Powered By Blogger

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2026

Hữu thể và Thời gian (XX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

A. Cấu thành Hiện sinh của cái ‘Ở-đó’

[Tr.195] Cái vòng tròn tường giải thuộc về cấu trúc của ý nghĩa, và hiện tượng này bắt rễ từ cấu trúc hiện sinh của Dasein—tức là bắt rễ từ chính sự thấu hiểu mang tính tường giải. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, khái niệm Hermeneutische Zirkel/ Hermeneutic Circle ‘Vòng tròn Tường giải’ có nghĩa là mọi sự hiểu biết của con người đều mang tính chất vòng tròn: chúng ta chỉ có thể hiểu một đối tượng khi dựa vào những giả định nền tảng có sẵn, và chính những giả định đó lại được kiểm chứng cũng như định hình lại thông qua những gì chúng ta học hỏi được. Heidegger lập luận rằng vòng tròn này không phải là một sai lầm logic cần tránh né. Nó là điều kiện cơ bản, tất yếu của Dasein hiện hữu người trong đó có: i) Tiền-cấu trúc của tri thức - chúng ta không bao giờ tiếp cận thế giới với một tâm trí trống rỗng, mà luôn bắt đầu với Vorhabe trạng thái chuẩn bị nền tảng trước, một Vorsicht cái nhìn định hướng trước, và Vorgriff những khái niệm có trước; ii) Chuyển biến bản thể luận - Trước Heidegger, các nhà tư tưởng coi vòng tròn này chỉ đơn thuần là một thủ pháp văn chương để đọc văn bản nhằm hiểu rõ các bộ phận thông qua tổng thể. Heidegger đã biến nó thành một chân lý hiện sinh - chúng ta thấu hiểu Hữu thể của chính mình bằng cách sống trong vòng lặp này.- HHN]. Một thực thể mà đối với nó—với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới—chính Hữu thể của nó là một vấn đề cần giải quyết, thì thực thể đó, xét về mặt bản thể luận, mang một cấu trúc vòng tròn. Tuy nhiên, nếu ta lưu ý rằng ‘tính vòng tròn’ về phương diện bản thể luận thuộc một loại Hữu thể vốn là hiện-diện-vô-tri (cụ thể là thuộc Bestand nguồn tồn tại) [Chen ngang: Đối với Heidegger, thuật ngữ Bestand - nguồn dự trữ sẵn sàng/kho dự trữ - mô tả cách công nghệ hiện đại biến mọi thứ—từ thiên nhiên, động vật cho đến chính con người—thành những nguyên liệu thô, vật tư và tài nguyên đơn thuần; chúng luôn ở trạng thái sẵn sàng để được huy động, sử dụng và tối ưu hóa bất cứ lúc nào. Đó là hệ quả cốt lõi của cái mà Heidegger gọi là Gestell Khung quy định/Cơ chế định hình. Các ý nghĩa cốt lõi của Bestand: i) Mất đi giá trị tự thân - sự vật không còn được nhìn nhận theo bản chất vốn có của chúng, mà chỉ được đánh giá dựa trên tính hữu dụng và hiệu quả; ii) Trạng thái sẵn sàng theo yêu cầu - một vật thể ở dạng Bestand không tồn tại độc lập hay tự do; nó chỉ tồn tại để được khai thác, lưu trữ và thay thế; iii). Quy giản con người - con người cũng bị cuốn vào hệ thống này, biến thành ‘nguồn nhân lực’, ‘đơn vị lao động’ hay các ‘điểm dữ liệu’ thay vì là những cá thể sống động với giá trị tự thân; iv) Ví dụ minh họa, chẳng hạn ‘Dòng sông’ - thay vì là một kỳ quan thiên nhiên hay một hệ sinh thái sống động, dòng sông chỉ được xem thuần túy là ‘nguồn dự trữ’ năng lượng nước để vận hành nhà máy thủy điện; Khu rừng - thay vì là môi trường sống hoang dã, khu rừng bị coi như kho dự trữ gỗ hoặc nguồn dự trữ để bù đắp lượng khí thải carbon; Người lao động - con người bị quản lý như những hồ sơ nhân sự hay các chỉ số năng suất thay vì là những cá nhân độc đáo.-HHN], thì ta phải hoàn toàn tránh dùng hiện tượng này để mô tả bất cứ điều gì tương tự như Dasein xét về mặt bản thể luận. 

33. Khẳng định - Phương thức Phái sinh của Diễn giải

Mọi sự diễn giải đều dựa trên sự thấu hiểu. Cái được diễn đạt1 thành hình trong sự diễn giải, và được phác thảo trước trong sự thấu hiểu nói chung như một điều có thể diễn đạt được, chính là ý nghĩa. Vì sự khẳng định hay ‘phán đoán’2 dựa trên sự thấu hiểu và thể hiện một dạng thức phái sinh của quá trình diễn giải, nên bản thân nó cũng ‘có’ một ý nghĩa. Tuy nhiên, ý nghĩa này không thể được định nghĩa như một thứ gì đó xuất hiện ‘trong’ một phán đoán cùng với tự thân hành vi phán đoán. Trong bối cảnh [tr.196] hiện tại, chúng ta sẽ phân tích tường tận về sự khẳng định, và phân tích này sẽ phục vụ nhiều mục đích. Thứ nhất, thông qua việc xem xét sự khẳng định, ta có thể chứng minh được các cách thức mà cái cấu trúc ‘như là’ vốn mang tính cấu thành đối với hiểu biết và diễn giải có thể bị biến đổi. Khi thực hiện điều này, cả hiểu biết lẫn diễn giải sẽ được làm sáng tỏ hơn. Thứ hai, việc phân tích khẳng định giữ một vị trí đặc biệt trong vấn đề bản thể luận nền tảng; bởi lẽ, vào giai đoạn then chốt khi bản thể luận cổ đại mới hình thành, cái λόγος logos đã đóng vai trò là manh mối duy nhất để tiếp cận cái zum eigentlich Seienden thực sự hiện hữu và để định nghĩa Hữu thể của các hiện hữu đó. Cuối cùng, từ thời cổ đại, sự khẳng định đã được thừa nhận là ‘nơi chốn’ bản nguyên và đích thực của chân lý. Hiện tượng chân lý gắn bó mật thiết với vấn đề Hữu thể đến mức khi tiến trình nghiên cứu đi xa hơn, chúng ta chắc chắn sẽ chạm trán vấn đề chân lý; và thực tế là nghiên cứu này đã nằm trong chiều kích của vấn đề đó, dù chưa được nêu rõ ràng. Đồng thời, việc phân tích khẳng định cũng sẽ dọn đường cho vấn đề này.

1). Ý nghĩa cơ bản của "sự khẳng định" (assertion) là "chỉ ra" [Aufzeigen]. Ở đây, chúng ta bám sát vào ý nghĩa nguyên thủy của λόγος logos – ngôn trí/trật tự/lý tính/ với tư cách là ἀπόφασις apophasis bộc lộ/phơi bày – tức là để cho một thực thể tự nhìn thấy từ bản thân nó. Trong lời khẳng định ‘Cái búa quá nặng’, thì cái được phơi bày cho nhãn quan thấy không phải là một ‘ý nghĩa’, mà là một hiện hữu ở trạng thái ‘sẵn-có-để-dùng’. Ngay cả khi thực thể này không ở đủ gần để có thể nắm bắt và ‘nhìn thấy’, thì hành động chỉ ra vẫn nhắm đến chính thực thể đó chứ không phải, chẳng hạn, một Vorstellung ‘trình hiện’ đơn thuần về nó—không phải là thứ gì đó ‘chỉ được tái hiện’ cũng không phải là trạng thái tâm lý mà trong đó người đưa ra cái khẳng định ‘tái hiện’ nó. 2). ‘Khẳng định’ có nghĩa không khác gì ‘phán đoán vị ngữ’. Chúng ta ‘khẳng định’ một ‘vị ngữ’ về một ‘chủ ngữ’, và ‘chủ ngữ’ đó được ‘vị ngữ’ xác định một tính chất cụ thể. Theo nghĩa này của từ ‘khẳng định’, cái được đưa ra trong khẳng định không phải là vị ngữ, mà là ‘chính cái búa’. Mặt khác, cái thực hiện hành động khẳng định (nói cách khác, cái gán cho một vật đặc tính xác định) lại nằm ở cái đặc tính ‘quá nặng’. Cái được đưa ra trong khẳng định theo nghĩa thứ hai của từ ‘khẳng định’ (cái được gán đặc tính xác định, theo đúng nghĩa) đã bị thu hẹp về nội dung so với cái được đưa ra trong khẳng định theo nghĩa thứ nhất [tr.197] của khuôn khổ này. Mọi phán đoán vị từ chỉ là chính nó khi nó đóng vai trò là một hành động chỉ-ra. Nghĩa thứ hai của từ ‘khẳng định’ có nền tảng từ nghĩa thứ nhất. Chính trong hành động chỉ ra này, các yếu tố được khớp nối trong phán đoán vị ngữ— chủ ngữ và vị ngữ— mới nảy sinh. Không phải nhờ việc gán cho một vật đặc tính xác định mà lần đầu tiên ta khám phá ra cái tự nó bộc lộ—cái búa—với tư cách là chính nó; mà khi ta gán cho nó đặc tính như vậy, thì tầm nhìn của ta trước hết bị hạn chế vào nó, để nhờ sự hạn chế rõ rệt3 này của tầm nhìn, mà cái vốn đã bộc lộ có thể được làm cho bộc lộ một cách tường minh trong đặc tính xác định của nó. Khi gán cho một vật một đặc tính xác định, trước hết ta phải lùi lại một bước khi đối diện với cái vốn đã bộc lộ—cái búa quá nặng kia. Khi ‘đặt ra chủ ngữ’, ta làm mờ đi các thực thể khác để tập trung vào ‘cái búa đằng kia’, sao cho nhờ việc làm mờ chúng đi, ta có thể để cho cái đang bộc lộ được nhìn thấy trong đặc tính xác định của chính nó—một đặc tính có thể được xác định.4 Việc đặt ra chủ ngữ, đặt ra vị ngữ, và đặt ra cả hai khi kết hợp lại, chúng hoàn toàn mang tính ἀποφαντικός ‘apophantical’ - tính chất bộc lộ/khẳng định - theo đúng nghĩa chặt chẽ của từ này. 3) ‘Khẳng định’ có nghĩa là Mitteilung ‘thông báo’, là Heraussage nói ra/bộc lộ ra. Với tư cách là thông báo, nó liên hệ trực tiếp với ‘khẳng định’ theo nghĩa thứ nhất và thứ hai. Đó là việc để người khác cùng nhìn thấy với ta điều mà ta đã chỉ ra bằng cách gán cho nó một đặc tính xác định. Việc để kẻ khác cùng nhìn thấy với ta chính là hành động ‘chia sẻ’ với Kẻ Khác cái thực thể đã được chỉ ra cùng với đặc tính xác định của nó. Điều được ‘chia sẻ’ ở đây chính là cái Hữu-thể-hướng-tới của chúng ta đối với cái đã được chỉ ra—một Hữu thể mà trong đó chúng ta cùng nhìn thấy nó. Cần lưu ý rằng cái Hữu-thể-hướng-tới này chính là Hữu-thể-trong-thế-giới, và chính từ trong thế giới này, điều được chỉ ra mới được bắt gặp. Bất kỳ sự khẳng định nào, với tư cách là thông báo được hiểu theo phương diện hiện sinh này, đều phải được diễn đạt.5 Là một nội dung được thông báo, điều được đưa ra trong khẳng định là thứ mà Kẻ Khác có thể ‘chia sẻ’ với kẻ đưa ra khẳng định, ngay cả khi thực thể được chỉ ra và được gán đặc tính xác định đó không ở đủ gần để họ có thể nắm bắt và nhìn thấy nó. Cái được đưa ra trong khẳng định là thứ có thể được truyền tải tiếp qua việc ‘kể lại’.  

Phạm vi chia sẻ lẫn nhau đó luôn được mở rộng. Tuy nhiên, đồng thời, cái đã được chỉ ra có thể lại bị che khuất trong quá trình kể lại đó; mặc dù vậy, ngay cả loại hiểu biết nảy sinh từ sự nghe kể lại (cho dù là tri thức [tr.198] về một Wissen [sự việc, thông tin, số liệu, sự kiện] hay chỉ đơn thuần là Kennen [quen biết ai đó, hoặc quen thuộc, có trải nghiệm thực tế (với một địa điểm, đồ vật, con người cụ thể] thì vẫn luôn hướng tầm nhìn vào chính thực thể đó chứ không phải là ‘tán thành’ một ‘ý nghĩa có giá trị’ nào đó đang được lan truyền. Ngay cả việc nghe kể lại cũng là một loại Hữu-thể-trong-thế-giới, và là một Hữu-thể-hướng-tới điều nghe được. Ngày nay, có một lý thuyết về ‘phán đoán’ đang thịnh hành, vốn định hướng theo hiện tượng Geltung ‘tính giá trị’.6 [Chen ngang: Geltung ‘tính hiệu lực’/ ‘giá trị hiệu lực’ của Martin Heidegger đề cập đến một khái niệm logic và nhận thức luận truyền thống—bắt nguồn từ Rudolf Hermann Lotze và được các nhà triết học Tân-Kantian phát triển thêm—nhằm chỉ cách thức mà các chân lý, ý nghĩa hoặc giá trị lý tưởng ‘có hiệu lực’ hay tồn tại độc lập với hiện hữu vật chất thực tế hoặc các quá trình tâm lý chủ quan. Heidegger nổi tiếng với việc bác bỏ Geltung, coi đó là một Wortgötze ‘ngẫu tượng ngôn từ’ vô bổ, tách rời chân lý và ý nghĩa khỏi Dasein/hiện hữu người  và thực tại mang tính thời gian. Trong các tác phẩm sơ kỳ hiện tượng học, Heidegger đã sử dụng khái niệm tính hiệu lực logic để giải thích tính khách quan lý tưởng của các phán đoán (ví dụ: các chân lý toán học như 2+2=4). Đến giai đoạn chín muồi trong Hữu thể và Thời gian này, Heidegger bác bỏ Geltung. Tại Mục 44, ông lập luận rằng việc đặt chân lý vào một phạm vi trừu tượng của ‘tính hiệu lực’ sẽ bỏ qua câu hỏi nguyên thủy về Sein Hữu thể. Các chỉ trích chính đối với Geltung: i) Trừu tượng hóa tách biệt - nó coi chân lý và ý nghĩa như những ‘thực thể’ lơ lửng, không diễn ra trong thế giới vật lý cũng không thuộc về trải nghiệm sống của con người; ii) Che đậy tình trạng thiếu hiểu biết về Bản thể luận - việc gọi một điều gì đó là ‘có hiệu lực’ không giải thích được cách thức nó được tiếp nhận hay loại Hữu thể của nó là gì; nó đóng vai trò như một khái niệm thay thế nhằm che đậy sự thiếu vắng một cuộc truy vấn thực sự về Bản thể luận; iii) Sự suy tàn của chân lý - đối với Heidegger, việc quy giản chân lý thành vấn đề về tính hiệu lực logic hay Cấu thành-giá trị Wertphilosophie triết học về giá trị - đánh dấu sự suy tàn tột cùng của quan niệm Hy Lạp nguyên thủy về chân lý như là aletheia - tính không bị che giấu hay trạng thái bộc lộ).- HHN] Chúng ta sẽ không thảo luận sâu về nó ở đây. Chỉ cần đề cập đến tính chất rất đáng ngờ của hiện tượng Geltung ‘tính giá trị' này là đủ, mặc dù kể từ thời Lotze, người ta vẫn coi nó như một ‘hiện tượng nguyên thủy’ không thể truy nguyên bất cứ điều gì. Việc nó có thể đóng vai trò này chỉ là nhờ vào việc chưa làm sáng tỏ được về mặt bản thể luận của nó. Những vấn đề nảy sinh xoay quanh từ ngữ được tôn sùng này cũng mơ hồ không kém.

Trước hết, tính hiệu lực được xem là ‘hình thức’ của Wirklichkeit tính hiện thực [Chen ngang: Wirklichkeit tính hiện thực Trong triết học Đức và trong các tác phẩm của Martin Heidegger chỉ những gì có hiệu lực, có thực hoặc đang vận hành. Thay vì coi đây là một trụ cột kỹ thuật cốt lõi trong hệ thống bản thể luận của riêng mình, Heidegger chủ yếu sử dụng thuật ngữ này khi phê phán siêu hình học truyền thống hoặc khi diễn giải lại triết học Aristotle. Các ý nghĩa và bối cảnh cốt lõi: i) Nguồn gốc từ nguyên: Wirklichkeit bắt nguồn từ wirken—nó mang nghĩa là ‘thứ tạo ra tác động’ hoặc ‘thứ đang vận hành’, chứ không phải là một trạng thái tồn tại tĩnh tại; ii) Phê phán siêu hình học - Heidegger cho rằng siêu hình học truyền thống đã sai lầm khi coi das Wirkliche cái ‘hiện thực’ hay das Seiende cái hiện hữu là điểm khởi đầu tối hậu để thấu hiểu về Hữu thể, qua đó bỏ quên một chiều kích sâu sắc hơn của Hữu thể; iii) Đề cao khả tính - Heidegger nổi tiếng với việc đảo ngược các ưu tiên cổ điển - như cặp khái niệm tiềm năng và hiện thực của Aristotle, - khẳng định rằng Möglichkeit Khả tính mang tính bản nguyên và cao hơn so với Wirklichkeit tính hiện thực đơn thuần. Đối với Heidegger, sự tồn tại đích thực của Dasein hiện hữu người được định nghĩa bởi chân trời các khả tính thay vì bởi những sự kiện hiện thực cố định.- HHN] vốn gắn liền với nội dung của phán đoán, xét trong chừng mực nội dung đó vẫn bất biến, trái ngược với quá trình phán đoán mang tính ‘tâm lý’ vốn có thể thay đổi. Khi xét đến cách thức mà vấn đề Hữu thể nói chung đã được mô tả trong phần giới thiệu của chuyên luận này, ta khó có thể kỳ vọng rằng ‘tính hiệu lực’ – với tư cách là ‘Hữu thể lý tưởng’ – lại được phân biệt bởi một trạng thái minh bạch đặc biệt về bản thể luận. Thứ hai, ‘tính hiệu lực’ đồng thời mang nghĩa là tính hiệu lực của ý nghĩa phán đoán – một ý nghĩa có giá trị đối với cái ‘Khách thể’ mà nó hướng tới; và do đó, nó đạt được ý nghĩa về một ‘đặc tính có giá trị khách quan’ cũng như về tính khách quan nói chung. Thứ ba, ý ​​nghĩa vốn ‘có giá trị’ đối với một thực thể, và tự thân nó ‘có giá trị’ một cách ‘phi thời gian’, cũng được coi là ‘có giá trị’ theo nghĩa nó có giá trị đối với bất kỳ kẻ nào phán đoán một cách duy lý.     

‘Tính hiệu lực’ giờ đây mang nghĩa tính ràng buộc, hay đặc tính ‘có hiệu lực phổ quát’.7 Ngay cả khi ta ủng hộ một lý thuyết nhận thức luận mang tính ‘phê phán’ — theo đó chủ thể không ‘thực sự’ ‘công khai’ với Khách thể — thì đặc tính hiệu lực này, với tư cách là tính hiệu lực của một Khách thể (Khách thể tính), vẫn dựa trên kho tàng các ý nghĩa chân thực (!) vốn tự thân đã có hiệu lực. Ba nghĩa của cụm từ ‘có hiệu lực’ mà chúng ta đã nêu — cách thức Hữu thể của cái lý tưởng, Khách thể tính, và tính ràng buộc — không chỉ tự thân chúng vốn mơ hồ mà còn thường xuyên bị nhầm lẫn với nhau. Viễn kiến về mặt phương pháp luận [tr.199] đòi hỏi chúng ta không được chọn những khái niệm thiếu ổn định như vậy làm manh mối cho việc Tường giải. Chúng ta không đặt ra hạn chế tiên khởi nào đối với ‘ý nghĩa’ chỉ giới hạn vào biểu thị ‘nội dung của phán đoán’; mà chúng ta hiểu nó như một hiện tượng hiện sinh đã được xác định đặc tính, nơi mà cái khuôn khổ hình thức của những gì có thể được bộc lộ trong sự thấu hiểu và được tường giải sẽ trở nên hiển lộ.

Nếu tập hợp ba nghĩa của ‘khẳng định’ đã phân tích và có cái nhìn thống nhất về toàn bộ hiện tượng này, ta có thể định nghĩa ‘khẳng định’ là ‘một hành động chỉ ra, mang lại cho sự vật một đặc tính xác định và mang tính thông báo’. Vấn đề còn lại là phải đặt câu hỏi: dựa trên cơ sở nào mà ta lại coi khẳng định là một phương thức của tường giải? Nếu nó thực sự thuộc loại hình này, thì các cấu trúc cốt yếu của tường giải hẳn phải tái hiện trong đó. Hành động chỉ ra của khẳng định được thực hiện dựa trên những gì đã được bộc lộ trong thấu hiểu hoặc được khám phá thông qua cái nhìn cẩn trọng bao quát. Khẳng định không phải là một loại hành vi tách biệt, tự thân có khả năng bộc lộ các thực thể nói chung theo một cách thức bản nguyên; trái lại, nó luôn duy trì sự tồn tại của mình trên nền tảng của Hữu-thể-trong-thế-giới. Những gì chúng ta đã trình bày trước đóix liên quan đến việc nhận biết thế giới cũng hoàn toàn đúng với khẳng định. Bất kỳ khẳng định nào cũng đòi hỏi phải có sự nắm bắt trước về những gì đã được bộc lộ; và đây chính là điều mà khẳng định chỉ ra thông qua việc gán cho sự vật một đặc tính xác định. Hơn nữa, trong bất kỳ cách tiếp cận nào, khi gán cho sự vật một đặc tính xác định, thì ta đã hướng cái nhìn của mình về phía điều sẽ được trình bày trong sự khẳng định đó. Khi một thực thể đã được trình diện được gán cho một đặc tính xác định, thì chức năng gán đặc tính đó được đảm nhận bởi chính cái mà ta hướng tầm nhìn của mình về phía thực thể ấy.8 Do đó, bất kỳ khẳng định nào cũng đòi hỏi một Vorsicht fore-sight viễn kiến [Chen ngang: Vorsicht của Martin Heidegger chỉ chân trời cấu trúc hoặc quan điểm có sẵn mà qua đó chúng ta tiếp cận và diễn giải bất kỳ điều gì. Thay vì mang nghĩa ‘thận trọng’, nó là một thành phần cốt lõi trong ‘Tiền-cấu trúc fore-structure của thấu hiểu; Heidegger cho rằng diễn giải không bao giờ là hành động nắm bắt đối tượng mà không có tiền giả định hay thực hiện trên một ‘tờ giấy trắng’. 1). Bất cứ khi nào Dasein hiện hữu người diễn giải một điều gì đó như là một điều gì đó, hành động ấy đều dựa trên một bộ ba yếu tố: i) Vorhabe - Cái đã có sẵn - những gì chúng ta đã nắm giữ từ trước như một tổng thể bối cảnh hoặc sự quen thuộc nền tảng; ii) Vorsicht - Tầm nhìn trước/Cái nhìn định hướng trước/ Quan điểm, góc độ hoặc giới hạn khái niệm cụ thể mà qua đó chúng ta nhìn nhận những gì đã có sẵn trong cái Vorhabe của mình; iii) Vorgriff - Khái niệm dự kiến/Tiền khái niệm: Sự nắm bắt mang tính dự đoán hoặc vốn từ vựng khái niệm mà chúng ta sử dụng để diễn đạt điều đang được diễn giải. 2). Các khía cạnh chính của Vorsicht: i) Không phải sự cẩn trọng - Mặc dù trong tiếng Đức hiện đại thông thường, Vorsicht có nghĩa là ‘thận trọng/ cẩn trọng’, nhưng Heidegger sử dụng nó theo nghĩa từ nguyên và triết học là Vor-sicht—nghĩa đen là ‘nhìn thấy trước’; ii) Cái nhìn định hướng: Vorsicht xác định điểm nhìn hoặc chân trời cụ thể để từ đó một thực thể được thấu hiểu. Nó thu hẹp Vorhabe nhận thức nền tảng bao quát của chúng ta thành một bối cảnh tập trung cho một hành động diễn giải cụ thể; iii) Những định kiến ​​nội tại - Vì diễn giải luôn vận hành dưới sự dẫn dắt của Vorsicht, nên bất kỳ hành động thấu hiểu nào cũng tất yếu mang theo những giả định và lập trường có sẵn, vốn thuộc về trạng thái chúng ta ‘bị ném’ vào thế giới.-HHN]; trong quá trình này, vị ngữ mà ta định gán và làm cho nổi bật sẽ được tách ra—có thể nói là vậy—khỏi sự bao hàm chưa được diễn đạt vốn nằm ngay trong bản thân thực thể đó. Hơn nữa, gắn liền với mọi khẳng định—vốn là một lối thông báo gán cho cái gì đó một đặc tính xác định—là khớp nối cái được chỉ ra, và khớp nối này diễn ra theo các ý nghĩa. Một sự khẳng định như vậy sẽ vận hành dựa trên một cách thức quan niệm xác định: ‘Cái búa thì nặng’, ‘Tính nặng thuộc về cái búa’, ‘Cái búa có thuộc tính nặng’. Khi một sự khẳng định được đưa ra, một sự ‘quan-niệm-trước’ nào đó luôn được ngầm định; song nó thường không lộ rõ, bởi lẽ bản thân ngôn ngữ đã ẩn chứa sẵn một cách thức quan niệm đã phát triển hoàn chỉnh. Giống như bất kỳ sự diễn giải nào, việc khẳng định tất yếu là ‘có-trước’, ‘thấy-trước’ và ‘quan-niệm-trước’ làm các nền tảng tồn tại của nó.

[Tr.200] Nhưng đến mức độ nào nó trở thành một phương thức diễn giải phái sinh? Điều gì đã được sửa đổi trong đó? Chúng ta có thể chỉ ra sự sửa đổi nếu chúng ta bám vào một số trường hợp giới hạn của khẳng định hoạt động trong logic như những trường hợp bình thường và như những ví dụ về hiện tượng khẳng định ‘đơn giản nhất’. Trước mọi phân tích, logic đã hiểu ‘một cách logic’ những gì nó coi là chủ đề dưới tiêu đề ‘tuyên bố phạm trù’ - ví dụ, ‘Cái búa nặng’. Giả định không được giải thích là ‘ý nghĩa’ của câu này được hiểu là: ‘Vật này - một cái búa - có thuộc tính nặng’. Trong sự thận trọng có trách nhiệm, ban đầu không có những khẳng định như vậy. Nhưng sự thận trọng như vậy tất nhiên có những cách diễn giải cụ thể của nó, và những cách này, so với ‘phán đoán lý thuyết’ vừa đề cập, có thể mang một số hình thức như ‘Cái búa quá nặng’, hoặc đúng hơn là chỉ ‘Quá nặng!’, ‘Đưa cho tôi cái búa khác!’ Việc diễn giải trước hết không được thực hiện bằng một tuyên bố lý thuyết mà bằng một hành động quan tâm thận trọng – gạt bỏ công cụ không phù hợp, hoặc thay thế nó, ‘mà không lãng phí lời nói’. Từ việc thiếu vắng ngôn từ, không thể kết luận rằng việc diễn giải cũng không tồn tại. Mặt khác, loại diễn giải được thể hiện một cách thận trọng không nhất thiết đã là một khẳng định theo nghĩa mà chúng ta đã định nghĩa. Khẳng định nảy sinh từ diễn giải bằng những sửa đổi hiện sinh-bản thể học nào?

Thực thể được nắm giữ trong trạng thái có-trước-cho của chúng ta – ví dụ, cái búa – là một công cụ sẵn-có-để-dùng ngay với tư cách là một thiết bị. Nếu thực thể này trở thành ‘khách thể’ của một khẳng định, thì ngay khi chúng ta bắt đầu khẳng định này, đã có một sự thay đổi trong trạng thái có-trước đó. Một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng mà chúng ta phải dùng để làm hoặc thực thi một việc gì đó, biến thành một thứ ‘mà về nó’ cái khẳng định chỉ rõ nó đã được đưa ra. Viễn kiến của chúng ta hướng đến một thứ hiện-diện-vô-tri trong những gì sẵn-có-để-dùng. Cả bằng và vì cách nhìn nhận này, mà cái sẵn-có-để-dùng trở nên bị che khuất với tư cách sẵn-có-để-dùng. Trong việc khám phá cái hiện-diện-vô-tri này, vốn đồng thời là sự che đậy trạng thái sẵn-có-để-dùng, thì một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri mà chúng ta gặp phải được gán cho một đặc tính xác định trong cái Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri-theo-cách-thức-này-hay-cách-thức-khác của nó. Chỉ đến lúc này, chúng ta mới có thể tiếp cận các thuộc tính hoặc những thứ tương tự. Khi một khẳng định đã gán cho một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri một đặc tính xác định, thì nó lại nói một điều gì đó về nó như một ‘cái gì’; và ‘cái gì’ này được rút ra từ cái hiện-diện-vô-tri theo đúng nghĩa. Cấu trúc-như là của diễn giải đã trải qua một sự thay đổi. Trong chức năng chiếm hữu những gì được hiểu, cái ‘như là’ không còn vươn tới tổng thể các can dự nữa. Về các khả tính Khớp nối các mối quan hệ-tham chiếu, nó đã bị tách rời khỏi ý nghĩa mà, theo đúng nghĩa, cấu thành nên tính môi trường. Cái ‘như là’ bị đẩy lùi vào [tr.201] mặt phẳng đơn dạng của cái chỉ hiện-diện-vô-tri. Nó thu hẹp lại thành thứ cấu trúc chỉ cho phép người ta nhìn thấy cái hiện-diện-vô-tri, và cho phép người ta nhìn thấy nó theo một cách xác định. Sự san bằng cái ‘như là’ bản nguyên thủy của diễn giải có viễn kiến với cái ‘như là’ mà nhờ đó cái hiện-diện-vô-tri được gán cho một đặc điểm xác định là đặc tính của khẳng định. Chỉ bằng cách đó, nó mới có được khả tính thể hiện một cái gì đó theo cách mà chúng ta chỉ nhìn vào nó. Do đó, khẳng định không thể chối bỏ nguồn gốc bản thể luận của nó từ một diễn giải hiểu biết. Cái ‘như là’ bản nguyên của một ἑρμηνεία cách diễn giải hiểu theo một tần viễn kiến, chúng ta gọi là cái ‘như là’ hiện sinh-tường giải, ‘khác với cái ‘như là’ ἀποφαντικός ‘apophantical’ – mang tính bộc lộ/khẳng định của cái khẳng định. Giữa loại giải thích vẫn còn hoàn toàn gắn liền với sự hiểu biết quan tâm và trường hợp cực đoan đối lập của một khẳng định lý thuyết về một điều gì đó hiện-diện-vô-tri, có nhiều cấp độ trung gian: những khẳng định về các sự kiện xảy ra trong môi trường, các tường trình về cái hiện-diện-vô-tri, ‘báo cáo về Tình hình’, việc ghi chép và xác định ‘sự thật của vụ việc’, mô tả một trạng thái sự việc, tường thuật về một điều gì đó đã xảy ra. Chúng ta không thể truy ngược những ‘câu’ này về các tuyên bố lý thuyết mà không làm sai lệch ý nghĩa của chúng một cách cơ bản. Giống như chính các tuyên bố lý thuyết, chúng có ‘nguồn gốc’ trong cách giải thích mang tính viễn kiến. Tiến bộ của tri ​​thức cấu trúc λόγος, hiện tượng ἀποφαντικός – mang tính bộc lộ ‘như là’ này là điều không thể tránh khỏi. Từ ‘như là’ cần phải xuất hiện dưới một hình thức nào đó. Cái cách thức mà nó được nhìn nhận một cách gần gũi không phải là ngẫu nhiên, và nó đã được chứng minh rõ ràng trong lịch sử logic sau này.

Khi được xem xét dưới góc độ triết học, bản thân λόγος logos là một hữu thể, và theo định hướng của bản thể luận cổ đại, nó là một cái gì đó Vorhandenheit hiện-diện-vô-tri. Các từ ngữ, xét về mặt trực tiếp, cũng là những cái hiện-diện-vô-tri; nghĩa là, ta bắt gặp chúng cũng giống như cách ta bắt gặp các Sự vật; và điều này đúng với bất kỳ chuỗi từ ngữ nào – tức là cái khuôn khổ mà trong đó λόγος logos tự biểu hiện. Trong bước tìm kiếm ban đầu về cấu trúc của λόγος logos như một cái hiện-diện-vô-tri như vậy, thì cái được phát hiện chính là cái Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri-cùng-nhau của nhiều từ ngữ. Điều gì tạo nên cái nhất tính của cái ‘cùng nhau’ này? Như Plato đã nhận thấy, cái nhất tính này nằm ở sự thật là cái λόγος logos luôn luôn là cái λόγος logos. Trong cái λόγος logos, một thực thể được hiển hiện, và hướng về thự thể này, các từ ngữ được kết hợp lại thành một chỉnh thể ngôn từ. Aristotle đã nhìn nhận vấn đề này một cách triệt để hơn: mọi λόγος logos đều vừa là σύνθεσις synthesis tổng hợp/kết hợp vừa là σύνθεσις diaeresis sự phân rẽ/chia tách, chứ không chỉ là cái này (gọi là ‘phán đoán khẳng định’) hay cái kia (gọi là ‘phán đoán phủ định’). Thay vào đó, mọi sự xác quyết – dù là khẳng định hay phủ định, dù đúng hay sai – đều đồng thời và bình đẳng là σύνθεσις synthesisσύνθεσις diaeresis. Việc phô bày bất cứ điều gì cũng đồng nghĩa với việc vừa quy tụ nó lại vừa tách nó ra. Tất nhiên, đúng là Aristotle đã không đi sâu vào câu hỏi phân tích để giải quyết vấn đề: hiện tượng nào trong cấu trúc của λόγος logos cho phép và thậm chí buộc chúng ta phải mô tả mọi phát ngôn như là sự tổng hợp và phân tách?

Cùng với các cấu trúc hình thức của sự ‘gắn kết’ và ‘chia tách’ – hay chính xác hơn là cùng với nhất tính của chúng – ta sẽ bắt gặp hiện tượng ‘cái gì đó như là cái gì đó’, và ta sẽ bắt gặp nó như một hiện tượng thực thụ. Theo cấu trúc này, một cái gì đó được thấu hiểu trong mối tương quan với một cái gì đó khác: nó được quy tụ cùng với cái kia, nhưng theo cách mà sự đối diện mang tính thấu hiểu này đồng thời lại tách rời những gì đã được quy tụ, và thực hiện điều đó bằng cách khớp nối chúng lại theo lối diễn giải. Nếu hiện tượng cái ‘như là’ vẫn bị che khuất, và trên hết, nếu nguồn gốc hiện sinh của nó ở cái ‘như là’ thuộc phép tường giải học bị che đậy, thì cách tiếp cận hiện tượng luận của Aristotle đối với việc phân tích λόγος logos sẽ suy giảm thành một ‘lý thuyết phán đoán’ hời hợt; trong đó, phán đoán trở thành sự kết nối hoặc phân tách các biểu tượng và khái niệm. Sự kết nối và phân tách này thậm chí có thể được hình thức hóa hơn nữa thành một sự ‘thiết lập quan hệ’. Phán đoán bị phân rã theo lối logic hình thức thành một hệ thống mà ở đó các sự vật được ‘phối hợp’ với nhau; nó trở thành đối tượng của một phép ‘tính toán’, nhưng lại không trở thành chủ đề cho sự diễn giải mang tính bản thể luận. Khả tính cũng như bất khả tính trong hiểu biết mang tính phân tích về σύνθεσις synthesis tổng hợp và σύνθεσις diaeresis phân tách—tức là về ‘quan hệ’ trong phán đoán nói chung—gắn bó chặt chẽ với vị thế hiện thời của vấn đề bản thể luận và các nguyên lý của nó.        

Hiện tượng copula từ nối cho thấy vấn đề này đã thâm nhập sâu đến mức nào vào Diễn giải về cái λόγος logos, và ngược lại, khái niệm ‘phán đoán’ (thông qua một tác động ngược chiều đáng kể) đã thâm nhập sâu đến mức nào vào vấn đề bản thể luận. Khi xem xét ‘mối liên kết’ này, ta thấy rõ rằng ban đầu, cấu trúc tổng hợp được coi là điều hiển nhiên, và nó cũng vẫn giữ vai trò làm chuẩn mực cho Diễn giải. Tuy nhiên, nếu các đặc tính hình thức của việc ‘thiết lập quan hệ’ và ‘kết nối’ không đóng góp được gì về mặt hiện tượng học cho việc phân tích cấu trúc của cái λόγος logos như là chủ đề-nghiên cứu, thì xét về lâu dài, hiện tượng mà ta gọi là copula ‘từ nối’ chẳng liên quan gì đến một mối liên kết hay sự kết nối cả. Do đó, việc diễn giải từ ‘là’—dù nó được diễn đạt độc lập trong ngôn ngữ hay được biểu thị qua đuôi động từ—sẽ dẫn chúng ta vào phạm vi các vấn đề thuộc về sự phân tích hiện sinh, nếu như sự khẳng định và hiểu biết về Hữu thể là những khả tính hiện sinh đối với chính Hữu thể của Dasein. Khi đi vào giải quyết vấn đề về Hữu thể (xem Phần I, Mục 3), chúng ta sẽ lại bắt gặp hiện tượng đặc thù này của Hữu thể mà ta đã thấy bên trong cái λόγος logos.

Thông qua việc chứng minh rằng sự khẳng định bắt nguồn từ diễn giải và thấu hiểu, chúng ta đã làm sáng tỏ rằng cái ‘logic’ của cái λόγος logos bắt rễ từ sự phân tích hiện sinh về Dasein; và ở mức độ sơ bộ, điều này là đủ. Đồng thời, khi nhận thấy rằng cái λόγος logos đã được diễn giải theo một cách thức khiếm khuyết về mặt bản thể luận, thì chúng ta có được cái nhìn sâu sắc hơn về thực tế là cơ sở phương pháp luận làm nền tảng cho sự hình thành bản thể luận cổ đại không phải là một cơ sở bản nguyên. Cái λόγος logos được trải nghiệm như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri và được diễn giải như vậy, trong khi đồng thời các hữu thể mà nó chỉ ra cũng mang ý nghĩa của sự hiện-diện-vô-tri. Ý nghĩa này của Hữu thể không được phân biệt hay đối chiếu với các khả tính khác của Hữu thể; hệ quả là, Hữu thể theo nghĩa về một Hữu thể hình thức – một cái gì đó bị hòa lẫn vào ý nghĩa kia, khiến chúng ta thậm chí không thể vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa hai phạm vi này.

34. Hữu-thể-ở-đó và Diễn-ngôn. Ngôn ngữ

Các cấu trúc hiện sinh nền tảng cấu thành nên Hữu thể của cái ‘ở đó’ — tức là trạng thái bộc lộ của Hữu-thể-trong-thế-giới — chính là tâm thể và thấu hiểu. Trong thấu hiểu luôn tiềm ẩn khả tính diễn giải, tức là cái khả tính chiếm lĩnh/tiếp nhận cái đã được thấu-hiểu. Vì tâm thế có tính đồng bản nguyên với hành vi thấu hiểu, nên nó luôn duy trì trong một sự thấu hiểu nhất định; do đó, tương ứng với nó là một năng lực nhất định để được diễn giải. Chúng ta đã thấy rằng khẳng định bắt nguồn từ diễn giải và là một trường hợp thái cực của nó. Khi làm rõ ý nghĩa thứ ba của khẳng định với tư cách là thông báo (lên tiếng/bày tỏ), chúng ta đã đi đến các khái niệm saying ‘lời nói’ và speaking ‘hành động nói’ — những khái niệm mà cho đến thời điểm đó, chúng ta đã cố ý chưa chú trọng tới. [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, Sagen/ Saying Lời nói và Sprechen/ Speaking Hành động nói có sự khác biệt sâu sắc và rõ rệt về mặt bản thể luận. Sprechen/ Speaking Hành động nói là hành động vật lý hoặc hành động của con người trong việc phát âm từ ngữ, trong khi Sagen/ Saying Lời nói là sự vận động bản nguyên, nền tảng của việc phô bày, khai mở và để cho các thực thể xuất hiện trong Hữu thể. Das Sagen/ Saying có nguồn gốc tiếng Đức cổ sagan có nghĩa là ‘phô bày’, ‘làm cho xuất hiện’ và ‘để cho điều gì đó được nhìn thấy’. Heidegger cho rằng Sagen/ Saying không chỉ là chuyện tán gẫu của con người; đó còn là hoạt động của tự thân Hữu thể biểu hiện thế giới. Con người có thể nói chỉ vì họ lắng nghe và đáp lại cái Sagen/ Saying sâu xa này. Das Sprechen/ Speaking - tạo ra âm thanh và ngôn ngữ về phương diện vật lý và chủ động; Sprechen/ Speaking là công cụ hoặc tiếng nói của con người. Heidegger từng đưa ra nhận định nổi tiếng rằng ta có thể nói rất nhiều mà không thực sự Sagen/ Saying ‘nói’ ra bất cứ điều gì – đó là cái dẫn đến những lời bàn tán phiếm hoặc chuyện tán gẫu vô bổ.-HHN] Cái sự thật là ngôn ngữ lần đầu tiên trở thành chủ đề nghiên cứu cho thấy hiện tượng này bắt rễ sâu xa trong cấu thành hiện sinh thuộc trạng thái bộc lộ của Dasein. Nền tảng bản thể luận hiện sinh của ngôn ngữ chính là diễn ngôn hay trò chuyện.10 Đây là hiện tượng mà chúng ta đã liên tục sử dụng trong phần Diễn giải trước đó về tâm thế, thấu hiểu, diễn giải và khẳng định; tuy nhiên, trong quá trình phân tích chuyên đề, chúng ta dường như đã tạm gác nó lại. Về phương diện hiện sinh, diễn ngôn có tính đồng bản nguyên với tâm thế và sự thấu hiểu.

Tính khả-tri của một sự vật luôn được khớp nối ngay cả trước khi có bất kỳ diễn giải thích hợp nào về nó. Diễn ngôn chính là Khớp nối [tr.204] của tính khả tri. Do đó, nó là nền tảng cho cả diễn giải lẫn khẳng định. Cái có thể được Khớp nối trong diễn giải — và do đó, được Khớp nối một cách bản nguyên hơn nữa trong diễn ngôn — chính là điều mà chúng ta gọi là ‘ý nghĩa’. Cái được khớp nối theo đúng nghĩa trong sự Khớp nối mang tính diễn ngôn được chúng ta gọi là Bedeutungsganze ‘tổng-thể-ý-nghĩa’. Tổng thể này có thể được phân rã hoặc chia tách thành các ý nghĩa. Các ý-niệm — với tư cách là những gì đã được khớp-nối từ cái có thể được khớp-nối — luôn mang trong mình ý-nghĩa. Nếu diễn ngôn—với tư cách là sự khớp nối tính khả tri của cái ‘ở đó’—là một cấu trúc hiện sinh  bản nguyên của trạng thái bộc lộ, và nếu trạng thái bộc lộ được cấu thành chủ yếu bởi Hữu-thể-trong-thế-giới, thì bản thân diễn ngôn cũng phải mang một kiểu Hữu thể mang tính thế gian đặc thù. Tính khả tri của Hữu-thể-trong-thế-giới —một tính khả tri luôn đi kèm với một tâm thế—tự biểu hiện thành diễn ngôn. Tổng-thể-ý-nghĩa của tính khả tri được diễn đạt thành ngôn từ. Ngôn từ gắn kết với các ý nghĩa; tuy nhiên, các ‘Sự-vật-ngôn-từ’ lại không được cung cấp ý nghĩa.

Phương thức biểu hiện của diễn ngôn chính là ngôn ngữ.11 Ngôn ngữ là một tổng thể các từ ngữ—một tổng thể mà trong đó diễn ngôn sở hữu một Hữu thể ‘thế gian’ của riêng mình; và với tư cách là một thực thể trong-thế-giới, tổng thể này trở thành một thứ mà ta có thể bắt gặp như một thứ sẵn-có-để-dùng. Ngôn ngữ có thể bị phân rã thành các ‘Vật-thể-từ-ngữ’ vốn hiện-diện-vô-tri. Về mặt hiện sinh, diễn ngôn chính là ngôn ngữ, bởi vì cái thực thể mà diễn ngôn khớp nối trạng thái bộc lộ của nó theo các ý nghĩa lại mang kiểu Hữu thể là Hữu-thể-trong-thế-giới—một Hữu thể vốn đã ‘bị ném’ vào và phục tùng ‘thế giới’. Là một trạng thái hiện sinh trong đó Dasein được bộc lộ, diễn ngôn cấu thành nên sự tồn tại của Dasein. Việc lắng nghe và giữ im lặng là những khả tính thuộc về kỹ năng mang tính diễn ngôn. Chính trong các hiện tượng này, lần đầu tiên chức năng cấu thành của diễn ngôn đối với hiện sinh tính của sự tồn tại mới trở nên hoàn toàn rõ ràng. Tuy nhiên, trước hết, vấn đề cốt yếu là phải làm sáng tỏ cấu trúc của diễn ngôn theo đúng nghĩa.

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 'Gegliederte'. Cả hai động từ 'artikulieren' và 'gliedem' đều có thể được dịch là 'articulate' trong tiếng Anh; ngay cả trong tiếng Gennan, chúng gần như đồng nghĩa, nhưng ở dạng trước, trọng âm có lẽ là ở 'các khớp' nơi một thứ gì đó được chia ra, trong khi ở dạng sau, trọng âm có lẽ là ở 'các bộ phận' hoặc 'các thành phần'. Chúng tôi đã phân biệt giữa chúng bằng cách dịch 'artikulieren' là 'Articulate' (viết hoa chữ 'A') và 'gliedern' là 'articulate' (viết thường chữ cái đầu).

2…die Aussage (das ‘Urteil’ )…

3 ‘Einschriinkung’. Các ấn bản cũ hơn có ‘Entschriinkung’.

4 ‘…die ‘Subjektsetzung’ blendet das Seiende auf ‘der Hammer da’, urn durch den Vollzug der Entblendung das Offenbare in seiner bestirnrnbaren Bestirnmtheit aehen zu lassen.’

5 ‘Zur Aussage als der so exenzial verstandenen Mit-teilung gehort die Ausges- prochenheit.’

6 Heidegger sử dụng ba từ có thể được dịch một cách tiện lợi là “tính hợp lệ”: “Geltung” (‘tính hợp lệ’ của chúng ta), ‘Giiltigkeit’ (‘ký tự hợp lệ của chúng ta’), và ‘Gelten’ (‘sự hợp lệ’ của chúng ta, v.v.). Người đọc nào đã học logic bằng tiếng Anh và do đó coi 'tính hợp lệ' chỉ đơn thuần là một thuộc tính của các lập luận trong đó tiền đề hàm ý kết luận, cần nhớ rằng trong tiếng Đức, động từ 'gelten' và các từ phái sinh của nó được sử dụng rộng rãi hơn nhiều, để áp dụng cho hầu hết mọi thứ được chấp nhận rộng rãi (hoặc thậm chí là riêng tư), đến nỗi người ta có thể nói về 'tính hợp lệ' của tiền tệ hợp pháp, 'tính hợp lệ' của vé trong một số tuần hoặc tháng nhất định, 'tính hợp lệ' của những gì 'đúng' đối với tôi hoặc đối với bạn, 'tính hợp lệ' của bất cứ điều gì đang xảy ra. Mặc dù cuộc thảo luận của Heidegger không bao gồm nhiều nghĩa này như được liệt kê trong bất kỳ từ điển tiếng Đức tốt nào, nhưng ông đã vượt xa cách sử dụng hẹp hơn của các nhà logic học nói tiếng Anh. Tất nhiên, chúng ta sẽ thường xuyên dịch 'gelten' theo những cách khác.

7 ‘…Verbindlichkeit, ‘Allgemeingiiltigkeit’.’

8 ‘Woraufhin das vorgegebene Seiende anvisiertwird, dasiibernimmt im Bestimmungsvollzug die Funktion des Bestimmenden.’

9 Phân chia này chưa từng xuất hiện.

10 ‘Rede’. Như chúng tôi đã chỉ ra trước đó (xem chú thích 3, trang 47, H. 25 ở trên), chúng tôi đã dịch từ này là ‘discourse’ hoặc ‘talk’, tùy theo ngữ cảnh, đôi khi kết hợp với cặp từ ‘diễn ngôn hay chuyện trò’. Nhưng trong một số ngữ cảnh, ‘discourse’ quá trang trọng trong khi ‘chuyện trò’ quá thông tục; người đọc cần nhớ rằng không có từ tương đương nào trong tiếng Anh cho ‘Rede’. Để thảo luận trước đó, xem Phần 7 B ở trên (H. 32-34).

11 'Die Hinausgesprochenheit der Rede ist die Sprache.'

 

 

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét