông thường—vốn phổ biến trong đời sống—đã che đậy thực tế này: trong khi cái Dasein cụ thể cứ trôi dạt về tình trạng mất-nền-tảng ngày càng gia tăng, thì tính kỳ quặc của trạng thái lơ lửng ấy vẫn bị che giấu khỏi tầm mắt nó dưới lớp vỏ bảo vệ của những cách diễn giải kia.
36. Tính Tò mò
Trong quá trình phân tích về hiểu biết và về trạng thái bộc lộ của cái ‘ở đó’ nói chung, chúng ta đã đề cập đến thứ lumen natural ánh sáng tự nhiên và gọi trạng thái bộc lộ của Hữu-thể-trong là Lichtung ‘mở sáng’ của Dasein [Chen ngang: Lichtung khái niệm ‘mở sáng’ của Dasein ám chỉ một không gian trở nên tràn ngập ánh sáng, đại diện cho không gian mở hoặc chân trời của chân lý và nhận thức, nơi Dasein hiện hữu người trải nghiệm và thấu hiểu về Hữu thể. Các ý nghĩa cốt lõi của Lichtung mở sáng làm cho không gian quang đãng nơi vạn vật có thể xuất hiện, hiển lộ và trở nên dễ hiểu đối với chúng ta: i). Erschlossenheit Trạng thái được mở ra - đây không phải là một địa điểm vật lý, mà là điều kiện cho phép con người nhận thức thế giới và quan tâm đến vạn vật; ii) Vai trò của Dasein hiện hữu người không chỉ đơn thuần hiện diện trong khoảng mở sáng đó; xét về mặt triết học, chính Dasein là khoảng mở sáng ấy—là nơi diễn ra sự hiển lộ của Hữu thể; iii) Đối với Heidegger, ‘Mở sáng’ ẩn ý Destruktion tháo dỡ/giải cấu trúc, đề cập đến việc truy tìm và làm sáng tỏ những tích lũy lịch sử và khái niệm của siêu hình học phương Tây truyền thống; iv) Mục đích của ‘Mở sáng’ là loại bỏ những lớp che khuất cản trở sự hiểu biết của chúng ta về ý nghĩa chân thực của ‘Sein Hữu thể’, cho phép Dasein trở lại trạng thái tồn tại ban đầu, cởi mở của nó; là giải cấu trúc lịch sử - nó đề cập đến việc soi sáng phê phán lịch sử bản thể luận, tháo dỡ khái niệm ‘Hữu thể có sẵn’ được tích lũy bởi siêu hình học truyền thống; v) Mở sang giúp phép phân tích hiện sinh của Dasein nhằm loại bỏ trạng thái suy đồi thường nhật mang tính das Man cái ‘họ’, thanh lọc và khai mở những khả tính hiện sinh đích thực và cấu trúc thời gian của Dasein.-HHN] — nơi mà lần đầu tiên, một điều gì đó tựa như ‘tầm nhìn’ mới có thể hình thành.1 Quan niệm của chúng ta về ‘tầm nhìn’ được hình thành thông qua việc xem xét kiểu bộc lộ cơ bản mang tính đặc trưng của Dasein—đó là thấu hiểu, theo nghĩa bổ dụng đích thực các thực thể mà Dasein có thể hướng tới và tương tác phù hợp với các khả tính cốt yếu Hữu-thể của chính nó. Trạng thái cơ bản của tầm nhìn bộc lộ qua một khuynh-hướng-của-Hữu-thể đặc thù gắn liền với đời sống thường nhật—đó là khuynh hướng hướng tới hành động ‘nhìn’. Ta gọi khuynh hướng này là Neugier ‘tính tò mò’; đặc điểm của nó không chỉ giới hạn ở nhìn, mà còn hướng tới một cách thức đặc biệt để chạm trán với thế giới trong tri giác. Mục tiêu của chúng ta khi diễn giải hiện tượng này, về nguyên tắc, mang tính hiện sinh-bản thể luận. Chúng ta không tự giới hạn mình trong một định hướng thuần túy về nhận thức. Ngay từ thời kỳ đầu (và trong triết học Hy Lạp, điều này không phải là ngẫu nhiên), nhận thức đã được quan niệm như là ‘khát vọng được nhìn thấy’.2
Tiểu luận mở đầu cho bộ sưu tập các tác phẩm về bản thể luận của Aristotle bắt đầu bằng câu: πάντες ἄνθρωποι τοῦ εἰδέναι ὀρέγονται φύσει.xi pantes anthropoi tou eidenai oregontai phusei - Mọi con người, theo bản tính, đều khao khát tri thức. Sự quan tâm đến việc nhìn là yếu tố cốt yếu đối với Hữu thể của con người.3 Nhận định này mở ra một cuộc khảo cứu, trong đó Aristotle tìm cách khai mở nguồn gốc của mọi hoạt động khám phá có tính học thuật về các thực thể và Hữu thể của chúng, bằng cách truy nguyên nó từ chính dạng thức Hữu thể của Dasein mà chúng ta vừa đề cập. Cách diễn giải của người Hy Lạp về nguồn gốc hiện sinh của khoa học này không phải là ngẫu nhiên. Nó làm sáng tỏ những gì đã được phác thảo trước đó trong nguyên lý của Parmenides: τὸ γὰρ αὐτὸ νοεῖν ἐστῖν τε καὶ εἶναι4 - to gar auto noein estin te kai einai - Tư duy và tồn tại là một. Hữu thể là cái tự bộc lộ trong tri giác thuần túy gắn liền với sự chiêm nghiệm, và chỉ thông qua cách nhìn như vậy, Hiện hữu mới được khám phá. Chân lý bản nguyên đích thực nằm ở sự chiêm nghiệm thuần túy. Luận điểm này đã trở thành nền tảng của triết học phương Tây kể từ đó. Phép biện chứng Hegel đã tìm thấy ở đó quan niệm tạo động lực cho mình, và chỉ trở nên khả thể dựa trên nền tảng ấy.
Ưu tiên đáng kể của hành động ‘nhìn thấy’ đã được Augustine đặc biệt chú ý, liên quan đến Giải thích về concupiscentia Ham muốn/Khao khát của ông.xii ‘Ad oculos nim videre proprie pertinet’ - ‘Nhìn thấy chính xác thuộc về cặp mắt.’ “Utimur autem hoc verbo etiam in ceteris sensibus cum eos ad cognoscendum intendimus.” - “Nhưng chúng tôi thậm chí còn sử dụng từ ‘nhìn thấy’ này cho các giác quan khác khi chúng ta dành chúng để nhận thức.” “Neque enim dicimus: audi quid rutilet; aut, olfac quam niteat; aut, gusta quam splendeat; aut, palpa quamJulgeat: videri enim dicuntur haec omnia.” – “Vì chúng ta không nói ‘Hãy nghe xem nó phát sáng như thế nào’, ‘Hãy ngửi xem nó lấp lánh như thế nào’, hoặc ‘Hãy nếm xem nó tỏa sáng như thế nào’, hay ‘Hãy cảm nhận xem nó lóe lên như thế nào’; mà chúng ta nói về mỗi thứ, ‘Hãy nhìn thấy’; chúng ta nói rằng tất cả điều này đều được nhìn thấy.”) “Dicimus autem non solum, vide quid luceat, quod soli oculi sentire possunt.”- “Chúng ta không chỉ nói, ‘Hãy nhìn xem nó tỏa sáng như thế nào’, khi chỉ có mắt mới có thể cảm nhận được điều đó;”) “sed etiam, vide quid sonet; vide quid oleat; vide quid sapiat; vide quam durum sit;” (“nhưng chúng ta thậm chí còn nói, ‘Xem cái đó nghe như thế nào’, ‘Xem cái đó có mùi thơm như thế nào’, ‘Xem cái đó có vị như thế nào’, ‘Xem cái đó cứng thế nào’.”) “ldeoque Generalis experientia sensuum concupiscentia sicut dictum est oculorum vocatur, quia videndi officium in quo primatum oculi tenent, etiam ceteri sensus sibi de similitudine usurpant, cum aliquid cognitionis explorant.” - “Do đó, trải nghiệm của các giác quan nói chung được gọi là [tr.216] là ‘thị dục’ ‘ham muốn của mắt’; vì khi vấn đề là biết về một điều gì đó thì các giác quan khác, do một sự tương đồng nào đó, sẽ đảm nhận chức năng nhìn thấy - một chức năng trong đó cặp mắt có ưu quyền.”
Phải nói gì về xu hướng chỉ nhận thức này? Trạng thái hiện sinh nào của Dasein sẽ trở nên dễ hiểu trong hiện tượng tò mò? Hữu-thể-trong-thế- giới được hấp thụ một cách gần gũi vào thế giới của những mối quan tâm. Các mối quan tâm này được dẫn dắt bởi sự thận trọng, [Chen ngang: Martin Heidegger sử dụng thuật ngữ Umsicht/ circumspection - quan sát bao quát/tầm nhìn bao quát/ nhìn quanh hay tầm nhìn bao quanh - như là phương thức mang tính thực tiễn, phi lý thuyết mà chúng ta dùng để định hướng trong môi trường sống hàng ngày; theo đó, ta nắm bắt và sử dụng các công cụ/ thiết bị một cách thuần thục mà không cần phải dừng lại để suy ngẫm hay phân tích về chúng. 1) Ý nghĩa cốt lõi của Umsicht: i) Nhận thức thực tiễn - là hiểu biết mang tính trải nghiệm trực tiếp, gắn liền với đời sống thường nhật; ii) Phi lý thuyết - ta không nhìn ngắm sự vật một cách khách quan, tách biệt; thay vào đó, ta sử dụng chúng - ta hiểu về cái búa thông qua hành động đóng búa, chứ không phải qua việc đo đạc trọng lượng hay kích thước của nó; iii) Một phương thức tương tác định hướng các hoạt động của con người. 2) Các đặc điểm chính: i) Trạng thái sẵn-có-để-dùng hay Zuhandenheit - các sự vật hiện ra như những công cụ hữu ích thay vì những sự kiện hay vật thể xa lạ, tách biệt; ii) Tầm nhìn ngầm - nó sở hữu một dạng ‘tầm nhìn’ riêng, nhưng hướng vào các lợi ích thực tiễn thay vì chiêm nghiệm trừu tượng; iii) Sự cố/Gián đoạn - Umsicht chỉ trở nên rõ ràng, tường minh khi thiết bị/công cụ bị hỏng hoặc gây trở ngại trong quá trình sử dụng.-HHN] giúp khám phá những điều sẵn có và bảo tồn chúng như đã được khám phá. Bất cứ khi nào chúng ta có điều gì đó để đóng góp hoặc thực hiện, thì thận trọng sẽ cho chúng ta con đường để tiến hành, phương tiện để thực hiện, cơ hội đúng đắn, thời điểm thích hợp. Mối quan tâm có thể được chấm dứt theo nghĩa người ta gián đoạn công việc và nghỉ ngơi, hoặc nó có thể được chấm dứt bằng kết cục hoàn thành công việc. Trong lúc nghỉ ngơi, mối quan tâm không biến mất; tuy nhiên, sự thận trọng trở nên tự do và không còn bị ràng buộc bởi thế giới công việc. Khi chúng ta nghỉ ngơi, sự lo lắng lắng xuống thành sự thận trọng đã được giải phóng.
Trong thế giới công việc, sự khám phá thận trọng có đặc tính xóa bỏ khoảng cách [Chen ngang: Martin Heidegger dùng thuật ngữ Entfernung ‘xóa bỏ khoảng cách’ để tạo nên cấu trúc không gian hiện sinh của Dasein hiện hữu người. Đây là cách con người kéo vạn vật lại gần trong tầm tay thay vì đo lường khoảng cách vật lý khô khan. Bản chất của Entfernung Xóa bỏ khoảng cách: i) Entfernung không có nghĩa là dịch chuyển vị trí cơ học, mà là hành động làm cho cái ‘ở xa’ trở nên gần gũi và có sẵn trong tầm quan tâm của con người; ii) Không gian hiện sinh khác không gian hình học - các đồ vật không nằm cách nhau bằng những con số mét hay kilômét thuần túy; chúng gần hay xa tùy thuộc vào việc chúng hữu ích và quan trọng thế nào đối với Dasein trong đời sống hàng ngày. Ví dụ một chiếc đài phát thanh hay chiếc điện thoại di động làm cho giọng nói của người ở rất xa vang lên ngay trong phòng khách, thực hiện việc Entfernung không gian; iii) Đặc điểm chính là gắn liền với sự quan tâm - con người sinh ra đã luôn ở trong thế giới và hướng về vạn vật bằng sự bận tâm thực tế; iv) Tính định hướng - đi kèm với việc kéo lại gần là sự xác định phương hướng (phải, trái, lên, xuống) dựa trên sự quan tâm đó; v) Đồ vật không có khả năng Entfernung - bản thân các sự vật như hòn đá, cái bàn không thể tự xóa bỏ khoảng cách - chính con người mới là thực thể thực hiện việc xóa bỏ khoảng cách này-HHN] như là đặc tính Hữu thể của nó. Khi sự thận trọng được giải phóng, không còn bất cứ cái gì sẵn-có-để-dùng mà chúng ta phải bận tâm đến việc mang lại gần nữa. Nhưng, với bản chất xóa bỏ khoảng cách, sự thận trọng này tự cung cấp cho chính nó những khả tính xóa bỏ khoảng cách mới. Điều này có nghĩa là nó hướng ra xa những gì gần gũi và sẵn-có-để-dùng nhất, và đi vào một thế giới xa lạ và bí ẩn.
Sự quan tâm trở thành mối bận tâm với khả tính nhìn thấy ‘thế giới’ chỉ đơn thuần như nó vốn có khi ta dừng lại và nghỉ ngơi. Dasein tìm kiếm những gì ở xa chỉ để đưa nó đến gần mình theo cách nó hiện ra. Dasein để cho bản thân bị cuốn theo chỉ bởi các dáng vẻ của thế giới; trong kiểu Hữu thể này, nó quan tâm đến việc thoát khỏi chính mình với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới và thoát khỏi Hữu-thể-bên-cạnh của nó vốn là những gì, theo cách gần gũi nhất trong cuộc sống hàng ngày, là sẵn-có-để-dùng. Tuy nhiên, khi tính tò mò được tự do, nó quan tâm đến việc nhìn, không phải để hiểu những gì được nhìn thấy (nghĩa là, để đạt được một Hữu thể hướng tới nó) mà chỉ để nhìn. Nó tìm kiếm sự mới lạ chỉ để nhảy vọt từ đó đến một sự mới lạ khác. Trong kiểu nhìn này, vấn đề của sự quan tâm không nằm ở việc nắm bắt điều gì đó và nhận thức được chân lý; mà nằm ở các khả tính buông bỏ bản thân cho thế giới. Do đó, tính tò mò được đặc trưng bởi một cách thức cụ thể là không nán lại quá lâu bên cạnh những gì ở gần nhất. Kết quả là, nó không tìm kiếm sự nhàn rỗi của việc nán lại quan sát, mà tìm kiếm sự bồn chồn và hứng thú của những điều mới lạ liên tục và những cuộc gặp gỡ đổi thay: Trong việc không nán lại, trạng thái tò mò quan tâm đến khả tính bị phân tâm liên tục. Tò mò không liên quan gì đến việc quan sát các thực thể và θαυμάζειν thaumazein kinh ngạc trước chúng. Kinh ngạc đến mức bản thân tình trạng không hiểu lại là điều mà nó không quan tâm.
[Tr. 217] Thay vào đó, nó liên quan đến một kiểu tri thức, nhưng chỉ cốt để ‘đã biết’ mà thôi. Cả việc không dừng lại ở môi trường mà ta đang bận tâm, lẫn việc bị phân tâm bởi những khả tính mới, đều là những hạng mục cấu thành nên tính tò mò; và dựa trên những yếu tố này, đặc điểm thiết yếu thứ ba của hiện tượng này được hình thành, cái mà ta gọi là Aufenthaltslosigkeit trạng thái ‘không lưu lại nơi nào’.[Chen ngang: Martin Heidegger dùng Aufenthaltslosigkeit không bao giờ trú lại ở đâu/ trạng thái bất định/không an trú để mô tả một đặc điểm cấu trúc cốt lõi của Neugier tính tò mò không đích thực. Khái niệm này mô tả một lối tồn tại mà trong đó Dasein hiện hữu người liên tục chuyển dịch từ cái mới mẻ này sang điều mới mẻ khác mà không thực sự dấn thân hay gắn kết, khiến nó luôn hiện diện ở khắp mọi nơi nhưng đồng thời cũng chẳng ở đâu cả. Aufenthaltslosigkeit gồm các đặc điểm sau: i) Không có sự gắn kết thực sự - Dasein từ chối việc dừng lại hay ‘nán lại’ với các sự vật trong môi trường của nó; ii) Trạng thái xao lãng liên tục - nó bị thôi thúc bởi cuộc tìm kiếm không ngừng nghỉ những cảnh tượng mới lạ, những điều mới mẻ và các khả tính hời hợt; iii) Tồn tại bị bứng gốc - thay vì tự neo giữ mình trong sự thấu hiểu đầy ý nghĩa về thế giới, Dasein liên tục tự bứng mình khỏi nền tảng, chỉ dừng lại ở mức độ trải nghiệm nông cạn hay ‘bề mặt’ của kinh nghiệm’ iv) Mối liên hệ với Gerede ‘Phiếm đàm’ – tình trạng hiện diện ở khắp mọi nơi nhưng lại chẳng ở đâu cả khiến cho tồn tại người bị cuốn vào những phiếm đàm hời hợt, vô bổ.-HHN]. Tình trạng tò mò hiện diện ở khắp mọi nơi nhưng lại chẳng ở đâu cả. Phương thức Hữu-thể-trong-thế-giới này bộc lộ một loại Hữu thể mới của Dasein thường nhật—một loại mà trong đó Dasein liên tục tự bứng gốc mình. Phiếm đàm chi phối ngay cả cách thức ta thể hiện sự tò mò. Chúng quy định những gì ta ‘phải’ đọc và ‘phải’ thấy. Khi hiện diện ở khắp mọi nơi mà lại chẳng ở đâu cả, sự tò mò bị phó mặc cho phiếm đàm. Hai phương thức Hữu thể thường nhật này cho diễn ngôn và tầm nhìn—không chỉ đơn thuần hiện-diện-vô-tri song hành bên nhau trong xu hướng bứng gốc, mà mỗi cách-thức-hiện-hữu này còn lôi kéo cách thức kia theo mình. Thói tò mò—thứ không khép kín với bất cứ điều gì—và phiếm đàm—thứ coi như không có gì là không thể hiểu được—cùng mang lại cho chính chúng (tức là cho Dasein đang hiện hữu theo cách thức này) quyền bảo lãnh về một ‘cuộc sống’ được cho là thực sự ‘sống động’. Tuy nhiên, cùng với giả định này, một hiện tượng thứ ba tự xuất lộ, đặc trưng cho trạng thái ‘được-bộc-lộ’ của Dasein thường nhật.
37. Tình trạng Nước đôi
Khi trong cái Hữu-thể-với-nhau của đời sống thường nhật chúng ta bắt gặp những điều mà ai cũng có thể tiếp cận, cũng như ai cũng có thể bàn luận về bất cứ điều gì, thì chẳng bao lâu sau, ta không còn có thể phân định được cái gì là điều được bộc lộ qua thấu hiểu đích thực, còn cái gì thì không. Zweideutigkeit Tình trạng nước đôi này không chỉ khuyếch trương ra thế giới, mà còn mở rộng cả vào Hữu-thể-với-nhau theo đúng nghĩa, và thậm chí cả cái Hữu thể hướng tự thân của Dasein nữa. [Chen ngang: Zweideutigkeit của Martin Heidegger là một cấu trúc hiện sinh thuộc về trạng thái Verfallen ‘sa đà’ thường nhật của Dasein. Từ Zweideutigkeit trạng thái nước đôi hay sự mơ hồ - nó cụ thể hóa cấu trúc thông thường trong tiếng Đức mang nghĩa ‘ý nghĩa hai chiều’ hoặc ‘ý nghĩa hai mặt’. Heidegger sử dụng sự phân tách về mặt hình thái học theo nghĩa đen này để mô tả cái cách thức mà Dasein hiện hữu người rơi vào trạng thái ‘sa ngã’ lại ngăn cản thấu hiểu đích thực; điều này xảy ra khi mọi thứ bị nhìn nhận như thể có hai chiều song song—nơi cái không đích thực lại khoác lên mình vẻ ngoài của cái đích thực. Zwei- Hai, gấp đôi, hoặc sự phân tách; -deutig bắt nguồn từ deuten - chỉ ra, giải thích, hoặc diễn giải, mang nghĩa rõ ràng hoặc biểu thị một nét nghĩa. Từ này hàm ý một trạng thái mà trong đó cái Geredede diễn ngôn đại chúng khiến sự vật ‘có vẻ như’ được hiểu theo một cách, trong khi bản chất thực sự lại nằm ở một chiều hướng khác; nó triệt tiêu sự dấn thân mang tính bản thể luận đích thực bằng cách nhân lên vô số quan điểm nghe có vẻ hợp lý. Khái niệm này mô tả trạng thái phô bày công cộng khiến ta không thể phân biệt được đâu là điều thực sự được thấu hiểu và sống trọn vẹn, còn đâu chỉ là những thứ hời hợt; qua đó, nó ngăn trở sự tương tác đích thực với thực tại. Zweideutigkeit thể hiện một phần của bộ ba trạng thái ‘sa đà’: i) Nó song hành cùng Gerede phiếm đàm và Neugier tính hiếu kỳ như một phương thức chủ yếu khiến cho hiện hữu người bị cuốn đi và đánh mất chính mình giữa das Man đám đông vô danh; ii) Ảo tưởng về sự thấu hiểu - mọi thứ trong đời sống công cộng dường như đều minh bạch, được bàn luận và được mọi người nắm bắt tường tận, nhưng thực chất lại thiếu vắng sự lĩnh hội đích thực và sự dấn thân của cá nhân; iii) Biến dạng của các mối quan hệ - Tính nước đôi/mơ hồ không chỉ ảnh hưởng đến cách chúng ta trò chuyện hay sử dụng sự vật, mà còn tác động đến cách chúng ta tương tác với Kẻ khác (Hữu-thể-với) và cách ta tự thấu hiểu chính mình; iv) Che giấu chân lý - thay vì để sự vật tự bộc lộ rõ ràng, tính nước đôi/mơ hồ bao phủ đời sống thường nhật bằng phi lý, ngăn chặn những khả tính đích thực bằng cách thay thế chúng bởi lối đồng thuận đã bị san phẳng xuống mức trung bình.- HHN] Mọi thứ dường như đều được thấu hiểu đích thực, được nắm bắt đích thực và được diễn đạt đích thực, mặc dù thực chất lại không phải vậy; hoặc ngược lại, mọi thứ trông có vẻ không như thế, nhưng thực chất lại chính là như thế. Tình trạng nước đôi không chỉ ảnh hưởng đến cách ta tận dụng những gì sẵn có để sử dụng và hưởng thụ, hay cách ta xoay xở với chúng; tình trạng nước đôi đã tự xác lập trong hiểu biết như là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, và trong cách Dasein tự phóng chiếu chính mình cũng như tự trình hiện với các khả tính.5 Mọi người đều quen thuộc với những gì đang được bàn luận và những gì đang diễn ra,6 và ai cũng bàn tán về nó; nhưng đồng thời, ai cũng biết cách nói về những điều cần phải thực hiện trước tiên—những điều chưa được đưa ra thảo luận nhưng ‘thực sự’ phải được làm. Mọi người đều đã phỏng đoán và đánh hơi thấy trước những gì mà những Kẻ Khác cũng đã phỏng đoán và đánh hơi thấy. Cái Hữu-thể-dựa-trên-đánh-hơi này tất nhiên phải căn cứ vào [tr.218] lời đồn đại, bởi lẽ nếu ai đó thực sự ‘đánh hơi’ được điều gì, họ sẽ không nói về nó; và đây chính là phương thức trói buộc tinh vi nhất mà qua đó tình trạng nước đôi trình hiện các khả tính của Dasein, khiến chúng bị bóp nghẹt ngay từ trong sức mạnh nội tại của mình.7
Ngay cả khi giả định rằng những điều mà ‘họ’ đã phỏng đoán và đánh hơi thấy một ngày nào đó thực sự được chuyển hóa thành hành động, thì tình trạng nước đôi cũng đã kịp đảm bảo rằng việc quan tâm đến những gì đã được hiện thực hóa sẽ nhanh chóng lụi tàn. Quả thực, lối quan tâm này chỉ duy trì—dưới dạng tò mò và phiếm đàm—chừng nào còn có một khả tính phỏng đoán vu vơ cùng người khác mà không cần cam kết gì. Việc cùng tham gia với ai đó [Chen ngang: das Mit-dabei-sein cùng-hiện-hữu-trong-sự-việc hay cùng ở với kẻ khác trong một tình huống chung mô tả cách thức mà Dasein hiện hữu người gắn bó mật thiết với kẻ khác khi họ cùng tham gia vào các hoạt động thực tiễn, các cuộc phiếm đàm, hay các hoạt động tập thể trong thế giới. 1) Khái niệm này chỉ một phương thức tồn tại xã hội thường nhật, nơi chúng ta ‘ở đó’ cùng với những kẻ khác, cùng tham gia vào một bối cảnh, tâm trạng hay nỗ lực chung. Sự hòa nhịp cùng nhóm làm nổi bật việc Dasein không chỉ tồn tại một cách thụ động bên cạnh các vật thể vật lý, mà còn bị cuốn một cách năng động vào ‘chân trời chung’ của cái ‘họ’—như cùng theo dõi sự việc, phiếm đàm hay chia sẻ một trạng thái tâm lý tập thể. 2) Các khía cạnh chính: i) Mitsein Hữu thể-cùng: Mit-dabei-sein là biểu hiện cụ thể của Mitsein Hữu thể-cùng, vượt qua tính chủ quan biệt lập để bước vào trạng thái cùng tham gia tích cực gắn liền với tình huống cụ thể; ii) Đời sống thường nhật và tính không đích thực - Heidegger thường liên kết khái niệm này với các phương thức hời hợt như phiếm đàm hay chạy theo trào lưu; tại đó, các cá nhân chia sẻ tình trạng tò mò hoặc những lời đồn đại chung như ‘cùng biết một bí mật’ hay ‘cùng nắm bắt tin tức mới nhất’ trước khi phải quay trở lại với quyết tâm cá nhân đích thực của chính mình.-HHN] trong quá trình ‘đánh hơi’—và chừng nào còn ở trong trạng thái đó—sẽ ngăn cản sự gắn kết thực sự khi điều được phỏng đoán thực sự được triển khai. Bởi lẽ trong trường hợp đó, Dasein buộc phải quay trở về với chính mình. Phiếm đàm và tò mò mất đi quyền năng của chúng và bắt đầu phải trả giá.8 Khi đối diện với việc thực thi điều mà ‘họ’ đã cùng nhau phỏng đoán, thì phiếm đàm dễ dàng khẳng định rằng ‘họ’ ‘cũng có thể làm được điều đó’—bởi lẽ ‘họ’ thực sự đã cùng nhau phỏng đoán nó. Rốt cuộc, thói phiếm đàm thậm chí còn tỏ ra bất bình khi điều mà nó từng phỏng đoán và liên tục đòi hỏi nay lại thực sự xảy ra. Bởi lẽ trong trường hợp đó, cơ hội để tiếp tục phỏng đoán đã bị tước mất. Nhưng khi Dasein dấn thân vào một việc gì đó với sự kiên định thực hiện đến cùng—hoặc thậm chí là thực sự vấp ngã và thất bại trong việc đó—thì thời gian của nó là một thời gian khác; và dưới con mắt của công chúng, đó là một thời gian chậm hơn hẳn so với thời gian của ‘phiếm đàm’—thứ vốn ‘sống với nhịp độ nhanh hơn’. Phiếm đàm sẽ nhanh chóng chuyển hướng sang một chủ đề khác, một điều gì đó mới mẻ nhất ở thời điểm hiện tại. Những gì trước đây chỉ là phỏng đoán và nay đã được thực hiện xong xuôi lại bị coi là quá muộn nếu so với những gì mới nhất. Phiếm đàm và tò mò, thông qua tính nước đôi của chúng, luôn đảm bảo rằng những gì thực sự mới mẻ được tạo ra sẽ trở nên lỗi thời ngay khi vừa xuất hiện trước công chúng. Một sáng tạo mới như vậy chỉ có thể giải phóng các khả tính tích cực khi phiếm đàm bao trùm lên nó mất đi hiệu lực, và khi mối quan tâm ‘chung’ của đám đông đã phai nhạt.
Trong tính nước đôi của cách diễn giải công khai, việc bàn luận đón đầu và phỏng đoán đầy hiếu kỳ về sự vật lại được coi là ‘thực sự đang diễn ra’, trong khi việc hành động và thực hiện công việc đến nơi đến chốn lại bị gán mác là phái sinh và không quan trọng. Do đó, hiểu biết của Dasein khi hòa mình vào cái ‘họ’ luôn đi chệch hướng trong các dự phóng của nó đối với những khả tính đích thực của Hữu thể. Dasein luôn hiện diện một cách nước đôi—nghĩa là, nó hiện diện trong sự phơi bày công khai của Hữu-thể-với-kẻ-khác, nơi mà các cuộc phiếm đàm ồn ào nhất [tr.219] và sự hiếu kỳ tinh vi nhất luôn khuấy động mọi thứ, nơi mà theo lối sống thường nhật, mọi sự (nhưng thực chất là chẳng có gì) đang diễn ra. Tính nước đôi này luôn cung cấp cho sự hiếu kỳ thứ mà nó tìm kiếm, đồng thời tạo ra ảo tưởng cho phiếm đàm về việc là mọi vấn đề đều đã được định đoạt trong đó. Tuy nhiên, loại Hữu thể được bộc lộ này của Hữu- thể-trong-thế-giới—cũng chi phối cả Hữu-thể-với-nhau theo đúng nghĩa. Kẻ Khác ‘ở đó’ trước hết thông qua những gì ‘họ’ đã nghe về hắn, những gì ‘họ’ bàn tán về hắn, và những gì ‘họ’ biết về hắn. Phiếm đàm len lỏi và chen vào ngay giữa mối tương quan Hữu-thể-với-nhau mang tính bản nguyên. Mọi người luôn để mắt đến Kẻ Khác, quan sát xem hắn sẽ cư xử ra sao và sẽ đáp lại như thế nào. Hữu-thể-với-nhau trong cái ‘họ’ hoàn toàn không phải là trạng thái dửng dưng đứng cạnh nhau mà mọi sự đã an bài, trái lại, đó là sự quan sát lẫn nhau đầy chủ ý nhưng mơ hồ, là sự lắng nghe ngầm và qua lại lẫn nhau. Bên dưới chiếc mặt nạ ‘vì-nhau’, luôn vận hành một chơi ‘chống-lại-nhau’. Trong bối cảnh này, cần lưu ý rằng tình trạng nước đôi không khởi nguồn từ ý định ngụy trang hay bóp méo, và cũng không phải là thứ do cá nhân Dasein tự tạo ra. Nó vốn đã hàm chứa trong Hữu thể với nhau, với tư cách là Hữu-thể-với-nhau trong trạng thái bị-ném vào thế giới.
Tuy nhiên, ở bình diện công khai, điều này lại hoàn toàn bị che giấu; và cái ‘họ’ sẽ luôn tự bảo vệ mình trước cách Diễn giải của loại Hữu thể vốn đã được chính cái ‘họ’ định hình, nhằm ngăn chặn việc cho rằng cách lý giải này được chứng minh là đúng đắn. Sẽ là một sự hiểu lầm nếu ta cố tìm kiếm sự xác nhận cho việc giải thích các hiện tượng này bằng cách trông chờ sự đồng thuận từ cái ‘họ’. Các hiện tượng như phiếm đàm, tính hiếu kỳ và tình trạng nước đôi đã được trình bày theo cách cho thấy chúng vốn đã liên kết chặt chẽ với nhau trong Hữu thể của mình. Giờ đây, ta cần nắm bắt—theo phương diện hiện sinh-bản thể luận loại Hữu thể vốn thuộc về mối liên kết này. Loại Hữu thể cơ bản vốn thuộc về đời sống thường nhật cần được thấu hiểu trong chân trời của các cấu trúc Hữu thể của Dasein đã đạt được từ trước đến nay.
38. Sa ngã và Tình trạng bị ném vào
Phiếm đàm, tính tò mò và tình trạng nước đôi là những đặc điểm định hình cách thức Dasein hiện hữu như là "ở-đó" (Da)—tức sự hiển lộ của trạng thái "hiện-hữu-trong-thế-giới"—trong đời sống thường nhật. Là những đặc tính hiện sinh xác định, chúng không phải là những sự vật "có-sẵn-trước-mắt" (vorhanden) nơi Dasein, mà góp phần cấu thành nên chính hiện hữu của Dasein. Thông qua chúng, cũng như qua cách chúng liên kết với nhau trong hiện hữu, một bản chất hiện hữu cơ bản của đời sống thường nhật được bộc lộ; ta gọi đó là Verfallen sự ‘sa ngã’9 của Dasein. [Chen ngang: Martin Heidegger dùng khái niệm Verfallen/ Verfallenheit để chỉ trạng thái ‘sa ngã’ hoặc ‘bị cuốn vào’ của Dasein hiện hữu người. Nó mô tả cách con người tự nhiên bị lạc lối, bị cuốn hút và xao nhãng bởi thế giới thường nhật, mang tính đại chúng và thiếu tính chân thực của das Man cái ‘họ’, qua đó đánh mất sự kết nối với cá tính đích thực và những ý nghĩa sâu xa của bản thân. Động từ verfallen trong tiếng Đức theo nghĩa đen có nghĩa là suy tàn, sa sút, đổ nát hoặc trở thành nạn nhân/bị khuất phục bởi một điều gì đó. Khái niệm Verfallen/ Verfallenheit của Heidegger: 1) Nó không mang nghĩa thần học về sự ‘sa ngã khỏi ân sủng’ như trường hợp của Adam và Eva, mà là một trạng thái bản thể luận—một khuynh hướng thường nhật và không thể tránh khỏi của Dasein hiện hữu người - hướng toàn bộ sự chú ý ra bên ngoài vào các công việc thực tiễn và sự tuân theo các chuẩn mực xã hội, thay vì hướng vào bên trong để đạt được sự tự nhận thức đích thực. 2) Các đặc điểm chính của Verfallen/ Verfallenheit: i) Sự cuốn hút vào thế giới - Dasein bị verfängt vướng mắc và bị benommen mê hoặc/cuốn đi bởi những sự vật và con người xung quanh; ii) Sự trốn chạy khỏi bản thân - đóng vai trò như một cách trốn tránh thầm lặng việc phải đối diện với những nỗi xao xuyến âu lo của chính mình và tình trạng hữu tử của Hữu-thể-hướng-về-cái-chết; iii) Sự chi phối của das Man cái ‘họ’ - con người chấp nhận những thói quen thường nhật, dư luận xã hội và phiếm đàm hời hợt thay vì đưa ra những lựa chọn mang tính đích thực.-HHN]
[Tr.220] Thuật ngữ này không mang hàm ý đánh giá tiêu cực, mà được dùng để chỉ việc Dasein, trước hết và phần lớn thời gian, luôn gắn bó với ‘thế giới’ của những mối bận tâm của nó. Tình trạng Aufgehen bei ‘đắm mình’ này chủ yếu mang đặc tính của cái Hữu-thể-bị-đánh-mất vào tính công chúng của das Man cái ‘họ’. Trước hết, Dasein đã abgefallen ‘rời xa’ chính mình – với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực cái Tự ngã của nó – và rơi vào ‘thế giới’.10 Sự ‘sa ngã’ vào ‘thế giới’ có nghĩa là đắm mình vào cái ‘Hữu-thể-với-nhau’, chừng nào thứ Hữu thể này còn bị chi phối bởi những phiếm đàm, tính tò mò/hiếu kỳ và trạng thái nước đôi. Thông qua việc diễn giải về sự sa ngã, điều mà chúng ta từng gọi là ‘phi đích thực tính’ của Daseinxiii giờ đây có thể được định nghĩa một cách chính xác hơn.Tuy nhiên, các thuật ngữ ‘phi đích thực’ và ‘không đích thực’ tuyệt nhiên không mang nghĩa ‘thực sự không phải là’,11 như thể trong phương thức Hữu thể này, Dasein hoàn toàn đánh mất đi cái Hữu thể của mình. Phi-đích-thực-tính không hề có nghĩa là Hữu-thể-không-còn-trong-thế-giới, mà thực chất là một loại Hữu-thể-trong-thế-giới rất đặc thù—loại Hữu thể bị cuốn hút hoàn toàn bởi ‘thế giới’ và bởi cái Dasein-với của những Kẻ-Khác trong das Man cái ‘họ’. Trạng thái Das Nicht-es-selbst-sein Không-Hữu-thể-của-chính-mình đóng vai trò như một khả tính thực chứng của thứ thực thể, trong mối bận tâm cốt yếu của mình, vốn đang đắm chìm vào một thế giới. Loại Không-Hữu-thể này cần được hiểu là loại Hữu thể gần gũi nhất với Dasein và là trạng thái mà Dasein phần lớn vẫn tự duy trì. Do đó, ta không được xem sự ‘sa ngã’ của Dasein như một ‘cú rơi’ khỏi một ‘vị thế bản nguyên’ thuần khiết và cao cả hơn. Chúng ta không chỉ thiếu vắng mọi trải nghiệm về điều này về phương diện ontisch thực hữu, mà còn thiếu cả những khả tính hay manh mối để diễn giải nó trên bình diện hữu thể luận.
Trong sa ngã, chính Dasein — với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới thực tính — lại là cái gì đó mà nó đã ngã khỏi. Và nó không sa ngã vào một thực thể nào đó mà nó mới bắt gặp lần đầu trong tiến trình Hữu thể của mình, hay thậm chí là một thực thể mà nó chưa từng bắt gặp; nó đã sa đà vào chính thế giới — cái vốn thuộc về Hữu thể của nó. Sa ngã là một đặc tính hiện sinh xác định của tự thân Dasein. Nó không đưa ra khẳng định nào về Dasein như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri, hay về các mối quan hệ kiểu hiện-diện-vô-tri với những thực thể mà Dasein ‘xuất phát từ đó’ hoặc những thực thể mà sau này Dasein rơi vào một kiểu giao dịch nào đó. Chúng ta cũng sẽ hiểu sai cấu trúc hiện sinh-bản thể luận của sự sa ngã12 nếu gán cho nó ý nghĩa của một thuộc tính thuộc bình diện ontical thực hữu tồi tệ và đáng trách — một thuộc tính mà có lẽ các giai đoạn văn hóa nhân loại tiến bộ hơn có thể loại bỏ được.
[Tr.221] Cả trong lần đầu tiên đề cập đến Hữu-thể-trong-thế-giới như là trạng thái cơ bản của Dasein, lẫn trong việc mô tả các yếu tố cấu trúc cấu thành nên nó, chúng ta đều chưa vượt ra ngoài phạm vi phân tích cấu thành của loại Hữu thể này cũng như chưa chú trọng đến đặc tính hiện tượng của nó. Quả thực, chúng ta đã mô tả mối quan tâm và ân cần như những loại Hữu-thể-trong khả thể cơ bản. Tuy nhiên, chúng ta chưa bàn đến vấn đề về loại Hữu thể thường nhật của các cách thức hiện hữu này. Chúng ta cũng đã chỉ ra rằng Hữu-thể-trong là một cái gì đó hoàn toàn khác biệt so với sự đối đầu đơn thuần — dù là thông qua quan sát hay hành động; nghĩa là, nó không phải là Hữu-thể-cùng-hiện-diện-vô-tri của một chủ thể và một Khách thể. Dẫu vậy, có lẽ vẫn có vẻ như Hữu-thể-trong-thế-giới đóng vai trò như một khuôn khổ cứng nhắc, trong đó các phương thức ứng xử có thể có của Dasein đối với thế giới của nó diễn ra mà không hề tác động đến chính khuôn khổ đó xét về mặt Hiện-hữu. Thế nhưng, chính cái khuôn khổ được giả định này lại góp phần tạo nên loại Hữu thể của Dasein. Một phương thức hiện sinh của Hữu-thể-trong-thế-giới được thể hiện rõ nét trong hiện tượng sa ngã. Những cuộc phiếm đàm bộc lộ cho Dasein thấy một Hữu thể hướng về thế giới của nó, hướng về những Kẻ Khác và hướng về chính nó—một Hữu thể mà trong đó các yếu tố này được thấu hiểu, nhưng lại theo một phương thức trôi nổi không có nền tảng. Tò mò phơi bày mọi thứ, bất kể là gì, nhưng lại theo cách mà Hữu-thể-trong vừa hiện diện ở khắp mọi nơi lại vừa chẳng ở đâu cả. Trạng thái nước đôi không che giấu điều gì khỏi sự thấu hiểu của Dasein, nhưng nó chỉ làm vậy để kìm hãm cái Hữu-thể-trong-thế-giới trong trạng thái bị bứng gốc dù ở ‘khắp mọi nơi mà chẳng ở đâu cả’.
____________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 Mục H. 133 ở trên.
2 ‘…nicht in der verengten Orientierung am Erkennen, das schon fruh und in der griechischen Philosophie nicht zufallig aus der "Lust zu sehen" begriffen wird.' Các ấn bản trước đó có '….am Erkennen, als welches schon fruh…’
3 Trong khi câu của Aristotle thường được dịch là, 'Về bản chất, mọi người đều mong muốn được biết', Heidegger lấy εἰδέναι eidenai theo nghĩa gốc của nó, 'thấy', và nối ὀρέγονται oregontai (nghĩa đen: 'vươn tới') với 'Sorge' ('quan tâm').
4 Câu này đã được giải thích khác nhau. Phiên bản thông thường nhất là: 'Vì suy nghĩ và tồn tại đều giống nhau'. Tuy nhiên, Heidegger quay trở lại với ý nghĩa ban đầu của νοεῖν noein là 'nhận thức bằng mắt'.
5 ‘…sondem sie hat sich schon im Verstehen als Seinkonnen, in der Art des Entwurfs und der Vorgabe von Moglichkeiten des Daseins festgesetzt.’
6 ‘…was vorliegt und vorkommt…’
7 ‘…ist die verfanglichste Weise, in der die Zweideutigkeit Möglichkeiten des Daseins vorgibt, um sie auch schon in ihrer Kraft zu ersticken.' (Lưu ý rằng 'ihrer' có thể ám chỉ đến 'Zweideutigkeit' hoặc 'Miiglichkeiten'.)
8 'Und sie rlicben sich auch schon.'
9 'Verfallen'. Xem ghi chú 2 của chúng tôi, tr. 42, H. 21 ở trên và ghi chú 1, tr. 172, H. 134 ở trên.
10 “…und a die ‘Welt’ verfallen.” Mặc dù chúng ta sẽ làm theo các thành ngữ tiếng Anh bằng cách dịch 'an die "Welt" ' thành 'into the "world" ' trong những bối cảnh như thế này, nhưng giới từ 'into' hầu như không đúng. Ý tưởng đúng hơn là rơi vào thế giới hoặc sụp đổ chống lại nó.
11 ‘Und nichteigentlich, bedeutet aber keineswegs "eigentlich nicht" …’
12 ‘Die ontologisch-existenziale Struktur des Verfallens…’ Từ 'des Verfallens' không xuất hiện trong các ấn bản trước đó.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét