Powered By Blogger

Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2023

Nghi lễ như là Phép ẩn dụ (I)

Francesco Della Costa

Người dịch: Hà Hữu Nga

Tóm tắt

Hiệu quả của nghi lễ là một vấn đề lớn của nhân học. Trong bài viết này, tôi sẽ đương đầu với một số cách giải thích mà các nhà nhân học đã đưa ra cho vấn đề ấy và cố gắng xây dựng một lý thuyết ban đầu về nghi lễ như là phép ẩn dụ. Giả thuyết được đề xuất dựa trên hai khái niệm đầy cảm hứng: ý tưởng của Ernesto De Martino về “giải lịch sử hóa” với tư cách là kỹ thuật chính của nghi lễ và “tính ảo” của Bruce Kapferer như là chiều góc động thực sự của nó. Dựa trên những nền tảng lý thuyết này cùng kinh nghiệm dân tộc học trực tiếp và quan niệm về nghi lễ như một thực hành hơn là một biểu tượng, tôi đưa ra quan niệm coi nó như một thực hành ẩn dụ hóa cụ thể không đại diện cho thực tại nhưng có hiệu quả đối với thực tại.

Giới thiệu

Một nghi lễ vận hành như thế nào? Đây rõ ràng là một câu hỏi mơ hồ, và các nhà nhân học văn hóa thường thích trả lời câu hỏi này theo cách mô tả hơn là theo cách phân tích. Chúng ta có một số lượng lớn các nghiên cứu mô tả hiện tượng luận dân tộc học về các nghi lễ, mối liên hệ của chúng với thần thoại, các cấu trúc phụng vụ, phương thức rập khuôn của chúng, các đặc điểm ngôn ngữ và/hoặc thẩm mỹ cũng như trình tự trình diễn, ý nghĩa văn hóa và chức năng xã hội của chúng. Tuy nhiên, không có nhiều công trình nghiên cứu cố gắng trả lời câu hỏi theo nghĩa khác: Một nghi lễ vận hành như thế nào? Làm thế nào nó có thể có hiệu quả? Hoặc vay mượn cách diễn đạt dược lý, cơ chế hoạt động của nó là gì?

Trong số các tác giả cổ điển đã đối mặt với vấn đề này và đưa ra các giả thuyết của mình, thì Claude Lévi-Strauss (1949), Clifford Geertz (1966) và Victor Turner (1967, 1969) có lẽ là những người nổi tiếng nhất cũng như là những kẻ truyền cảm hứng nhất. Những khía cạnh chính mà các giả thuyết đó có cùng quan điểm, có thể là hai đặc điểm rất cụ thể, cuối cùng biến thành “hai hạn chế” của các giả thuyết đó, được Esther Langdon (2007) sử dụng để thách thức về phương diện dân tộc học của cô đối với những diễn giải cổ điển đó về hiệu quả của nghi lễ chính là: vai trò then chốt của biểu tượng và định hướng phân tâm học. Trong đó định hướng phân tâm học được thể hiện khá rõ ràng trong bài báo của Lévi-Strauss trực tiếp so sánh pháp sư người Cuna, dùng tụng niệm thần chú để giúp một phụ nữ được mẹ tròn con vuông vì một ca vượt cạn vô cùng nan giải, với một nhà phân tâm học, và áp dụng khái niệm giải ẩn ức [Abreagieren] của Freud đối với phản ứng cảm xúc của người bệnh. Và nền tảng phân tâm học cũng có thể truy nguyên trong lý thuyết nghi lễ của Turner, đặc biệt là trong khuôn khổ trao đổi giữa các vấn đề tri giác và ý thức hệ (nghĩa là cá nhân và xã hội) mà một nghi lễ luôn thực hiện. Nếu di sản của Freud không trực tiếp hiện diện trong bài viết nổi tiếng năm 1966 của Geertz về “tôn giáo như một hệ thống văn hóa”, thì cách tiếp cận của ông vẫn coi các thực hành và biểu hiện tôn giáo như các hệ thống biểu tượng thiết lập “tâm trạng và động cơ tồn tại lâu dài ở nam giới” (1966: 90), tuyên bố ít nhất là một quan niệm do tâm linh thúc đẩy có thể được thảo luận cùng với các cách hiểu phân tâm học của các đồng nghiệp của ông.

Thay vào đó, nếu truy vấn ý tưởng về biểu tượng và việc sử dụng biểu tượng, chúng ta thấy rằng các khía cạnh biểu tượng của nghi lễ là rất quan trọng đối với phần lớn các cuộc luận chiến nhân học (Hoskins, 2015) nhưng thường được kết nối với quan điểm đại diện, tập trung vào ý nghĩa của nghi lễ. Bài viết của tôi dự định thảo luận về quan điểm tượng trưng này. Đối với Lévi-Strauss, các biểu tượng là “équivalents significatifs du signifié, relevant d’un autre ordre de réalité que ce dernier” - những tương đồng về nghĩa của cái được biểu đạt, thuộc về một trật tự hiện thực khác với trật tự của cái được biểu đạt. [Nguyên văn đoạn này của Levi-Strauss là như sau: “La charge symbolique de tels actes rend ceux-ci propres à constituer un langage : en vérité, le médecin dialogue avec son sujet, non par la parole; mais par des opérations concrètes, véritables rites qui traversent l’écran de la conscience sans rencontrer d’obstacle, pour apporter directement leur message à l’inconscient. Nous retrouvons donc la notion de manipulation, qui nous avait paru essentielle à l’intelligence de la cure shamanistique, mais don’t nous voyons que la définition traditionnelle doit être élargie : car c’est tantôt une manipulation des idées, et tantôt une manipulation des organes, la condition commune restant qu’elle se fasse à l’aide de symboles, c’est-à-dire d’équivalent significatifs du signifié, relevant d’un autre ordre de réalité que ce dernier.”  “Bổn phận biểu tượng của những hành vi như vậy làm cho chúng phù hợp để cấu thành một ngôn ngữ: trên thực tế, thầy lang đối thoại với con bệnh của mình không phải bằng lời nói, mà thông qua các thao tác cụ thể, các nghi thức thực sự vượt qua bức màn ý thức mà không gặp bất kỳ trở ngại nào, để đưa thông điệp của họ trực tiếp đến cõi vô thức. Do đó, thật dễ dàng để liên tưởng đến khái niệm thao túng, mà chúng tôi thấy dường như là thiết yếu đối với tài trí chữa trị của pháp sư, nhưng về lĩnh vực đó chúng tôi thấy rằng cần phải mở rộng định nghĩa truyền thống: bởi vì đôi khi đó là phép thao túng tâm trí, và đôi khi lại là phép thao túng các bộ phận cơ thể, mà điều kiện chung là nó phải được thực hiện với sự trợ giúp của các biểu tượng; cần hiểu rằng những vật tương đương nghĩa của cái được biểu đạt, thuộc về một trật tự thực tại khác với trật tự thực tại của cái được biểu đạt [Levi-Strauss,Claude (1958). Magie et religion, Anthropologie structurale. Paris, Plon, 1958, p.220 - HHN] (Levi-Strauss 1949: 22).1 Geertz định nghĩa biểu tượng là “bất kỳ đối tượng, hành động, sự kiện, phẩm chất hoặc mối quan hệ nào được sử dụng như một phương tiện cho một quan niệm” (1966: 91); Turner phân biệt biểu tượng với dấu hiệu, thừa nhận tính đa nghĩa của biểu tượng, và thúc đẩy một quan điểm biến đổi, không mang tính đại diện về nghi lễ, nhưng ông vẫn quan niệm bản thân nó có ý nghĩa. Ba người trong số họ tóm tắt các thuộc tính của biểu tượng như những thuộc tính ẩn dụ, nhưng cuối cùng tất cả đều cho rằng nhiệm vụ chính của ẩn dụ là đại diện.

Trong các trang tiếp theo, tôi sẽ phát triển phân tích lý thuyết của mình về nghi thức như một phép ẩn dụ phi-đại diện. Tôi sẽ đi theo con đường phân tích liên kết hai điểm quy chiếu chính: Ernesto De Martino, nhà nhân học lớn người Ý của thế kỷ XX, đã thách thức ý tưởng của Durkheim (và sau đó là của Lévi-Strauss) về tôn giáo như một cơ chế xã hội học, và Bruce Kapferer, đã từng thay đổi quan niệm quá trình của Turner về nghi lễ bằng một cách diễn giải năng động dựa trên lý thuyết về “tính ảo” của ông. Các nhà nhân học này, mặc dù xa nhau về nguồn gốc địa lý, thế hệ và triết học, nhưng vẫn có chung một số cách thức xây dựng khái niệm và phương pháp tiếp cận; và rất đáng kể là cả hai lĩnh vực đó đều duy trì tính hiệu quả của nghi thức liên quan đến sức mạnh của nó trong việc chuyển đổi triệt để cả bản thân và thực tại. Tôi sẽ xem xét lại các công trình của họ và dựa trên những giả định của họ để gợi ra một quan niệm mới mẻ về nghi lễ có thể được sử dụng để trả lời cho câu hỏi mở đầu bài viết này.

Nghi lễ và Giải lịch sử hóa thực tại

“Mặc dù ít được biết đến bên ngoài Ý và Pháp, nhưng Ernesto De Martino (1908–1965) là một trong những nhà tư tưởng thú vị, nguyên bản và sâu sắc nhất của nhân học thế kỷ 20” [tr.5] (Saunders, 1993: 875). Đây là dòng mở đầu một bài viết có liên quan được xuất bản năm 1993 trên tạp chí American Ethnologist Nhà Dân tộc học Mỹ của George Saunders. Đây là lần đầu tiên nhân học của De Martino được thảo luận trên một tạp chí hàng đầu bằng tiếng Anh, trong khi De Martino viết bằng tiếng Ý và, vào thời điểm đó, mới chỉ được dịch sang tiếng Pháp,2 ngoại trừ một bản dịch tiếng Anh đơn lẻ và sơ sài của Il mondo magico Thế giới Ma thuật (1948 [1988]).3

Chính từ Thế giới Ma thuật mà tôi đã tìm ra được xuất phát điểm suy tư của mình. Được xuất bản vào năm 1948, tác phẩm ngay lập tức thiết lập một quan điểm mang tính cách mạng về ma thuật. Quả thực, De Martino coi ma thuật như một sản phẩm lịch sử chỉ có thể hiểu được bằng cách bác bỏ định kiến duy lý đã ảnh hưởng đến cách tiếp cận xã hội học và nhân học đối với nó. Chuyển từ triết học duy tâm-duy sử luận của Benedetto Croce, trong giai đoạn đầu hoạt động của mình, De Martino đã ra sức tìm kiếm một dân tộc học duy sử luận và thách thức Trường phái Xã hội học Pháp, cũng như quan niệm “tinh thần nguyên thủy” của Lévy-Bruhl (1922), coi quan điểm duy lý giả định không thể chối cãi của nó về tính phi thực tại của ma thuật là sai lầm lớn. Theo De Martino, thực hành ma thuật và tín ngưỡng tạo thành một vấn đề lý thuyết cấp bách.

“Chúng ta phải bắt đầu cuộc khám phá của mình bằng cách kiểm nghiệm lời khẳng định được cho là hiển nhiên nói rằng sức mạnh ma thuật là không tồn tại. Ở đây, một khó khăn mới tự xuất hiện và làm phức tạp thêm điều thoạt nhìn có vẻ là một câu hỏi đơn giản về sự kiện. Khi khảo sát hiện thực của sức mạnh ma thuật, có một sự cám dỗ đòi hỏi phải có bằng chứng về những gì phải được hiểu biết thông qua hiện thực như thể có một khái niệm mà tâm trí nhận thức như một chân lý hiển nhiên; một khái niệm mà người khảo sát phải áp dụng hoặc không, cứ như thể một mệnh đề làm vị ngữ cho cái chủ ngữ mà dựa vào đó để đưa ra phán đoán vậy. Nhưng sớm hay muộn thì cũng phải cân nhắc đến một thực tế là vấn đề này không chỉ liên quan đến chất lượng của sức mạnh ma thuật, mà còn cả quan niệm của chúng ta về hiện thực nữa. Nghiên cứu không chỉ bao trùm chủ đề đang được tranh cãi (sức mạnh ma thuật), mà còn bao hàm cả tiêu chuẩn phán đoán (khái niệm về thực tại)” (De Martino, [1948] 1988: 3).

Với “sức mạnh ma thuật”, De Martino muốn nói đến cái hệ thống phức tạp của các nghi lễ tôn giáo-ma thuật cũng như các thực hành “huyền bí” mà các thầy phù thủy và pháp sư thực hiện, được các nhà dân tộc học kinh điển của đầu thế kỷ XX giải thích (đặc biệt là: Czaplicka, 1914; Gusinde, 1937; Shirokogoroff, 1935; Spencer và Gillen, 1927; Trilles, 1932). Và đó là lý do tại sao đoạn trích dẫn và toàn bộ Il mondo magico Thế giới Ma thuật cũng có thể được coi là một đóng góp đột phá cho một lý thuyết tổng quát hơn về nghi lễ: nghi lễ ma thuật được quan sát dưới góc độ phi lý như một đối tượng văn hóa tự nó không đại diện cho thực tại , nhưng ảnh hưởng đến nó, vượt qua sự đối lập rất cơ bản giữa thực tại và phi thực tại.

Trong những năm 1950, De Martino đã chuyển đổi sang chủ nghĩa lịch sử có nguồn gốc từ chủ nghĩa Mác của Gramsci và cống hiến hết mình cho một cuộc khảo sát dân tộc học chiến binh về quần chúng nông thôn miền nam nước Ý nhằm giải phóng chính trị của họ (Berrocal, 2015): một cách tiếp cận mà sau này sẽ là trung tâm của công cuộc Nghiên cứu Văn hóa và Giải-thực dân. Trong hơn một thập kỷ, ông đã thực hiện một số cuộc “thám hiểm” tới Lucania và Puglia, đồng thời xuất bản một bộ ba tác phẩm dân tộc học đáng kinh ngạc. Cuốn đầu tiên, Morte e pianto ritualeCái chết và Nghi thức Than khóc (De Martino, 1958), vẫn chưa được dịch sang [tr.6] tiếng Anh và là tài liệu cho một nghiên cứu chuyên sâu về sự tồn tại của nghi thức than khóc, một phương thức được điển lệ hóa về phương diện văn hóa để thương tiếc một người đã khuất , mà vào thời của ông vẫn có thể quan sát được ở xã hội nông dân thuộc các vùng nông thôn miền Nam nước Ý.

Chuyên khảo thứ hai về miền Nam nước Ý là Sud e magia - Miền Nam và Ma thuật  (De Martino, 1959 [2015]), một tiểu luận về các truyền thống tôn giáo-ma thuật, và dựa trên một số khảo sát dân tộc học được De Martino và các cộng sự của ông thực hiện ở Basilicata vào đầu những năm 1950 để kiểm tra các giả định lý thuyết của mình thông qua nghiên cứu thực địa. Công trình này đã được Dorothy Zinn biên tập và dịch sang tiếng Anh với tiêu đề Magic: A Theory from the South – Ma thuật: Một lý thuyết từ miền Nam, năm 2015.4 Công trình dân tộc học thứ ba, La terra del rimorso – Vùng đất Hối hận (1961 [2005]), có lẽ là cuốn sách nổi tiếng nhất của De Martino, là tác phẩm cuối cùng của ông trước khi ông qua đời sớm vào năm 1965. Nó dựa trên một chiến dịch dân tộc học được tiến hành vào cuối những năm 1950 ở khu vực phía nam của Puglia, nơi ông và nhóm của mình nghiên cứu chứng Hỉ vũ - tarantism [Múa nhện, đặc trưng của miền nam nước Ý, với nhịp 6/8 sôi động, kèm theo tiếng lục lạc nhịp nhàng do chính vũ công chơi - một dạng hành vi cuồng loạn, được cho là do vết cắn của nhện sói Lycosa tarantula hoặc Latrodectus tredecimguttatus, thường gọi là nhện góa phụ đen Địa Trung Hải, mặc dù chưa có mối liên hệ nào giữa những vết cắn như vậy và hành vi của chứng tarantism. Tuy nhiên, thuật ngữ này trong lịch sử được sử dụng để chỉ chứng cuồng nhảy múa - đặc trưng của miền Nam nước Ý - có thể chẳng liên quan gì đến vết cắn của nhện. Điệu nhảy tarantella được cho là phát triển từ một liệu pháp điều trị tarantism - HHN] còn sót lại, một phức hợp nghi lễ đặc biệt hàng thế kỷ được đặc trưng bởi một trạng thái chiếm ám cá nhân do vết cắn thần thoại của loài nhện và phép trừ tà bằng vũ đạo-âm nhạc tương xứng.5

Nghiên cứu điền dã của De Martino dựa trên sự hợp tác làm việc theo nhóm liên ngành, bao gồm một nhà dân tộc học, một nhà xã hội học, một bác sĩ tâm thần, một nhiếp ảnh gia và một nhà làm phim. Đó là một thử nghiệm dân tộc học mang tính cách mạng trong truyền thống dân tộc học ghế bành của Ý thời bấy giờ. Nhờ có cuộc khảo sát kết hợp như vậy, De Martino đã đánh giá những yếu tố tôn giáo ma thuật còn sót lại mà ông quan sát được trong các cuộc khảo sát của mình là tác động của tính phụ thuộc về chính trị và kinh tế của nông dân miền nam nước Ý, và cũng là một chiến lược hiệu quả mặc dù thô sơ của sự cứu chuộc lịch sử và văn hóa. Ở đây đã xác lập khái niệm cơ bản về nhân học của De Martino, vốn rất quan trọng trong tất cả các tiểu luận và bài viết của ông: khái niệm về “sự hiện diện” (presenza). Ma thuật và tôn giáo, với các hệ thống nghi lễ thần thoại của chúng, cần phải được liên đới với cái mà De Martino gọi là “tấn kịch lịch sử” (1948 [1988]: 70) liên kết thế giới nguyên thủy, quần chúng lệ thuộc, và cả giai cấp tư sản phương Tây trước giai đoạn phê phán của nó, như ông đã nhận định vào cuối đời trong những ghi chép đăng thành di cảo (1977): tấn kịch của một sự hiện diện có nguy cơ bị mai một.

Khái niệm “hiện diện” của De Martino rất có thể bắt nguồn từ ý tưởng “hiện diện hóa” của Pierre Janet, có thể được định nghĩa ngắn gọn là “khả năng phân biệt giữa quá khứ và hiện tại, thực tại và phóng tưởng” (Craparo, Ortu và Van der Hart, 2019) [Nguyên văn đoạn này của Pierre Janet là như sau: La présentification est une forme encore plus spéciale de la réalisation dans laquelle les actes promis sont des actes de récit. D’une manière générale, il n’y a lieu de faire le récit d’une perception qu’au moment où cette perception est passée et ne peut plus être en action. Mais la présentification consiste à faire le récit en même temps que l’on fait l’acte, c’est-à-dire dans des conditions où le récit semble parfaitement inutile. Cette dérogation aux règles de la mémoire s’est établie pour obtenir l’unité des récits de la vie pour que les actes actuels puissent être rangés avec les actes passés et les actes futurs en prenant pour ainsi dire le même dénominateur. On pourrait aussi rappeler à ce propos la notion du zéro en arithmétique : le zéro est considéré comme faisant partie de la série des nombres, quoiqu’à parler rigoureusement il ne soit pas un nombre, mais cette extrapolation de la notion de nombre permet de rattacher la série des nombres négatifs à la série des nombres positifs et d’unifier tous les nombres. Dịch: Hiện diện hóa thậm chí còn là một hình thức thực hiện đặc biệt hơn trong đó các hành vi đã hứa hẹn chính là các hành vi kể chuyện. Nói chung kể ra câu chuyện về một tri giác khi tri giác này đã qua đi và không thể tiếp tục hành động nữa. Nhưng sự hiện diện hóa bao gồm việc kể câu chuyện đồng thời với việc ta thực hiện hành vi đó, nghĩa là trong những điều kiện mà câu chuyện dường như hoàn toàn vô dụng. Sự vi phạm các quy tắc của ký ức này được xác lập để đạt tới sự thống nhất của các câu chuyện về cuộc sống sao cho các hành vi hiện tại có thể được sắp xếp với các hành vi trong quá khứ và các hành vi trong tương lai, có thể nói là, bằng cách có được cùng một mẫu số. Trong mối liên hệ này, người ta cũng có thể nhớ lại khái niệm số 0 trong số học: số 0 được coi là một phần của chuỗi số, mặc dù nói một cách chính xác thì nó không phải là một số, nhưng phép ngoại suy này của khái niệm số có thể giúp liên kết chuỗi số âm với chuỗi số dương và thống nhất tất cả các số. Janet Pierre Félix Marie (1935). Réalisation et interprétation. In: Bulletin de psychologie, tome 47 n°414, 1994. Pierre Janet. Les délires d'influence et les sentiments sociaux. Tome II. p. 129; - HHN], nhưng lại đối lập với cái mà nhà tâm lý học người Pháp gọi là “misère psychologique” (đau khổ tâm lý), tức là “faiblesse Morale” (sự yếu kém về đạo đức), sự tan rã của Tự ngã với tư cách là một thực thể thống nhất và ổn định (Janet, 1889).

Mặc dù không thể phủ nhận “một vài mối liên hệ trực tiếp nào đó” (Zinn, 2015: 10) với công thức hiện sinh của Heidegger về “Dasein” (hiện hữu ở đó), nhưng không thể nhầm lẫn khái niệm hiện diện của De Martino với Dasein được. Tôi cho rằng nó gần với cái mà Jean-Paul Sartre (1943: 109–126) đặt tên là “présence à soi” (hiện diện với chính mình), đặc điểm chính của “être pour-soi” (hiện hữu cho chính nó), khi ông phê phán tính vô thức của hữu thể Heidegger, như Daniel Fabre (1999: 214, 217) đã đặc biệt lưu ý. Theo thuật ngữ của Sartrean, sự hiện diện của De Martino liên tục được kiến tạo, cũng như cái thế giới mà sự hiện diện của nó trở nên có ý nghĩa. “Siêu việt” là bổn phận chính của hiện diện: một nỗ lực không ngừng để vượt ra ngoài tính cho trước của thực tại, và ở đây một lần nữa, di sản của Sartre được thể hiện khá rõ ràng. Theo quan điểm như vậy, suy cho cùng hiện hữu đồng nhất với là một cái gì đó “phải-là”, nhưng trong khi ở hiện tượng luận [tr.7] của Sartre, đây là một thứ “phải mang tính hữu thể luận, còn sự hiện diện của De Martino lại đối mặt với một bổn phận lịch sử và văn hóa. Nó luôn luôn và chỉ xuất hiện thông qua một động lực văn hóa-lịch sử: một mặt là nguy cơ trượt về phía tự nhiên tính trùng khớp với phi hiện hữu về mặt lịch sử và văn hóa, và mặt khác là sự cứu chuộc của hiện hữu-ở đó và sự tái lập của thế giới trong các tọa độ lịch sử-văn hóa đã được công nhận. Do đó, khái niệm hiện diện của De Martino có thể được định nghĩa như một hiện hữu-trong- lịch sử được định hình-bằng-văn hóa. Ở đây hữu thể luận hiện sinh của Sartre rõ ràng là được nhân học duy sử luận của De Martino tôi luyện thuần thục: hiện diện đồng nghĩa với phải-có/là-trong-thế-giới này thông qua một mô thức văn hóa-xã hội cụ thể bên trong một bối cảnh lịch sử. Đối với nhà nhân học người Ý này, siêu việt không phải là một nỗ lực duy ngã mà liên quan đến một ethos tộc tính cụ thể, một kho báu gồm những biểu hiện, thực tiễn và giá trị chung đã được thừa nhận, được trao truyền qua lịch sử. Các nghi lễ (mà De Martino coi là luôn gắn bó chặt chẽ với thần thoại) là một phần của kho báu đó; chúng đại diện cho món hành lý cơ bản mà con người sử dụng, trong một số thời điểm và tình huống cụ thể, để siêu việt cái vô nghĩa của thực tại, nhằm xác lập sự hiện diện của họ và tìm lại thế giới cũng như lịch sử của mình.

Nhưng làm thế nào để các nghi lễ vận hành, theo De Martino? Như ông đã nhiều lần tuyên bố rõ ràng, có một mối quan hệ thực sự và chặt chẽ giữa cuộc khủng hoảng của sự hiện diện, nguy cơ mất đi của nó và sự cứu chuộc của tôn giáo-ma thuật, đến mức chính “quá trình [tạo ra-thần thánh] ” “phải được diễn giải là sự lựa chọn những thời điểm quan trọng mẫu mực và là một kỹ thuật – hoặc một hệ thống các kỹ thuật – để đối mặt với nguy cơ tha hóa” (De Martino, 1956 [2012]: 443). Kỹ thuật cơ bản vận hành tái hòa nhập tôn giáo-ma thuật như vậy được De Martino gọi là “quá trình giải lịch sử hóa thể chế” và có thể được coi là cơ chế rất cơ bản của nghi lễ. Những bước chuyển quyết định, những tình huống khó khăn, những khoảnh khắc đau khổ trong cuộc sống có thể làm tăng nguy cơ tan rã hiện diện của người ta, và do đó, trong một nghi lễ, chúng được “phi lịch sử hóa, nghĩa là chúng được giải quyết - che đậy và bảo vệ - với sự lặp lại của những cái giống hệt; và, cuối cùng, như thể chúng không phải là mới (có tính lịch sử), mà như thể chúng đang lặp lại một tình huống nguyên mẫu, vốn đã diễn ra trong siêu lịch sử.” Theo cách này, “thông qua sự gian lận ngoan đạo của cái ‘đã’ được đảm bảo ở cấp độ siêu lịch sử này, cái ‘ở đây’ và ‘bây giờ’ của lịch sử được tái khám phá, và lấy lại sự hiện diện - ở các cấp độ nhận thức và tiềm năng văn hóa khác nhau - sự sung túc tự thân những chân trời hình thức của chính nó” ((De Martino, [1956] 2012: 443). Ở một công trình khác, De Martino tóm tắt câu hỏi như sau: “quá trình phi lịch sử hóa của trở thành – hay chính xác hơn, của những gì đang xảy ra như tính phủ định hiện tại hoặc khả thể – diễn ra thông qua kỹ thuật cơ bản của [così-come] ngay khi: cái ‘ngay’ của một đặc tính phủ định cụ thể nhất định và của mong muốn tương ứng để loại bỏ nó được hấp thụ theo nghi lễ trong một bản sao thần thoại quyết định” (De Martino, 1959 [2015 trực tuyến ]: chương 10).

Kết quả đầu tiên mà kỹ thuật này đạt được là thể chế của một “hiện diện nghi lễ” được mô tả bởi “đặc trưng lặp đi lặp lại, phi cá tính và kỳ ảo”. Một hiện diện như vậy, trong đó mọi thứ có xu hướng trở thành khuôn mẫu và truyền thống, về mặt kỹ thuật phù hợp với cả việc kích hoạt quá trình đi xuống (catabasi) hướng đến các thực tại tâm linh có nguy cơ bị tha hóa, hoặc để bắt đầu quá trình đi lên (anabasi) hướng đến các giá trị. Do đó, hiện diện mang tính nghi lễ (hoặc nghi lễ thần thoại) được hiểu là hiện diện vận hành theo chế độ “bảo toàn” (risparmio), có xu hướng khôi phục lại sự cân bằng đã bắt đầu nghiêng về bất thành (De Martino, [1956] 2012: 444).

[Tr.8] Hiện diện nghi lễ cuối cùng là “một chế độ tồn tại được bảo vệ”, chỉ hoạt hóa bởi một biểu tượng. Biểu tượng là hòn đá tảng trong lý thuyết của De Martino cũng như trong cách tiếp cận của Lévi-Strauss, Geertz và Turner, nhưng De Martino lại nhìn nhận bằng một viễn kiến đặc biệt. Đối với ông, biểu tượng thần thoại-nghi lễ tất nhiên là “un modello di rappresentazione e di compportamento” (1957: 93), một mô hình của biểu hiện và hành vi, một “mô hình của” và một “mô hình cho”, như Geertz đã tóm tắt về các thuộc tính chính của tôn giáo. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, điều mang lại sự tái hòa nhập tôn giáo cho cuộc khủng hoảng hiện diện với hiệu quả tập thể và lâu dài chính là biểu tượng với tư cách là thực tiễn của một truyền thống văn hóa, vốn là sự chia sẻ các giá trị liên chủ thể. Quan điểm này rút ra trực tiếp từ khảo cổ học triết học về khái niệm hiện diện của De Martino: trong một trang nén đầy của Il mondo magico Thế giới Ma thuật, ông coi nhất tính siêu việt của Kant về tự nhận thức lý tính của con người là nền tảng cơ bản của quyền tự chủ của cá nhân, vốn được coi là hiển nhiên trong nhận thức luận và bản thể luận của thế giới phương Tây. “Để tạo ra sự đối lập giữa ‘chủ thể’ và ‘thế giới’, hoặc sự phân biệt giữa nhất tính chủ quan của ego/ngã và thực tại khách quan của những gì có thật […] thì cần phải có một hành vi của [cái] chức năng siêu việt tổng hợp ,” tức là “sự thống nhất theo các hình thức” (De Martino, [1948] 1988: 146).

Vượt khỏi ảnh hưởng trực tiếp không thể chối cãi của duy tâm luận Benedetto Croce, tôi tin rằng De Martino ngầm đề cập đến hậu-Kantianism của Ernst Cassirer.6 Thật vậy, nhà triết học người Đức này đã được trích dẫn một cách công khai trong phần chú thích cuối trang của đoạn văn mà tôi đã đề cập cũng như trong nhiều trang khác của cuốn sách này và các bài viết trước đó. Hơn nữa, De Martino (1948 [1988]: 158), định nghĩa hình thức là “một hành vi cấu thành, một sự tự sáng tạo”,7 rõ ràng là đề cập đến các hình thức biểu trưng của Cassirer nhiều hơn là các phạm trù của Kant hoặc Croce. Theo Cassirer, thực sự có một sự trùng hợp trên thực tế giữa thực tại và biểu hiện của nó, do đó mọi hình thức đều là sự sáng tạo của cả thế giới và tự ngã thông qua trung gian của các biểu tượng. Một biểu tượng, từ thần thoại đến toán học, cuối cùng được nhà triết học quan niệm không phải là một phương tiện biểu đạt đơn thuần để suy nghĩ hay mô phỏng sự vật. Thay vào đó, nó là các phương tiện lịch sử-văn hóa cấu thành mà nhờ đó, khái niệm và đối tượng nhất thiết có được sự phân định và tính xác định, thực tại của chúng (Cassirer, [1925] 1955: 155–156). Biểu hiện dẫn đến khách quan hóa. Về cơ bản, De Martino đồng ý với lập trường này, cho rằng cả tự ngã lẫn thế giới đều không được ban tặng, và chắc chắn ông hiểu rõ từ Cassirer cái ý tưởng cho rằng ngay cả thần thoại và tôn giáo-ma thuật nói chung cũng cần được xem xét trong toàn bộ quyền tự chủ bản thể luận và tính đặc thù lịch sử của các hình thức biểu tượng tổ chức nên tình trạng hỗn độn của các ấn tượng giác quan. Tuy nhiên, ông còn vượt xa điều này.   

De Martino nhằm mục đích vượt qua một cách tiếp cận nhận thức luận nghiêm ngặt như vậy mà cuối cùng vẫn chứng tỏ một nỗ lực duy lý để hiểu thế giới ma thuật. Đối với ông, vấn đề chủ yếu là tồn tại: hai cực trong mối quan hệ khái niệm của Cassirer, tự ngã và thế giới, không được ban cho, nhưng bản thân mối quan hệ của chúng cũng không thể giả định là đã được thiết lập một lần duy nhất. “Nhất tính siêu việt của nhận thức về tự ngã không chỉ xác lập khả tính tự chủ của cá nhân, vì còn cả khả tính rủi ro mà tính tự chủ này liên tục bị phơi bày trước nó” (De Martino, [1948] 1988: 146): hình thức , với tư cách là tự-sáng tạo, bao gồm mặt đối lập của nó, cái nguy cơ mà cả tự ngã và thế giới có thể sụp đổ. Như vậy, theo ông, hình thức biểu trưng là một phải-là không ngừng [tr.9] vượt qua nguy cơ phi-hiện hữu đó. Nó tạo thành trung gian lịch sử và văn hóa tạo ra và tái tạo cả tự ngã và thế giới. Sự hòa giải này về cơ bản nằm trong nỗ lực liên chủ thể nhằm giải quyết nhiệm vụ đương đầu với tấn kịch lịch sử tập thể của thế giới ma thuật: cuộc khủng hoảng của hiện diện, hay “một thực tại […] đang cố gắng tự tạo cho mình một hình thức” (De Martino, [1948] 1988: 118). Cả tự ngã và thế giới đều có thể được ban cấp ý nghĩa thông qua hoạt động tạo hình của biểu tượng, được coi là một hành vi, một thực hành biểu tượng hóa,8 hơn là một mô hình, và theo đúng nghĩa đó thực sự là hoạt động cốt lõi của bất kỳ nghi lễ nào.

Chỉ cần lướt qua một trong những ví dụ dân tộc học của De Martino cũng sẽ thấy rõ diễn ngôn lý thuyết này. Nhà nhân học đã quan sát hiện tượng Múa nhện - tarantism vào cuối những năm 1950 ở Salento, vùng Puglia cực nam, sau đó bị biệt lập, và mô tả nó như được tạo dựng dựa trên một nghi lễ chữa bệnh. Bệnh nhân, phổ biến nhất là phụ nữ, bị ảnh hưởng bởi chứng u sầu trầm trọng, và hành vi hàng ngày của họ bị cản trở bởi cảm giác ngột ngạt essere agito da “bị hành xác”. Để chữa khỏi tình trạng bị chiếm ám, xuất hiện như một tình trạng bối rối và bất thường, người thân của bệnh nhân đã cho cô ấy nghe một bản nhạc sống truyền thống riêng có taranta hoặc pizzica, do một ban nhạc không chuyên nghiệp địa phương biểu diễn trực tiếp. Nếu người phụ nữ phản ứng với âm nhạc bằng cách nhảy múa và hành động như một con nhện, thì việc chẩn bệnh đã đúng: một con nhện thần đã cắn cô ấy và chiếm hữu cô ấy một cách ma mị. Ở đây, rõ ràng là tình huống nguy cấp được định hình trong một khuôn mẫu thần thoại gắn liền với bối cảnh xã hội và văn hóa của nó. Tuy nhiên, mô hình này, nghĩa là hình thức biểu trưng định hình tình huống, không nằm ngoài nghi lễ, mà thực tế lại được rèn giũa trong nghi lễ và thông qua bản thân nghi lễ.

Nghi thức vũ-nhạc trình diễn tình trạng khủng hoảng tượng trưng cho nó: múa nhện - vũ điệu của tarantata cái nhện (là người phụ nữ được đặt tên trong nghi lễ) không phải là một sự đại diện, cũng không phải đơn thuần là một mô hình của một trạng huống xã hội hoặc khốn quẫn tâm lý. Biểu tượng bắt nguồn và kiểm soát một cuộc khủng hoảng cá nhân trong khuôn khổ thực hành được xác định về mặt văn hóa (nghĩa là không mang tính cá nhân). Đây chính là ý nghĩa của “giải lịch sử hóa”: nỗi u sầu của tarantata cái nhện hiện thời được chấm dứt và được cấu hình ở cấp độ siêu lịch sử, liên cá nhân. Nghi thức cứu chuộc khỏi tình trạng khủng hoảng cũng vận hành theo cách tương tự: điều này cũng được biểu tượng làm trung gian hòa giải. Quả thực, sau giai đoạn đầu của vũ điệu do tarantata cái nhện nằm trên sàn trình diễn, cô ta đứng dậy và bắt đầu nhảy nhót xung quanh phạm vi thực hành nghi lễ, bước luân phiên và nhịp nhàng trên đôi chân của mình, như để đè bẹp một con nhện, nhưng theo một vũ đạo chuẩn xác. De Martino mô tả vũ điệu này như một cuộc chiến mang tính biểu tượng chống lại tình trạng bị chiếm ám, nghĩa là nó không phải là một phản ứng mang tính cá nhân, tâm lý và thể chất, mà xuất phát từ cam kết vắn tắt của cả cộng đồng. Cuộc chiến cá nhân của tarantata cái nhện được duy trì bởi âm nhạc và vũ điệu nghi lễ, và được đóng khung trong tích truyện thần thoại được ban hành: Hình tượng Thánh Paul được bày trang trọng bên cạnh ban nhạc, thực sự đang chiến đấu thông qua cơ thể của cái nhện để tiêu diệt ma nhện ám chiếm cô ta.

Tình trạng ám chiếm nghi lễ và biểu hiện vũ đạo của nó không cung cấp cho tự ngã bị phân rã của cái nhện một ý nghĩa biểu tượng đúc sẵn: chúng treo lại tình trạng khủng hoảng của nó, làm gián đoạn sự phân rã của nó, và do đó tái định dạng nó trong một hình thức mới, sự hiện diện mang tính nghi lễ. Đối với De Martino, một nghi lễ luôn là một hành động biểu tượng hóa được thực hiện thông qua các công cụ văn hóa, là cái chưa bao giờ được ấn định trong các công cụ ấy: đó là một tình huống riêng tư và cụ thể siêu vượt thành một tình huống xã hội mang tính phổ quát, và hiệu quả nằm ở khả năng định dạng tình trạng hỗn loạn của nó, để tạo ra một hình thức từ sự hỗn loạn.

_______________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Della Costa F. (2023). Ritual as metaphor, In Anthropological Theory 2023, Vol. 23(1) 3–32.

Tác giả: Francesco Della Costa là một nhà nhân học văn hóa thuộc Trung tâm Nghiên cứu Israel tại LMU của Munich (Đức), và là giảng viên khóa học “Giới thiệu về Nhân học Thực phẩm” tại Trường Khoa học Đời sống của TUM (Đức). Ông đã lấy bằng kép Tiến sĩ về Nhân học Văn hóa tại Đại học Naples 'l'Orientale' và tại École des Hautes Études en Science Sociales, ở Paris. Vào năm 2013, ông bắt đầu làm việc với tư cách là một nhà nghiên cứu ở Israel, đầu tiên là tại khoa Nghiên cứu Thời đại Lãng mạn của Đại học Do Thái ở Jerusalem, và sau đó (2016-2018) tại khoa Xã hội học và Nhân học của Đại học Ben Gurion, Be'er Sheva. Xã hội Israel là một trong những lĩnh vực dân tộc học chính của ông, và hoạt động nghiên cứu hiện tại của ông dựa trên việc quan sát các động lực văn hóa xã hội diễn ra trong nước, đặc biệt tập trung vào những người di cư Công giáo. Một cực khác trong nghiên cứu điền dã dân tộc học của Della Costa là Italia. Sở thích nghiên cứu của ông bao gồm từ cái thiêng và nghi lễ đến hùng biện, ẩm thực, viết lách và văn chương. Ông cũng đã từng là Tổng biên tập của Primapersona Con người Đầu tiên, tạp chí do Archivio Diaristico Nazionale của Ý xuất bản, từ 2010 đến 2020.

Notes

1. In English: “meaningful equivalents of things meant which belong to another order of reality”, Lévi-Strauss, 1972: 196).

2. To be more accurate, after an enthusiastic reception of De Martino’s studies by Michel Leiris and Alfred Métraux, who prompted their partial translation in the early 1960s, the Italian anthropologist was also almost completely forgotten in France, as his approach did not match the structuralist hegemony. Only in the early 2000s, thanks to Daniel Fabre and some other French or French-speaking scholars such as Silvia Mancini (1991, 1997), Carlo Severi (1999), Giordana Charuty (2009), and Marcello Massenzio (1999), did De Martino’s thought re-enter French anthropological debate (Bergé 2001; Cordier 2005). Recently, new French editions of two works by De Martino were published: La fin du monde: Essai sur les apocalypses culturelles (2016) and Mort et pleurs rituels. De la lamentation funèbre antique à la plainte de Marie (2022).

3. The book was published in 1972 by an Australian publisher under the popularizing title Primitive Magic. The Psychic Powers of Shamans and Sorcerers. It was then republished in 1988 by the British Prism Press, and this is the English edition I am drawing from here. I agree with the negative opinion of Dorothy Zinn who advises the reader: “the translation provided in Primitive Magic lacks any annotations or critical apparatus; indeed, it is utterly inadequate with respect to the complexity of De Martino’s language, and in a number of places, the translator has actually omitted parts of the original text that seem to have been especially challenging. Additionally, De Martino would certainly have vehemently rejected the New Age cast given to the work in Paul Saye White’s preface” (Zinn, 2015: 14 [endnote n. 5]).

4. In 2015 Dorothy Zinn edited also a special issue of the Journal of American Folklore about De Martino. The introduction to this special issue (Zinn, 2015) offers an outstanding sketch of De Martino’s thought and work for English readers.

5. La terra del rimorso was translated into English as The Land of Remorse. A Study of Southern Italian Tarantism thanks again to commendable work of Dorothy Zinn. The English translation, published in 2005 with a foreword by Vincent Crapanzano, had a positive impact and boosted a renovate interest within the English-speaking anthropological milieu. In the following years, indeed, several authors as Emilio Berrocal (2009), Marja-Liisa Honkasalo (2009), Thomas Hauschild (2012) used De Martino’s insights for their original and intriguing studies. In 2012, Fabrizio Ferrari published the first intellectual biography of De Martino in English, and “Crisi della presenza e reintegrazione religiosa,” a foundational essay (1956) that outlined the core of his anthropological view, was translated by Charles Stewart and Tobia Farnetti. More recently, a remarkable series of German-language studies on De Martino were provided by Ulrich van Loyen (2015, 2021) and Antonio Roselli (2017, 2021). A special mention lastly deserves Flavio Geisshuesler’s study (2021) that rereads De Martino’s work and life within the intellectual climate and the socio-political context of his age.

6. About Cassirer’s influence on De Martino, see Andri, 2014, Pàstina, 2005, Talamonti, 2005.

7. The original “un atto di plasmazione” (De Martino, Yr: 158) could perhaps be more properly translated as “a forging act.”

8. Symbolization later became the core of cognitive ritual theory: see Bell, 1992; Boyer, 1993; Cannada Bartoli, 2004; Sperber, 1974; Strecker, 1988).

References

Andri E (2014) Il giovane De Martino. Storia di un dramma dimenticato. Massa: Transeuropa.

Bell C (1992) Ritual Theory, Ritual Practice. Oxford: Oxford University Press.

Bergé CH (2001) Lectures de De Martino en France aujourd’hui. Ethnologie Française 31: 537–547.

Berrocal EG (2009) The post-colonialism of Ernesto De Martino: The principle of critical ethnocentrism as a failed attempt to reconstruct ethnographic authority. History and Anthropology 20(2): 123–128.

Berrocal EG (2015) Other-Hegemony in de Martino: The figure of the Gramscian fieldworker between Lucania and London. The Journal of American Folklore 128(507): 18–45.

Boyer P (ed) (1993) Cognitive Aspects of Religious Symbolism. Cambridge: University Press.

Bruner J (1986) Actual Minds, Possible Worlds. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Burke K (1984) Permanence and Change. An Anatomy of Purpose, III edition Berkley: California University Press.

Cannada Bartoli V (2004) Il santo in casa. Retorica dell’alternanza in un rito. Roma: Aracne.

Cannada Bartoli V (2009) Practice of rhetoric, rhetoric of practice. In: Strecker I and Tyler S (eds) Culture and Rhetoric. New York: Berghahn Books, pp. 74–84.

Cassirer E (1955) The Philosophy of Symbolic Forms. Volume Two: Mythical Thought. New Heaven: Yale University Press. (orig. ed. Die Philosophie der Symbolischen Formen. Das Mythische Denken. Berlin: Bruno Cassirer, 1925).

Charuty G (2009) Ernesto De Martino: Les vies antérieures d’un anthropologue. Marseille: Parentheses.

Cordier P (2005) Historicisation, déshistoricisation: Relire Ernesto De Martino. Anabases 1: 288–292.

Craparo G, Ortu F and Van der Hart O (2019) Rediscovering Pierre Janet: Trauma, Dissociation, and a New Context for Psychoanalysis. London: Routledge.

Csordas T (1987) Genre, motive, and metaphor: Conditions for creativity in the ritual language of catholic Pentecostalism. Cultural Anthropology 2: 445–469.

Csordas T (1990) Embodiment as a paradigm for anthropology. Ethos (Berkeley, Calif ) 18(1): 5–47.

Csordas T (1993) Somatic modes of attention. Cultural Anthropology 8(2): 135–156.

Csordas T (1994) The Sacred Self. A Cultural Phenomenology of Charismatic Healing. Los Angeles: University of California Press.

Csordas T (2021) The challenge of indigenous healing for global mental health. Transcultural Psychiatry. Epub November 3, 2021.

Csordas T and Lewton E (1998) Practice, performance, and experience in ritual healing. Transcultural Psychiatry 35(4): 435–512.

Czaplicka MA (1914) Aboriginal Siberia: A Study in Social Anthropology. Oxford: Clarendon.

Davidson D (1978) What metaphors mean. Critical Inquiry 5(1): 31–47.

De Martino E (1948 [1988]) Primitive Magic: The Psychic Power of Shamans and Sorcerers.

Dorset: Prism Press (first published in the English language: Magic. Primitive and Modern. Rushcutters Bay, NSW: Bay Books, 1972) (original Italian edition: Il mondo magico. Prolegomeni a una storia del magismo. Torino: Einaudi, 1948 [republished with a new introduction and appendices in Turin by Boringhieri, 1973, 1997]).

De Martino E (1956 [2015]) Crisi della presenza e reintegrazione religiosa. Aut Aut 31: 17–38. (Crisis of presence and religious reintegration [trans. Charles Stewart and Tobia Farnetti]. HAU Journal of Ethnographic Theory 2015; 2(2): 434–450).

De Martino E (1957) Storicismo e irrazionalismo nella storia delle religioni. Studi e materiali di storia delle religioni XXVIII(1): 89–107.

De Martino E (1958) Morte e pianto rituale. Dal lamento funebre antico al pianto di Maria. Torino: Einaudi.

De Martino E (1959 [2015]) Sud e magia. Milano: Feltrinelli. (Magic: A Theory from the South [trans. Dorothy L. Zinn]. Chicago, IL: HAU Books.

De Martino E (1961 [2005]) La terra del rimorso. Milano: Il Saggiatore. (The Land of Remorse. A Study on Southern Italian Tarantism [trans. Zinn DL]. London: Free Association Books).

De Martino E (1977) La fine del mondo. Contributo all’analisi delle apocalissi culturali. Torino: Einaudi.

De Martino E (2016) La fin du monde: Essai sur les apocalypses culturelles (eds Charuty G, Fabre D and Massenzio M). Paris: EHESS.

De Martino E (2022) Mort et pleurs rituels. De la lamentation funèbre antique à la plainte de Marie (ed Massenzio M). Paris: EHESS.

Deleuze G (1993) The Fold: Leibniz and the Baroque. London: Athlone Press.

Deleuze G and Guattari F (1991 [1994]) Qu’est-ce que la philosophie? Paris: Minuit. (What Is Philosophy? [trans. Tomlinson H and Burchell G]. New York: Verso).

Della Costa F (2020) Flores de Mayo in Rehovot. Ritual and rhetorical strategies of Filipinos’ presence in Israel. HAU: Journal of Ethnographic Theory 10(2): 594–612.

Della Costa F (2021) Sartre, De Martino e la magia. Palaver 10(2): 141–170.

Doležel L (1998) Heterocosmica: Fiction and possible worlds. Baltimore: John Hopkins University Press.

Duranti A (1997) Linguistic Anthropology. Cambridge: Cambridge University Press.

Durham D and Fernandez JW (1991) Tropical dominions. The figurative struggle over domains of belonging and apartness in Africa. In: Fernandez JW (ed) Beyond Metaphor: The Theory of Tropes in Anthropology. Stanford, CA: Stanford University Press, pp. 190–210.

Eco U (1979) Lector in fabula. La cooperazione interpretativa nei testi narrativi. Milano: Bompiani.

Fabre D (1999) Un rendez-vous manqué. Ernesto De Martino et sa réception en France. L’Homme 151: 207–236.

Fernandez JW (1972) Persuasion and performances. On the beast in every body and the metaphor in every man. Dedalus 101(1): 39–80.

Fernandez JW (1974) The mission of metaphors in expressive culture. Current Anthropology 15(2): 119–145.

Fernandez JW (1977) The performance of ritual metaphors. In: Sapir JD and Crocker JC (eds) The Social Use of Metaphor. Philadelphia: Pennsylvania University Press, pp. 100–131.

Fernandez JW (1986) Persuasions and Performances. The Play of Tropes in Culture. Bloomington: Indiana University Press.

Fernandez JW (ed.) (1991) Beyond Metaphor: The Theory of Tropes in Anthropology. Stanford, CA: Stanford University Press.

Ferrari F (2012) Ernesto de Martino on Religion: The Crisis and the Presence. Sheffield: Equinox.

Finnegan R (1969) How to do things with words: Performative utterances among the Limba of Sierra Leone. Man 4: 537–551.

Fox J (1971) Sister’s child as plant: Metaphors in an idiom of consanguinity. In: Needham R (ed) Rethinking Kinship and Marriage. London: Tavistok, pp. 219–252.

Geertz C (1966) Religion as a cultural system. In: Banton M (ed) Anthropological Approaches to the Study of Religion. London: Tavistock, pp. 1–46.

Geisshuesler FA (2021) The Life and Work of Ernesto De Martino. Italian Perspectives on Apocalypse and Rebirth in the Modern Study of Religion. Leiden: Brill.

Gumperz JJ and Hymes D (1972) Directions in Sociolinguistics: The Ethnography of Communication. New York: Holt, Rinehart, & Winston.

Gusinde M (1937) Die Feuerlander-Indiäner. Wien: Mödling.

Handelman D (2004) Why ritual in its own right? How so? In: Handelman D and Lindquist G (eds) Ritual in its own Right. New York – Oxford: Berghahn Books, pp. 1–34.

Handelman D (2013) Bruce Kapferer, Deleuzian virtuality, and the makings of a ritual masterstroke. Religion and Society 4(1): 32–40.

Hauschild T (2012) Power and Magic in Italy. Oxford: Berghahn.

Hintikka J (1989) L’intentionnalité et les mondes possibles. Paris: Presses Universitaires de Lille.

Hobart A and Kapferer B (2012) Contesting the State. The Dynamics of Resistance and Control. Oxford: Sean Kingston Publishing.

Honkasalo M-L (2009) Grips and ties: Agency, uncertainty, and the problem of suffering in north Karelia. Medical Anthropological Quarterly 23(1): 51–69.

Hoskins J (2015) Symbolism in anthropology. In: Wright JD (ed) International Encyclopedia of the Social & Behavioral Sciences, 2nd edition, Vol. 23. Oxford: Elsevier, pp. 860–865.

Jakobson R (1981) Selected Writings III. Poetry of Grammar and Grammar of Poetry. The Hague: Mouton.

Jakobson R and Halle M (1956) Fundamentals of Language. The Hague: Mouton.

Janet P (1889) L’automatisme psychologique: Essai de psychologie expérimentale sur les formes inférieures de l’activité humaine. Paris: Alcan.

Kapferer B (1979a) Mind, self, and other in demonic illness: The negation and reconstruction of self. American Ethnologist 6(1): 110–133.

Kapferer B (1979b) Ritual process and the transformation of context. Social Analysis: The International Journal of Social and Cultural Practice 1: 3–19.

Kapferer B (1979c) Emotion and feeling in Sinhalese healing rites. Social Analysis: The International Journal of Social and Cultural Practice 1: 153–176.

Kapferer B (1986) Performance and the structuring of meaning and experience. In: Turner V and Bruner EM (eds) The Anthropology of Experience. Chicago: University of Illinois Press, pp. 188–203.

Kapferer B (1997) The Feast of the Sorcerer: Practices of Consciousness and Power. Chicago – London: Chicago University Press.

Kapferer B (2001) Anthropology. The paradox of the secular. Social Anthropology 9(3): 341–344.

Kapferer B (2002) Beyond Rationalism: Rethinking Magic, Witchcraft and Sorcery. New York – Oxford: Berghahn Books.

Kapferer B (2004) Ritual dynamics and virtual practice: Beyond representation and meaning. In: Handelman D and Lindquist G (eds) Ritual in its own Right. New York – Oxford: Berghahn Books, pp. 35–54.

Kapferer B (2006a) Dynamics. In: Kreinath J, Snoek JAM and Stausberg M (eds) Theorizing Rituals, Volume 1: Issues, Topics, Approaches, Concepts. Leiden: Brill, pp. 507–522.

Kapferer B (2006b) Virtuality. In: Kreinath J, Snoek JAM and Stausberg M (eds) Theorizing Rituals, Volume 1: Issues, Topics, Approaches, Concepts. Leiden: Brill, pp. 671–684.

Kapferer B (2011) Legends of People, Myths of State. Violence, Intolerance and Political Culture in Sri Lanka and Australia. New York and Oxford: Berghahn Books.

Kapferer B (2013) Montage and time: deleuze, cinema, and a Buddhist sorcery rite. In: Suhr C and Willerslev R (eds) Transcultural Montage. New York and Oxford: Berghahn Books, pp. 20–39.

Kripke SA (1980) Naming and Necessity. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Laderman C and Roseman M (eds) (1996) The Performance of Healing. London and New York: Routledge.

La Fontaine J (1977) The power of rights. Man 12: 421–437.

Lakoff G and Johnson M (1980) Metaphors We Live By. Chicago: University of Chicago Press.

Langdon EJ (2007) The symbolic efficacy of rituals: From ritual to performance. Antropologia em Primeira Mão 95: 1–40.

Langer SK (1942) Philosophy in a New Key. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Langer SK (1953) Feeling and Form. London: Routledge and Kegan Paul.

Leibniz GWF (1985) Theodicy: Essays on the Goodness of God, the Freedom of Man, and the Origin of Evil. Chicago: Open Court.

Lévi-Strauss C (1949) L’efficacité symbolique. Revue de L’histoire des Religions 135(1): 5–27.

Lévi-Strauss C (1962) La pensée sauvage. Paris: Plon.

Lévy-Bruhl L (1922) La mentalité primitive. Paris: Alcan.

Mancini S (1991) Le monde magique selon Ernesto De Martino. Gradhiva 10: 71–84.

Mancini S (1997) La notion d’ethnocentrisme critique et l’anthropologie contemporaine. Gradhiva 22: 1–13.

Massenzio M (1999) Sacré et identité ethnique. Paris: Éditions de la MSH.

Meinert L and Kapferer B (2015) In the Event. Toward an Anthropology of Generic Moments. New York and Oxford: Berghahn Books.

Meyer CH and Girke F (eds) (2011) The Rhetorical Emergence of Culture. Studies in Rhetoric and Culture. New York: Berghahn Books.

Ohnuki-Tierney E (1991) Embedding and transforming polytrope. The monkey as self in Japanese culture. In: Fernandez JW (ed) Beyond Metaphor: The Theory of Tropes in Anthropology. Stanford, CA: Stanford University Press, pp. 159–189.

Pàstina R (2005) Il concetto di presenza nel primo De Martino. In: Gallini C (ed) Ernesto De Martino e la formazione del suo pensiero. Napoli: Liguori, pp. 115–129.

Rappaport RA (1974) The obvious aspects of ritual. Cambridge Anthropology 2(1): 3–69.

Rappaport RA (1979) Ecology, Meaning and Religion. Richmond, CA: North Atlantic Books.

Rappaport RA (1999) Ritual and Religion in the Making of Humanity. Cambridge: Cambridge University Press.

Recanati F (2001) Literal/nonliteral. Midwest Studies in Philosophy XXV: 264–274.

ReimerM(2008) Metaphor meanings. Do you see what I mean? The Baltic International Yearbook of Cognition, Logic and Communication 3: 1–20.

Ricoeur P (1975) La métaphore vive. Paris: Seuil.

Ricoeur P (1978) The metaphorical process as cognition, imagination, and feeling. Critical Inquiry 5(1): 143–159.

RosaldoM(1972) Metaphors and folk classification. Southwestern Journal of Anthropology 28(1): 83–99.

Roselli A (2017) Sein-sollen: Formen des in-der-Geschichte-seins bei Ernesto de Martino. Journal Phänomenologie 2: 33–44.

Roselli A (2021) Grenzgänge am Rand der Geschichte. Selbst- und Weltkrisen in Ernesto de Martinos Kulturtheorie. In: Bertrams B and Roselli A (eds) Selbstverlust und Welterfahrung Erkundungen einer pathischen Moderne. Wien-Berlin: Turia+Kant, pp. 400–430.

Sapir DJ and Crocker CJ (eds) (1977) The Social Use of Metaphor: Essays on the Anthropology of Rhetoric. Philadelphia, PA: University of Pennsylvania Press.

Sartre JP (1938 [1995]) Esquisse d’une théorie des émotions. Paris: Hermann.

Sartre JP (1943) L’être et le néant. Essai d’ontologie phénoménologique. Paris: Gallimard.

Saunders G (1993) “Critical ethnocentrism” and the ethnology of Ernesto De Martino. American Anthropologist 95(4): 875–893.

Schieffelin EL (1985) Performance and the cultural construction of reality. American Ethnologist 12(4): 707–724.

Schieffelin EL (1996) On failure and performance. Throwing the medium out of the Séance. In: Laderman C and Roseman M (eds) The Performance of Healing. London and New York: Routledge, pp. 59–90.

Seligman AB, Weller RP, Puett MJ, et al. (2008) Ritual and its consequences: An essay on the limits of sincerity. Oxford: Oxford University Press.

Severi C (1993) Talking about souls: the pragmatic construction of meaning in Cuna ritual language. In: Boyer P (ed) Cognitive Aspects of Religious Symbolism. Cambridge: Cambridge University Press, pp. 165–181.

Severi C (1999) Une pensée inachevée: L’utopie anthropologique d’Ernesto De Martino. Gradhiva 26: 99–107.

Shirokogoroff SM (1935) The Psychomental Complex of the Tungus. London: Trubner.

Spencer B and Gillen FJ (1927) The Arunta. A Study of Stone Age People. London: Macmillan.

Sperber D (1974) Rethinking Symbolism. Cambridge: Cambridge University Press.

Stern J (1991) What Metaphors do not mean. Midwest Studies in Philosophy 16: 13–52.

Strecker I (1988) The Social Practice of Symbolization. An Anthropological Analysis. London: Athlone Press.

Strecker I and Tyler SA (eds) (2009) Culture and Rhetoric. New York: Berghahn Books.

Talamonti A (2005) La labilità della persona magica. In: Gallini C (ed) Ernesto De Martino e la formazione del suo pensiero. Napoli: Liguori, pp. 79–114.

Tambiah SJ (1968) The magical power of words. Man 3(2): 175–208.

Tambiah SJ (1973) Form and meaning of magical acts. A point of view. In: Horton R and Finnegan R (eds) Modes of Thought: Essays on Thinking in Western and Non-Western Societies. London: Faber & Faber, pp. 199–229.

Tambiah SJ (1979) A performative approach to ritual. Proceedings of the British Academy 65: 113–169.

Trilles RP (1932) Les Pygmées de la forêt équatoriale. Paris: Bloud & Gay.

Turner T (1991) “We are parrots,” “Twins are birds:” play of tropes as operational structure. In: Fernandez JW (ed) Beyond Metaphor: The Theory of Tropes in Anthropology. Stanford, CA: Stanford University Press, pp. 121–158.

Turner V (1967) The Forest of Symbols: Aspects of Ndembu Ritual. Ithaca: Cornell University Press.

Turner V (1969) The Ritual Process. Chicago: Aldine Publishing Company.

Turner V (1974) Dramas, Fields, and Metaphors. Ithaca N.Y.: Cornell University Press.

Turner V (1986) Dewey, Dilthey, and drama. An essay in the anthropology of experience. In: Turner V and Bruner EM (eds) The Anthropology of Experience. Chicago: University of Illinois Press, pp. 33–44.

Turner V and Bruner EM (eds) (1986) The Anthropology of Experience. Chicago: University of Illinois Press.

Tyler SA (1978) The Said and the Unsaid. Mind, Meaning, and Culture. New York: Academic Press.

Valeri V (2014) Rite. In: Rupert Stasch (ed) Rituals and Annals: Between Anthropology and History. Manchester: HAU Society for Ethnographic Theory, pp. 281–319. (Rito. Enciclopedia Einaudi 12, 1981: 210–43).

Van Loyen U (ed) (2015) Der besessene Süden. Ernesto de Martino und das andere Europa. Wien: Tumult bei Sonderzahl.

Van Loyen U (2021) Die Minerva der Apokalypse. Notizen zum Schamanismus von Elias Canetti und Ernesto de Martino. In: Bertrams B and Roselli A (eds) Selbstverlust und Welterfahrung Erkundungen einer pathischen Moderne. Wien-Berlin: Turia+Kant, pp. 380–399.

Wittgenstein L (1980) Remarks on the Philosophy of Psychology. Oxford: Blackwell.

Zinn DL (2015) An Introduction to Ernesto de Martino’s relevance for the study of folklore. The Journal of American Folklore 128(507): 3–17.

 

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 9 tháng 6, 2023

Dân tộc học, Trình diễn và Tưởng tượng (I)

Magdalena Kazubowski và Virginie Magnat

Người dịch: Hà Hữu Nga

Tóm tắt: Bài giới thiệu về chuyên đề “Dân tộc học, Trình diễn và Tưởng tượng” này xem xét trình diễn với tư cách là “dân tộc học tưởng tượng” (Elliott và Culhane 2017), một thực hành nghiên cứu liên ngành, hợp tác, hiện thân, phê phán và cam kết rút ra từ nhân học và nghệ thuật sáng tạo. Cụ thể, nó tập trung vào tính hiệu quả của trình diễn (một sự kiện được dàn dựng có chủ ý cho khán giả) được sử dụng như một quá trình dân tộc học (thực địa) và một phương thức thể hiện dân tộc học. Nó đặt câu hỏi: trình diễn có thể giúp chúng ta nghiên cứu và hiểu rõ hơn về các thế giới sống giàu tưởng tượng như chúng diễn ra trong thời điểm hiện tại không? Trình diễn có thể giúp chúng ta hình dung lại nhân học tưởng tượng là thế nào không? Nó cũng đặt câu hỏi liệu việc thực hành tại các giao điểm của nhân học, dân tộc học thì hiệu suất và tưởng tượng có thể thay đổi cách thức tham gia của chúng ta vào các quá trình và sản phẩm dân tộc học hay không, có thay đổi các vấn đề về tính phản ánh và thể hiện, mối quan hệ giữa nhà dân tộc học-tham gia và các khán giả dân tộc học không. Nó xem xét cách thức mà việc trình diễn được sử dụng với tư cách dân tộc học có thể giúp chúng ta tái khái niệm hóa sự tham gia của công chúng và hoạt động dân tộc học, dân tộc học hợp tác/có sự tham gia và nghiên cứu liên ngành trong và ngoài cơ sở nghiên cứu. Cuối cùng, phần giới thiệu này cung cấp một cái nhìn tổng quan ngắn gọn về những đóng góp cho phần chuyên đề này, giải quyết những câu hỏi này từ nhiều quan điểm lý thuyết, phương pháp luận và chủ đề.

Randia: (Sao cô diễn kịch? Cô là nhà nhân học kia mà!)

Randia, một phụ nữ Romani lớn tuổi và là người đối thoại nghiên cứu lâu năm của Magdalena Kazubowski-Houston (Magda), đã đặt ra câu hỏi này sau một buổi kể chuyện theo thể kịch, trong đó cô thuật lại một kịch bản dựa trên kinh nghiệm sống của mình. Không chỉ là đọc thuộc lòng lời thoại, phần này liên quan đến diễn xuất chính thức, trong đó Randia và Magda vào vai các nhân vật khác nhau. Trong buổi trình diễn cụ thể đó, Randia, đóng vai Córka, đã tâm sự với bạn của bà ấy là Ela (do Magda thủ vai) rằng, trong vài tuần qua, đêm nào bà cũng bị ma ám. Bà giải thích rằng những lần bị ma ám ấy, mặc dù không dễ nhận ra đó là những hình bóng nào, nhưng thường giống với những người thân đã khuất, đặc biệt là cô con gái và cậu con trai mới qua đời của bà.

Sau đó, Córka mong mỏi Ela mách bảo về cách ứng phó với những lần bị ma ám ấy, và Randia (với tư cách là Córka) lại đã hướng dẫn Magda (với tư cách là Ela) trả lời rằng Córka “chỉ nên nói chuyện với họ” và “hãy để họ lắng nghe”. Córka, bị mê hoặc bởi ý nghĩ này, bắt đầu thở hổn hển thốt ra tất cả những điều bà có thể nói với các linh hồn rằng: bà nhớ họ, bà không sợ họ, các con bà đã rời bỏ bà và hiếm khi đến thăm, bà sợ cuộc sống đơn chiếc, phải chết một mình, và hy vọng họ sẽ bảo vệ bà trong thời khắc lâm chung.

Vài phút sau, Randia thoát vai và gọi Magda là Magda: Thấy chưa… tất cả những suy nghĩ này như đá tảng trong tôi… Không có ai để trò chuyện… nhưng dù sao thì tôi cũng vẫn phải nói tất cả những điều này với ai chứ?... “Bà già ngu ngốc,” chúng [tr.362] nói. Vậy đó. Nhưng khi tôi ngồi đây và nhập vai… những điều mà trước đây tôi không thể tưởng tượng được… Vì vậy, thật tốt khi có cô. Con gái tôi cũng hiện đến… nó mất năm ngoái… nó lẳng lặng nghe… và mới rồi tôi chôn nốt đứa con trai, nó cũng sẽ đến thôi.

Với câu nói này, Randia rõ ràng đã thiết lập mối quan hệ thân thiết giữa nhân vật Córka của bà và chính bà. Giống như Córka, bà ấy cũng đã mất hai đứa con của mình, những linh hồn của chúng giờ đã đến thăm bà. Câu nói của bà dường như cũng ngụ ý rằng bà rất biết ơn về những buổi kể chuyện, về khả năng bày tỏ “những suy nghĩ như đá tảng trong lòng [bà],” hoặc làm “những điều mà trước đây [bà] không thể tưởng tượng được.” Vậy mà chỉ vài phút sau, bà đã hờ hững hỏi: “Sao cô diễn kịch? Cô là nhà nhân học kia mà! Sự bày tỏ lòng biết ơn trước đó của Randia đối với quá trình kể chuyện nằm trong sự căng thẳng với câu hỏi này, dường như nó đang truy vấn tính hữu ích đó vậy.

Trong phần chủ đề này, chúng tôi xem xét lý do tại sao các phương pháp và cách tiếp cận tưởng tượng – ví dụ như kể chuyện kịch tính – lại được chú ý trong nhân học và các ngành học cùng nguồn gốc. Những người đối thoại của các nhà nghiên cứu có thể đánh giá cao những quá trình nghiên cứu sáng tạo như vậy, và chúng ta cũng vậy, nhưng tại sao những quá trình đó lại đáng giá? Họ cung cấp những gì cho những người đối thoại của chúng ta và dự án nhân học lớn hơn? Những người viết cho phần chuyên đề này giải quyết những câu hỏi ấy từ nhiều quan điểm lý thuyết, phương pháp luận và chủ đề. Ở đây, các bài viết của họ có thể được đặt trong bối cảnh học thuật “dân tộc học tưởng tượng” (Elliott và Culhane 2017) đang nổi lên, lấy trí tưởng tượng làm trung tâm của đời sống xã hội, kinh nghiệm sống, tìm tòi nghiên cứu nhân học và dân tộc học. Hầu hết chúng ta đều có liên kết, bằng cách này hay cách khác, với Trung tâm Dân tộc học Tưởng tượng (http://imaginativeethnography.org/), một tập thể không gian mạng xuyên quốc gia cam kết tham gia vào các hoạt động dân tộc học có tính phê phán, hiện thân, phản ánh và hợp tác dựa trên nhân học, dân tộc học và nghệ thuật sáng tạo.

Phần chuyên đề này đặc biệt xem xét trình diễn với tư cách là một cách tiếp cận nhân học trong nghiên cứu về tưởng tượng và như một phương pháp dân tộc học tưởng tượng. Ở đây, chúng tôi chú ý đến trình diễn và tính trình diễn. Mặc dù ranh giới giữa hai thuật ngữ này là mờ nhạt và các thuật ngữ này thường được sử dụng thay thế cho nhau trong nhân học và các lĩnh vực liên quan, nhưng chúng tôi vẫn không coi chúng là đẳng cấu (Murray 2016, 62). Trình diễn có thể được khái niệm hóa như một sự kiện được dàn dựng có chủ ý cho khán giả, tại địa điểm nhà hát truyền thống và/hoặc không gian công cộng. Ngoài những đặc trưng khác, tính trình diễn còn gợi nhớ đến ý tưởng của Erving Goffman (1959) về “sự thể hiện bản thân trong cuộc sống hàng ngày”; Marcel Mauss (1973 [1935]) xem xét các chuyển động, cử chỉ và biểu hiện của cơ thể như là những thiết định của cái xã hội; quan niệm của J.L. Austin (1962) về các phát ngôn trình diễn như là các chủ thể cấu thành; và quan niệm của Judith Butler (1990, 25; 1995, 198) về giới với tư cách là thiết định trích dẫn của diễn ngôn, tạo ra, phá hủy và rèn rũa bản sắc giới. Những người viết về phần chủ đề này không tập trung quá nhiều vào tính trình diễn của các thực tiễn hàng ngày, có thể được chú ý bởi các hình thức quan sát tham gia thông thường hơn, mà tập trung vào tính trình diễn của việc trình diễn (một sự kiện được dàn dựng có chủ ý cho khán giả) được sử dụng như một quá trình dân tộc học (thực địa) và như một phương thức thể hiện dân tộc học. Các bài viết được trình bày ở đây coi trình diễn có dàn dựng (cách nó tạo ra tri thức dân tộc học) và tính trình diễn của nó (cách nó thiết định và phá hủy bản sắc, [liên] chủ thể tính và quyền lực) như là “những lộ trình hiểu biết” mới (Hogan và Pink 2010, 158) và cách thức “thế giới sống tưởng tượng” (Irving 2011, 22) được tạo ra và không được tạo ra, được sống trải và thể hiện trong các bối cảnh hàng ngày.

Chúng tôi hiểu thế giới sống tưởng tượng là những trải nghiệm, thực tiễn và quá trình liên chủ thể đa dạng, lộn xộn, thay đổi, ngẫu nhiên, ngẫu hứng và sáng tạo, cấu thành và được cấu thành bởi cuộc sống bên trong và bên ngoài của con người, tính cá nhân và tính xã hội, tác tố và sự ràng buộc, cũng như các mối quan hệ giữa nhà dân tộc học và người đối thoại/cung cấp thông tin. Trình diễn có thể giúp chúng ta nghiên cứu và hiểu rõ hơn về các thế giới sống tưởng tượng như vậy khi chúng mở ra trong thời điểm hiện tại không? Liệu trình diễn có thể làm được những thứ mà các phương pháp và cách tiếp cận nhân học thông thường khác có thể không làm được? Trình diễn có khả năng hỗ trợ chúng ta trong việc hình dung lại nhân học về tưởng tượng có thể ra sao không? Những bài viết này cũng xem xét trình diễn như là “dân tộc học tưởng tượng” (Elliott và Culhane 2017), một thực hành nghiên cứu mang tính xuyên ngành, hợp tác, hiện thân, mang tính phê phán và cam kết rút ra từ nhân học và nghệ thuật sáng tạo. Những người đóng góp cho phần chủ đề này đặt câu hỏi liệu làm việc tại các giao điểm của nhân học, dân tộc học, thì trình diễn và tưởng tượng có thể biến đổi cách thức chúng ta tham gia vào các quá trình và sản phẩm dân tộc học, các vấn đề về tính phản ánh và thể hiện, các mối quan hệ giữa nhà dân tộc học-kẻ tham gia và khán giả dân tộc học. Trong các bài viết của mình, họ cũng xem xét liệu trình diễn có được sử dụng như là dân tộc học có thể giúp chúng ta tái khái niệm hóa sự cam kết của công chúng và hoạt động dân tộc học, dân tộc học hợp tác/có sự tham gia và nghiên cứu liên ngành trong và ngoài thể chế học thuật hay không.

Tưởng tượng

Tưởng tượng là gì và tại sao nó lại quan trọng đối với dự án nhân học? Và điều gì về tưởng tượng có thể khiến nó đặc biệt có lợi khi được nghiên cứu bằng các phương tiện trình diễn?

[Tr.363] Trong nhân học, cho đến khá gần đây, tưởng tượng vẫn bị nghi ngờ – có thể là do mối liên hệ của nó với chủ thể tính và trạng thái nội tâm cá nhân, tương phản rõ rệt với mối bận tâm của ngành học với cái xã hội và cái vật chất (McLean 2007, 5; Robbins 2010, 306). Tuy nhiên, với tư cách là một phần của sự bất mãn ngày càng tăng của nhân học với khái niệm văn hóa, đã có xu hướng thay thế văn hóa bằng tưởng tượng, trong đó tưởng tượng xã hội được xem như một tập ý nghĩa và thấu hiểu (Sneath, Holbraad và Pederson 2009, 8; Taylor 2002 , 106). Tưởng tượng cũng thường được nhìn nhận bằng khuôn khổ công cụ, với tư cách là để sử dụng cho một số loại mục đích – ví dụ, như một quá trình tạo lập cộng đồng (Anderson 2016 [1983]; Sneath, Holbraad và Pederson 2009, 8). Hơn nữa, cách hiểu Lãng mạn của thế kỷ 19 về tưởng tượng phần lớn là tích cực và sáng tạo – các sức mạnh Dionysian và Promethean (Friedrich 2007, 14; Sneath, Holbraad và Pederson 2009, 10) – đã định hình các ý tưởng nhân học về tưởng tượng.

Ví dụ, Vincent Crapanzano (2004, 19) coi tưởng tượng là thứ cho phép chúng ta “phóng chiếu những câu chuyện hoang đường của mình theo hướng không cần phải tính đến ‘vũ trụ hiển nhiên’,” thuộc truyền thống này. Tương tự như vậy, Arjun Appadurai (1996, 53) cho rằng trong thời đại toàn cầu hóa, “trí tưởng tượng giờ đây đã có được một sức mạnh mới độc nhất trong đời sống xã hội” và tạo thành “một không gian tranh chấp trong đó các cá nhân và nhóm tìm cách sát nhập cái toàn cầu vào các thực hành cái hiện đại của riêng họ”(4). Đối với Appadurai, tưởng tượng tập thể có thể trở thành “cơ sở dàn dựng cho hành động chứ không chỉ để trốn thoát” (7). Và đối với Jean và John Comaroff (1999, 8), đó là “xã hội dân sự [là cái] được sử dụng như một công cụ của tưởng tượng xã hội.”

Quan điểm tích cực này có xu hướng liên kết tưởng tượng với một mức độ tự do nhất định, chẳng hạn như trong quan niệm của Crapanzano (2004) về “những chân trời tưởng tượng” có thể vượt ra ngoài cái hiện thực (mặc dù ông thực sự nhận ra xu hướng ảo tưởng về tự do). Tương tự như vậy, Nigel Rapport và Joanna Overing (2000), nương theo Sartre, định nghĩa tưởng tượng là một hoạt động thông qua đó các cá nhân tạo ra và tái tạo bản thân họ trong quá khứ, hiện tại và tương lai bằng cách giải phóng bản thân khỏi thực tại và những ràng buộc của nó. Do đó, tưởng tượng mang lại cho chúng ta tự do và đem đến cho cuộc sống của chúng ta “một phẩm chất hiển lộ” (Rapport and Overing 2000, 4). Những người khác đã khái niệm hóa tưởng tượng như một “tính động lực mới” “không giới hạn” và có thể “tạo hình thế giới như nó cần phải thế” (Robbins 2010, 305–306). Đề cập đến công trình của nhà triết học phân tâm học người Slovenia Slavoj Žižek, Joel Robbins (2010, 307, 310) cho rằng sức mạnh của trí tưởng tượng nằm ở khả năng xóa sạch thế giới thực mà nó gặp phải thông qua tri giác và thay thế nó bằng một thế giới khác. Cũng có những cách tiếp cận dựa trên các khái niệm hiện tượng học về tưởng tượng, đặc biệt là những cách tiếp cận liên quan đến hiện thân (Csordas 1994). Những quan điểm như vậy coi tưởng tượng gắn bó chặt chẽ với kinh nghiệm và nhận thức (McLean 2007, 6). Brian Massumi (2002, 134) chẳng hạn, gợi ý rằng tưởng tượng là một “cảm giác suy nghĩ… sự phát triển tương liên giữa tư duy và cảm giác, khi chúng kết hợp với nhau, là tiền thân của những gì chúng sẽ trở thành, chỉ mới bắt đầu bộc lộ từ cái bên ngoài không thể cảm nhận và không thể tưởng tượng: sự phát triển của quá trình, của biến đổi trong chính nó.

Cuối cùng, một số cách tiếp cận gần đây nhất – dựa trên hiểu biết của Kant về tưởng tượng mang tính phổ biến và quá trình – đã thúc đẩy tư duy nhân học về tưởng tượng theo những hướng mới. Các cách tiếp cận này coi tưởng tượng là một kết quả hơn là một điều kiện và tập trung vào các “công nghệ tưởng tượng” tạo ra, mà không quyết định, những kết quả như vậy (Sneath, Holbraad và Pederson 2009, 19). Quan điểm này cho rằng các công nghệ của trí tưởng tượng “có khả năng” tưởng tượng theo những cách, mặc dù hầu như không ngẫu nhiên, nhưng về cơ bản là không thể đoán trước và thường hoàn toàn ngoài ý muốn” (22). Xem dân tộc học là “một công nghệ của trí tưởng tượng phân tích của nhà nhân học” (25), quan điểm này cho rằng sự chú ý của dân tộc học đối với các đặc thù của cái hàng ngày là không thể thiếu để nghiên cứu và phân tích hoạt động của các công nghệ của trí tưởng tượng. Một số đặc biệt của Tạp chí Nhân học Ireland, do Stuart McLean và Steve Coleman đồng biên tập, đưa ra những quan điểm thú vị khác về tưởng tượng. Ví dụ, McLean (2007, 8) coi tưởng tượng là một không gian liên chủ thể giữa con người và không phải con người, trong khi Paul Friedrich (2007, 12) coi nó là “toàn bộ lĩnh vực của cái ngẫu nhiên và cái khả thể trong trí tưởng tượng mang tính cá nhân và tính văn hóa.” Friedrich quan tâm đến cách thức mà “sự vô tận trong trí tưởng tượng” mở rộng vào các thế giới nội tâm, đồng thời luôn bị hạn chế “bởi kinh nghiệm trực tiếp hoặc gián tiếp” (11–12); ông nhìn nhận lợi thế về mặt phương pháp luận của tưởng tượng ở các phẩm chất linh hoạt, năng động và mang tính quá trình của nó. Mặt khác, Kirsten Hastrup (2007, 28) gợi ý rằng các cá nhân sử dụng trí tưởng tượng để hành động, bởi vì “hiện tại luôn bỏ lửng, và để hành động có ý nghĩa, người ta phải tưởng tượng mình hướng tới tương lai.” Tuy nhiên, cô cũng nhận ra rằng tác tố của trí tưởng tượng không thể được coi là có chủ ý vì nó luôn ngẫu nhiên ngay cả khi không được xác định (32). Trong khi coi trí tưởng tượng là cá nhân, thì Hastrup cũng nhấn mạnh năng lực đối thoại của nó.

Dựa vào các cách tiếp cận nhân học nói trên đối với trí tưởng tượng, các tác giả viết cho phần chuyên đề này coi trí tưởng tượng là một thành phần không thể thiếu của ý thức con người – một năng lực liên chủ thể gắn bó chặt chẽ với kinh nghiệm, biểu hiện, tri giác, nhận thức và cảm xúc [tr.364] hiện thân – đó là cấu phần của và được cấu tạo bởi thế giới vật chất. Mặc dù coi trí tưởng tượng là có cơ sở vững chắc trong cái hiện thực, nhưng chúng ta được truyền cảm hứng bởi tiềm năng phá hủy và tái tạo cái thế giới hiện tại của nó – một quan điểm chung của Crapanzano (2004), Rapport, Overing (2000), và Robbins (2010). Chúng tôi cũng coi trọng năng lực của trí tưởng tượng như một “nền tảng cho hành động” (Appadurai 1996, 7) để từ đó dấn thân vào tương lai (Hastrup 2007, 28) và trí tưởng tượng đó chính là khoảng không gian giữa tự ngã và vô ngã (Sime 2007, 48 ) có thể mở ra các khả tính cho những trải nghiệm và trí tưởng tượng khác nhau. Tuy nhiên, cuối cùng – đồng hành với những người coi trí tưởng tượng là kết quả hơn là một điều kiện (Sneath, Holbraad và Pederson 2009) – chúng tôi ít quan tâm đến việc định nghĩa trí tưởng tượng như một phạm trù khái niệm, mà quan tâm đến nó nhiều hơn với tư cách là một quá trình, hành động và và phương thức tồn tại và biểu hiện bên ngoài mang tính hiện khởi, năng động và biến đổi. Ở đây, chính là tưởng tượng, chứ không phải là hiện hữu sui generis nói riêng, luôn phụ thuộc vào một quan điểm và cách diễn giải cụ thể, vì nó diễn ra một cách thất thường giữa mục đích và kết quả, tự do và ràng buộc, bá quyền và phản kháng, riêng tư và công khai, hiện thực và phóng tưởng. Trước hết và quan trọng nhất, chúng tôi theo dấu trí tưởng tượng khi nó xuất hiện trên thực địa, tập trung vào những câu chuyện mà mọi người kể cho chúng tôi và cách họ kể những câu chuyện này (thông qua hành động, cử chỉ, chuyển động, lời nói, v.v.), cách họ sống trải và thiết định những tích truyện này trong cuộc sống hàng ngày của họ, và cách thức mà cuộc sống hàng ngày của họ được trải nghiệm và thiết định trong những tích truyện này.

Tuy nhiên, những người đóng góp cho phần chuyên đề này cũng chia sẻ một quan điểm chung là tưởng tượng đặt ra những thách thức nhất định về các vấn đề hữu thể luận, nhận thức luận và phương pháp luận đối với nghiên cứu nhân học và dân tộc học của nó. Bởi vì các thế giới sống của con người đôi khi có thể quá đau đớn, mang tính cá nhân, không được thừa nhận hoặc bị chôn vùi khó có thể nghiên cứu bằng các phương pháp dân tộc học thông thường – chủ yếu dựa vào quan sát và diễn đạt bằng lời nói – nên đôi khi có thể cần đến các phương thức xây dựng tri thức ẩn dụ, tưởng tượng, hiện thân hiệu quả hơn. Trong khi một số nhà nhân học đã bắt đầu thử nghiệm các cách nghiên cứu các thế giới sống trong tưởng tượng của con người (Elliott và Culhane 2017; Hogan và Pink 2010; Irving 2011; Kazubowski-Houston 2017a, 2017b; Kumar 2013), thì lại rất ít xem xét, cả về mặt lý thuyết lẫn phương pháp luận, đến cách thức nghiên cứu tưởng tượng về phương diện nhân học. Các tác giả viết cho phần này đưa ra các câu hỏi sau: Làm thế nào chúng ta có thể diễn giải và thể hiện các thế giới sống đầy tưởng tượng linh hoạt, năng động và luôn biến đổi? Nếu các phương pháp dân tộc học thông thường quá tĩnh, thì làm thế nào chúng ta có thể suy nghĩ lại về các cách tiếp cận của mình? Trình diễn được sử dụng như một cách tiếp cận nhân học và phương pháp dân tộc học có thể hỗ trợ quá trình này không? Thuộc tính nào của nó có thể tỏ ra đặc biệt hữu ích trong nghiên cứu nhân học tưởng tượng?

Trình diễn

Mối quan tâm của nhân học đối với trình diễn đã có một lịch sử lâu dài và đã hình thành phần lớn tại các mối nối liên ngành của khoa học xã hội và nhân văn. Các nhà nhân học đương đại công nhận sự “xuất hiện” của trình diễn – các quá trình linh hoạt, biến đổi, năng động và ngẫu hứng của việc tạo ra và tái tạo bằng/ thông qua các tương tác giữa và trong “những người trình diễn” và khán giả - như phẩm chất quyết định quan trọng của nó (Korom 2013, 2; Lord 2000). Bronislaw Malinowski (1948, 82) đã thừa nhận phẩm chất mới nổi này của trình diễn khi ông lập luận rằng các cách trình diễn không thể chỉ được mô tả bằng lời mà không tính đến các ngữ cảnh, biểu hiện thể chất và khán giả khác nhau của chúng. Trong khi việc tập trung vào trình diễn trong bối cảnh của nó, ở một mức độ nhất định, đã trở nên quan trọng đối với các nhà lý thuyết về trình diễn trong những năm 1950 và 1960 (ví dụ: Singer 1961, 1972), thì những cách tiếp cận ban đầu này chủ yếu phân tích trình diễn như một hành động nghi lễ chính thức, mang tính mô thức và khuôn mẫu; giao điểm của nó về hình thức và nội dung/ý nghĩa; cùng chức năng hoặc mối quan hệ của nó với cấu trúc xã hội (Durkheim 1965 [1915]; Gennep 1960; Turner 1967).

Mãi cho đến khi xuất hiện “dân tộc học giao tiếp” vào những năm 1970, thì cách tiếp cận ngữ cảnh đối với nghiên cứu về trình diễn mới thực sự chiếm vị trí trung tâm (Bauman và Sherzer 1974; Ben-Amos và Goldstein 1975; Hymes 1964, 1975). Mối quan tâm đến nghiên cứu bối cảnh của trình diễn và các khía cạnh mang tính trình diễn trong cuộc sống hàng ngày sau đó được cụ thể hóa bằng sự xuất hiện của một lĩnh vực riêng biệt – nghiên cứu trình diễn – vào những năm 1980 với công trình của Victor Turner (1982, 1986) và nhà lý thuyết trình diễn Richard Schechner (1985). Trong Nhân học Trình diễn, Turner (1988) phân biệt quan điểm của ông với quan điểm của Goffman cho rằng thế giới là một nhà hát, cũng như với lập luận của Schechner cho rằng có mối liên hệ giữa kịch xã hội và sân khấu. Thay vào đó, Turner lập luận rằng kịch xã hội là kết quả của việc đình chỉ nhập vai chuẩn thường và cho rằng nếu cuộc sống hàng ngày là nhà hát, thì kịch xã hội là nhà hát siêu lớn. Trong Dewey, Dilthey, và Kịch nghệ: Tiểu luận về Nhân học Trải nghiệm, Turner (1986, 41) nhận xét rằng giai đoạn ngưỡng của các nghi lễ, mà theo định nghĩa của ông về kịch xã hội, tạo thành giai đoạn thứ ba trong “bất hòa, khủng hoảng, khắc phục, tái hòa nhập hoặc phân ly”, được đặc trưng bởi sự hiện diện của các bản sắc mơ hồ, hình ảnh quái dị, thử thách, hướng dẫn bí truyền và nghịch lý, các loại biểu tượng như mặt nạ và những vai hề, đảo ngược giới tính, ẩn danh, v.v. Những yếu tố này, thường được kết hợp trong các thực hành nghi lễ, liên quan đến cái mà ông xác định là [tr.365] tâm trạng giả định, mang tính ngưỡng của trình diễn. Đến lượt mình, nhân học diễn giải quan tâm đến việc tìm kiếm ý nghĩa hơn là luật lệ (Geertz 1973), xem nghi lễ và trình diễn như một phần của các biểu tượng quan trọng cấu thành nên đời sống xã hội, mở ra cho sự diễn giải và tái diễn giải vĩnh viễn.

Các cách tiếp cận nói trên, ở một mức độ lớn, hiểu văn hóa chủ yếu là giới hạn, cố định và trống rỗng về lịch sử và chính trị, do đó, trình diễn - với tư cách là một quá trình và thực hành mang tính “văn hóa” - cũng được khái niệm hóa theo đúng nghĩa. Chỉ với sự xuất hiện của nhân học phê phán xuyên quốc gia vào những năm 1990 (Appadurai 1996; Fabian 1990; Scott 1985; Stoller 1995), và với nghiên cứu điền dã đa địa điểm (Marcus 1998), thì các nhà nhân học mới thực sự bắt đầu tính đến trình diễn và tính trình diễn của nó trong mối quan hệ với quyền lực, tính lai tạp, tính đối thoại và tính phản ánh (Bakhtin 1981; Fabian 1990; Herzfeld 2001; Korom 2013; Kraidy 2005; Ruby 1982; Stoller 1995; Tedlock 1987). Nhiều nhà nhân học phê phán đã xem xét công trình của Michel Foucault (1977, 1979, 1980, 1984, 1993) để khớp nối tầm quan trọng của nghi lễ và trình diễn với tư cách là những cấu phần chính trong việc tạo dựng tính ưu thống và phản bá quyền. Ví dụ, Johannes Fabian (1990) cho rằng trình diễn có thể trở thành một phương tiện quan trọng để khám phá khái niệm ảo tưởng, luân chuyển và thay đổi về quyền lực. Đối với Fabian, quan trọng nhất là trình diễn có thể làm sáng tỏ bản chất của quyền lực được các cá nhân cụ thể dụng hành trong một dịp cụ thể, bởi vì “những người thực hiện có quan hệ với nhau và với xã hội của họ trong khuôn khổ quyền lực nói chung” (17).

Gần đây nhất, các nhà nhân học đã mở rộng hiểu biết này về tính trình diễn của trình diễn khi chú ý đến cách thức mà việc trình diễn cấu thành và là cấu phần của các lực lượng toàn cầu hóa, quá trình sản xuất hàng hóa và các can thiệp xuyên quốc gia (Korom 2013, 5). Ví dụ, Deborah Kapchan (2013, 217) xem xét cách trình diễn - cụ thể là các lễ hội âm nhạc - “tạo ra các cộng đồng có ảnh hưởng xuyên quốc gia” thông qua “du lịch tâm linh”. Mới đây tuyển tập Các nền văn hóa Khiêu vũ: Toàn cầu hóa, Du lịch và Bản sắc trong Nhân học Khiêu vũ, do Hélène Neveu Kringelbach và Jonathan Skinner biên tập (2012, 9), thông qua một loạt các nghiên cứu trường hợp, cũng khám phá tác tố của “các dòng chảy và chuyển động của vũ điệu” có quan hệ với chủ nghĩa dân tộc, toàn cầu hóa, chủ nghĩa hậu thực dân và chủ nghĩa tư bản.

Nhưng cụ thể cái gì về trình diễn được sử dụng với tư cách dân tộc học có thể đóng góp cho nghiên cứu nhân học tưởng tượng? Đó có phải là phẩm chất đột hiện của nó – quá trình linh hoạt và ngẫu hứng của việc tạo ra và tái tạo trong và thông qua các hành động tương tác giữa những kẻ trình diễn và khán giả – có thể đặc biệt hữu ích ở đây? Tuy nhiên, điều đó làm cho trình diễn khác với các phương pháp dân tộc học thông thường như thế nào? Xét cho cùng, dân tộc học và nghiên cứu điền dã cũng bắt đầu được coi là hoạt động trình diễn và mang tính trình diễn theo đúng nghĩa của nó. Dennis Tedlock (1987) lưu ý rằng dân tộc học là một hình thức trình diễn đối thoại diễn giải cho khán giả gồm những kẻ đồng-trình diễn, bao gồm cả nhà dân tộc học. Fabian (1990) cũng coi dân tộc học là mang tính đồng-trình diễn, vì nhà dân tộc học đóng vai trò là kẻ đồng-trình diễn, chứ không phải là kẻ điều tra, trong cấu trúc đối thoại của tri thức. Gần đây hơn, Quetzil Castañeda (2006) đã khai thác ý tưởng về rạp hát vô hình của giám đốc nhà hát người Brazil, Augusto Boal, một cách tiếp cận Nhà hát của Kẻ bị Áp bức, trong đó các diễn viên biểu diễn một màn trình diễn ngẫu hứng trong không gian công cộng mà không tiết lộ đó là một màn trình diễn để thu hút mọi người tham gia vào các vấn đề mang tính luận chiến. Castañeda (2006) cho rằng nghiên cứu điền dã, mặc dù rất rõ ràng với người đối thoại/cung cấp thông tin, nhưng về cơ bản, cũng là một hình thức nhà hát vô hình, bởi vì với tư cách là nhà nghiên cứu, chúng ta liên tục đặt câu hỏi liệu các hoạt động điền dã của chúng ta có cấu thành việc nghiên cứu hay không: nhà dân tộc học và kẻ đối thoại đều là diễn viên và khán giả, mỗi kẻ đều “diễn” và “xem” trong bối cảnh cuộc sống hàng ngày và trong nghiên cứu thực địa của họ (81); chương trình nghị sự của những người đối thoại của chúng ta có thể vẫn vô hình đối với chính chúng ta (82); và nghiên cứu thực địa là có tính ngẫu hứng tinh vi (82). Allaine Cerwonka và Liisa Malkki (2007) cũng nêu rõ ý tưởng nghiên cứu thực địa là sự ngẫu hứng bằng cách làm nổi bật tính không thể đoán trước của nó, điều này buộc chúng ta phải liên tục phản ứng với các bối cảnh thay đổi và biến chuyển xung quanh mình.

Dân tộc học, Trình diễn và Tưởng tượng

Những người viết cho phần chuyên đề này gợi ý rằng chính những cách thức cụ thể mà trình diễn thiết lập các điều kiện để tạo ra tri thức dân tộc học – hay cái mà Andrew Irving gọi là ngữ cảnh xưng hô mang tính trình diễn cụ thể [a particular performative context of address] – khiến nó trở nên đặc biệt hữu ích trong nghiên cứu nhân học về tưởng tượng và như một phương pháp dân tộc học tưởng tượng. Một số cách trình diễn tạo ra ngữ cảnh xưng hô cụ thể này bao gồm: tương tác lẫn nhau giữa những kẻ trình diễn, giữa nhà dân tộc học và khán giả; tương tác giữa văn bản kịch tính, lời nói, hành động, cơ thể, hình ảnh và âm thanh; bản chất tập thể (nhưng không nhất thiết mang tính hợp tác), đòi hỏi sự tham gia tích cực của nhiều bên; với các trình diễn sân khấu truyền thống hơn, một cuộc gặp gỡ giả định, trong đó kẻ trình diễn hành động như thể họ là nhân vật được miêu tả; và thêm nữa còn là việc sử dụng sự hư cấu. Trong vài thập kỷ qua, công việc nghiên cứu đã bắt đầu được biết đến với tư cách là dân tộc học trình diễn (hoặc, nói cách khác là sân khấu dân tộc học, dân tộc học biểu diễn và kịch dân tộc học) đã khám phá tiềm năng [tr.366] của những điều kiện trình diễn này để kiến tạo tri thức dân tộc học.

Dân tộc học trình diễn khởi nguồn từ sự hợp tác giữa các nhà nhân học Victor và Edith Turner với học giả nghiên cứu trình diễn Richard Schechner vào những năm 1970 và đầu những năm 1980, thời điểm mà trọng tâm nhân học đã bắt đầu chuyển từ chức năng sang quá trình và từ cấu trúc sang trình diễn. Các thử nghiệm dân tộc học trình diễn của Turners và Schechner đã sử dụng “sân khấu hướng dẫn” (Turner 1982, 41), một phương tiện thể hiện dữ liệu nghiên cứu điền dã cho khán giả chủ yếu là giới học giả nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình học tập mang tính “động học” về các lối sống ở một văn hóa khác ( Schechner 1985; Turner và Turner 1982, 34). Với cuộc khủng hoảng về thể hiện, các thể loại mờ nhạt và các bước ngoặt mang tính trình diễn bủa vây nhân học và nhiều ngành khác, thì các cách tiếp cận theo đó cũng tập trung vào trình diễn như một phương tiện thể hiện và truyền đạt nghiên cứu dân tộc học (Denzin 2003; Goldstein 2010; Mienczakowski 1992, 1994, 1995, 2000, 2001; Saldaña 2003, 2005; Schechner 1985; Turner và Turner 1982); với tư cách là một hình thức quan sát tham gia dân tộc học, trong đó nhà dân tộc học đặt ra các câu hỏi nghiên cứu bằng cách phát triển một màn trình diễn – hoặc dàn dựng một sự kiện trình diễn – với sự cộng tác của những người tham gia nghiên cứu (Conquergood 1988, 2002; Culhane 2011; Fabian 1990; Irving 2011; Kazubowski-Houston 2010, 2011a, 2011b; Madison 2010; Pratt và Kirby 2003); và với tư cách là một phương pháp nghiên cứu tự-dân tộc học để nghiên cứu cái xã hội (Corey 1996; Denzin 2003; Gingerich-Philbrook 2005; Kogut 2005; MacDonald 2012; Scott 2013; Spry 2001).1  Các học giả này đã nghiên cứu trình diễn như một cách tiếp cận có sự tham gia, hợp tác, đối thoại, liên chủ thể và trao quyền đối với dân tộc học, và một cách tiếp cận có thể chính trị hóa những người tham gia, nhà dân tộc học và khán giả bằng cách lôi cuốn họ vào các vấn đề được trình bày một cách đồng cảm và phê phán. Về phương diện này, một số học giả đã khai thác lý thuyết về sân khấu sử thi của nhà đạo diễn và nhà lý luận người Đức Bertolt Brecht (1964), cho rằng tiềm năng chính trị hóa của sân khấu nằm ở khả năng truyền cảm hứng cho hành động xã hội và phê phán của khán giả, hoặc khai thác quan niệm cho rằng trình diễn có thể kích động một quá trình tự phản ánh và tự khám phá liên chủ thể ở những người trình diễn/tham gia nghiên cứu, bởi vì những người trình diễn đó luôn đánh giá màn trình diễn của họ liên quan đến phản ứng của các đồng nghiệp trình diễn và của khán giả (Palmer và Jankowiak 1996).

Gần đây hơn, việc nghiên cứu về hiện thân, các tri giác quan và ảnh hưởng cũng đã mở ra những cánh cửa mới để suy nghĩ về cách thức mà trình diễn có thể đóng góp cho công cuộc nghiên cứu nhân học. Lý thuyết ảnh hưởng liên ngành (ví dụ: Ahmed 2004; Clough và Halley 2007; Cvetkovich 2003, 2012; Gregg và Seigworth 2010; Massumi 2002; Stewart 2007; Thrift 2003) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiến hành nghiên cứu không chỉ thu hút sự quan sát mà còn cả các tri giác và phương tiện vật chất của việc tri nhận (Classen 1991, 1998, 2012; Herzfeld 2008; Howes 1991; MacDougall 2005, 2009; Massumi 2002; Pink 2004; Sterne 2012; Stoller 1989, 1997; van Ede 2007). Các nhà nhân học hiện thân sử dụng nhiều cách tiếp cận và phương pháp luận kết nối dân tộc học, nhân học và nghệ thuật sáng tạo để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiến tạo tri thức dân tộc học thông qua việc sử dụng chuyển động và cử chỉ, hình ảnh, biểu tượng, ẩn dụ, âm thanh, xúc giác và mùi vị. Dựa trên những thử nghiệm này, các học giả dân tộc học trình diễn gợi ý rằng trình diễn có thể đóng góp cho dân tộc học bằng cách cung cấp phương tiện biểu đạt hiện thân, xúc cảm, ẩn dụ, thể chất và hình ảnh (Conquergood 2002; Denzin 2003; Fabian 1990; Irving 2011; Kazubowski-Houston 2010, 2011b; Madison 2005; Magnat 2012).

Nghiên cứu khiêu vũ là một lĩnh vực có nhiều điều để cung cấp cho các nhà nghiên cứu khi khảo sát mối tương quan giữa dân tộc học, trình diễn, hiện thân, nhận thức cảm tính và trí tưởng tượng, thể hiện rất rõ trong dân tộc học khiêu vũ. Trong cuốn Độc giả Nghiên cứu Khiêu vũ Routledge, Theresa Jill Buckland (2010, 325) dõi theo quá trình xuất hiện của dân tộc học khiêu vũ để tìm về sự tích hợp quan sát nhân học tham gia, được các nhà dân tộc học khiêu vũ hình dung là “một nhiệm vụ tìm hiểu và truyền đạt quan điểm của người tham gia emic, tức là của người trong cuộc.” Sự thay đổi từ khiêu vũ với tư cách là sản phẩm văn hóa sang khiêu vũ với tư cách là một quá trình trải nghiệm đã xảy ra dưới ảnh hưởng của bước ngoặt hậu hiện đại trong các khoa học xã hội, buộc ngành dân tộc học khiêu vũ phải khảo sát các cách thức “trình diễn mới xuất hiện của các bản sắc văn hóa phi bản chất, luôn vận động và có tính tương liên” ( Buckland 2010, 337). Chủ thuyết nữ quyền, nhân học hậu hiện đại và nghiên cứu trình diễn đã định hình đáng kể dân tộc học khiêu vũ, trong đó việc tập trung vào cơ thể cung cấp thông tin quan trọng về thực hành dân tộc học, được coi là nhất thiết phải dựa trên trải nghiệm hiện thân (Buckland 2006, 8).

Kể từ những năm 1990, các nhà dân tộc học khiêu vũ đã ưu tiên phương pháp luận thực hành hiện thân đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải đạt được năng lực chuyển động trong các thực hành khiêu vũ đang được nghiên cứu, một cách tiếp cận đặt “nhân cách cái ‘Tôi’ như là một cội nguồn, vào khiêu vũ và phản ánh cảm giác và ý nghĩa,” nhờ đó mà mở ra các khả tính cho việc khám phá tri thức văn hóa hiện thân năng động, mang tính tình huống về mặt không gian và thời gian, và thường liên quan đến các biểu hiện bản sắc (Buckland 2006, 13–14). Hơn nữa, bằng cách kết hợp lịch sử và dân tộc học trong Vũ điệu từ Quá khứ đến Hiện tại, Buckland (2006, 17) có thể lần theo “các hành vi lựa chọn, bỏ qua, loại trừ, biến đổi và sáng tạo” trong sản xuất ký ức văn hóa hiện thân và giải thích cặn kẽ về tác động của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa dân tộc và toàn cầu hóa đối với quá trình trao truyền [tr.367] và tính liên tục văn hóa. Do đó, cách tiếp cận liên ngành ấy đối với nghiên cứu khiêu vũ cung cấp những thấu hiểu quan trọng về vai trò của sự sáng tạo hiện thân và trí tưởng tượng trong các loại hình trình diễn về bản sắc văn hóa và cộng đồng.

Trong một bài tiểu luận về Dân tộc học trong các Thế giới Khiêu vũ, Karen Barbour (2011, 118), bằng cách khai thác chủ nghĩa nữ quyền và hiện tượng luận, gợi ý rằng tự-dân tộc học có thể kích thích sự đồng cảm về thẩm mỹ động học thông qua “các mô tả dày, kết cấu, dòng chảy và âm hưởng.” Cô viết về cách tiếp cận đáp ứng môi trường đối với việc tạo ra điệu nhảy đòi hỏi phải phát triển nhận thức cao hơn về môi trường xung quanh của người ta “để cho phép âm thanh, mùi vị, các kích thích thị giác và các giác quan từ thế giới tự nhiên trở thành tín hiệu cho sự ứng biến- chuyển động” (126). Cũng trong tuyển tập này, Janet Goodridge (2011, 137) coi cơ thể là một kho lưu trữ sống, và cô sử dụng sự ứng biến dựa trên chuyển động để khám phá sự thay đổi, vô thường và bất ngờ trong đời sống con người và tự nhiên, liên quan đến sự chuyển động của “những đám mây, làm gió qua tàng cây – lướt trên thảm cỏ; thời tiết đổi thay” đối với con người, những kẻ “miên viễn trôi trong dòng vật chất và phải thích nghi với những hoàn cảnh thay đổi trong cuộc sống hàng ngày.” Nghiên cứu hiện thân của cô đem đến cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa chuyển động và tính tự phát, “một thành phần quan trọng trong trò chơi của trí tưởng tượng, sự ngạc nhiên và hài hước – tính tự phát hiện diện trong phản ứng với những điều không lường trước được” (137). Cô xác quyết rằng tính tự phát trong chuyển động có liên quan đến khái niệm dòng chảy tự do trong Labanotation [là từ ghép Laban, họ của Rudolf Laban với notation để biểu thị một hệ thống phân tích ký hiệu và ghi lại chuyển động của con người, được phát minh bởi biên đạo múa và vũ công người Áo-Hung Rudolf von Laban (1879-1958, một nhân vật trung tâm trong khiêu vũ hiện đại châu Âu - HHN] một kiểu trôi chảy vô tận “vốn có trong trí tưởng tượng thi ca” (138). Trong các tác phẩm dân tộc học khiêu vũ của họ, Buckland, Barbour và Goodridge đề cập đến các hình thức hiện thân của nhận thức, tính nhạy cảm, sáng tạo, tính tự phát và trí tưởng tượng có liên quan đến các khía cạnh trình diễn và ngẫu hứng của nghiên cứu điền dã, vì hầu hết các nhà dân tộc học tham gia vào các tương tác giữa con người với nhau được đặt định về không gian và thời gian miên viễn trong trôi chảy và bất định. Như Helen Thomas (2003, 215) đã chỉ ra, “dân tộc học luôn mang tính hiện thân, tuy nhiên rất ít nhà dân tộc học bên ngoài lĩnh vực nghiên cứu khiêu vũ có thể khám phá được khía cạnh này ở bất kỳ chiều sâu nào”.

________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Kazubowski-Houston, Magdalena and Virginie Magnat (2018). Introduction: Ethnography, Performance and Imagination, Anthropologica 60 (2018) pp. 361–374.

Tác giả: 1.Magdalena Kazubowski-Houston, Phó Giáo sư, Khoa Sân khấu, Đại học York, Toronto, ON. 2. Virginie Magnat, Phó Giáo sư, Khoa Nghiên cứu Sáng tạo và Phê bình, Đại học British Columbia, Cơ sở Okanagan, Kelowna, BC.

Note 

1. Ở Canada, dân tộc học trình diễn đã trở nên phổ biến trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả ngành giáo dục (Gallagher 2007; Goldstein 2010), xã hội học (Cavanagh 2013), nghiên cứu sân khấu và biểu diễn (Bennett 2012; MacDonald 2012; Magnat 2011), nghiên cứu sức khỏe (Pratt và Kirby 2003) và nhân học (Culhane 2011; Kazubowski-Houston 2010, 2011a, 2011b, 2012, 2017b).

References
Ahmed, Sarah. 2004. The Cultural Politics of Emotion. New York: Routledge.

Anderson, Benedict. 1983. Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism. London: Verso.

Appadurai, Arjun. 1996. Modernity at Large: Cultural Dimensions of Globalization. Minneapolis: University of Minnesota Press.

Austin, John L. 1962. How to Do Things with Words. Oxford: Clarendon.

Bakhtin, Mikhail. 1981. The Dialogical Imagination: Four Essays, edited by M. Holquist; translated by M. C. Emerson and M. Holquist. Austin: University of Texas Press.

Barbour, Karen. 2011. “Writing, Dancing, Embodied Knowing: Autoethnographic Research.” In Fields in Motion: Ethnography in the Worlds of Dance, ed. D. Davida, 101–107. Waterloo, ON: Wilfred Laurier University Press.

Bauman, Richard, and Joel Sherzer. 1974. Explorations in the Ethnography of Speaking. New York: Cambridge University Press.

Ben-Amos, Dan, and Kenneth S. Goldstein (eds). 1975. Folklore: Performance and Communication. The Hague: Mouton.

Bennet, Melanie. 2012. “Garden/Suburbia. Mapping the Non-Aristocratic in Lawrence Park.” Canadian Theatre Review 151: 44–49.

Boal, Augusto. 1979. Theatre of the Oppressed, translated by Charles A. McBride, M.O. Leal and E. Fryer. London: Pluto.

Brecht, Bertolt. 1964. Brecht on Theatre: The Development of an Aesthetic, translated by J. Willett. New York: Hill and Wang.

Buckland, Theresa Jill. 2006. Dancing from Past to Present. Madison: University of Wisconsin Press.
———. 2010. “Shifting Perspectives on Dance Ethnography.” In The Routledge Dance Studies Reader, ed. J. Giersdorf, Y. Wong and J. O’Shea, 335–343. London: Routledge.

Butler, Judith. 1990. Gender Trouble. London: Routledge.

———. 1995. “Burning Acts – Injurious Speech.” In Performativity and Performance, ed. A. Parker and E. Kosofsky Sedgwick, 197–227. London: Routledge.

Castañeda, Quetzil. 2006. “The Invisible Theatre of Ethnography: Performative Principles of Fieldwork. Social Thought and Commentary.” Anthropological Quarterly 79(1): 75–104.

Cavanagh, Sheila L. 2013. “Affect, Performance, andEthnographic Methods in Queer Bathroom Monologues.” Text and Performance Quarterly 33(4): 286–307.

Cerwonka, Allaine, and Liisa H. Malkki. 2007. Improvising Theory: Process and Temporality in Ethnographic Fieldwork. Chicago: University of Chicago Press.

Classen, Constance. 1991. “Creation by Sound/Creation by Light: A Sensory Analysis of Two South American Cosmologies.” In Varieties of Sensory Experience: A Sourcebook in the Anthropology of the Senses, ed. D. Howes, 257–288. Toronto: University of Toronto Press.

———. 1998. Worlds of Sense: Exploring the Senses in History and across Cultures. London: Routledge.

———. 2012. The Deepest Sense: A Cultural History of Touch. Chicago: University of Illinois Press.

Clough, Patricia Ticineto, and Jean Halley (eds). 2007. The Affective Turn: Theorizing the Social.  Durham, NC: Duke University Press.

Comaroff, John L., and Jean Comaroff. 1999. Civil Society and the Political Imagination in Africa: Critical Perspectives. Chicago: University of Chicago Press.

Conquergood, Dwight. 1988. “Health Theatre in a Hmong Refugee Camp: Performance, Communication, and Culture.” Drama Review – A Journal of Performance Studies 32(3): 174–208.

———. 2002. “Performance Studies: Interventions and Radical Research.” Drama Review – A Journal of Performance Studies 46(2): 145–156.

Corey, Frederick C. 1996. “Performing Sexualities in an Irish Pub.” Text and Performance Quarterly 16(2): 146–160.

Crapanzano, Vincent. 2004. Imaginative Horizons: An Essay in Literary-Philosophical Anthropology. Chicago: University of Chicago Press.

Csordas, Thomas. 1994. “Introduction: The Body as Representation and Being-in-the World.” In Embodiment and Experience: The Existential Ground of Culture and Self, ed. T. Csordas, 1–26. Cambridge: Cambridge University Press.

Culhane, Dara. 2011. “Stories and Plays: Ethnography, Performance and Ethical Engagements.” Anthropologica 53(2): 257–274.

Cvetkovich, Ann. 2003. An Archive of Feelings: Trauma, Sexuality, and Lesbian Public Cultures. Durham, NC: Duke University Press.

———. 2012. Depression: A Public Feeling. Durham, NC: Duke University Press.

Denzin, Norman K. 2003. Performance Ethnography: Critical Pedagogy and the Politics of Culture. Thousand Oaks, CA: Sage.

Durkheim, Emile. 1965 [1915]. The Elementary Forms of the Religious Life. New York: Free Press.

Elliott, Denielle, and Dara Culhane. 2017. A Different Kind of Ethnography: Imaginative Practices and Creative Methodologies. Toronto: University of Toronto Press.

Fabian, Johannes. 1990. Power and Performance: Ethnographic Explorations through Proverbial Wisdom and Theater in Shaba, Zaire. Madison: University of Wisconsin Press.

Foucault, Michel. 1977. Discipline and Punish: The Birth of the Prison. London: Penguin.

———. 1979. The History of Sexuality, Vol 1. London: Penguin.

———. 1980. Power/Knowledge: Selected Interviews and Other Writings, 1972–1977, edited by C. Gordon. New York: Pantheon.

———. 1984. The Foucault Reader, edited by P. Rabinow. New York: Pantheon.

———. 1993. The Archaeology of Knowledge. New York: Barnes and Noble.

Friedrich, Paul. 2007. “Imagination Theory and the Imaginative Act.” Irish Journal of Anthropology 10(2): 10–19.

Gallagher, Kathleen. 2007. The Theatre of Urban: Youth and Schooling in Dangerous Times. Toronto: University of Toronto Press.

Geertz, Clifford. 1973. The Interpretation of Cultures. New York: Basic Books.

Gennep, Arnold van. 1960. The Rites of Passage. Chicago: University of Chicago Press.

Gingerich-Philbrook, Craig. 2005. “Autoethnography’s Family Values: Easy Access to Compulsory Experience.” Text and Performance Quarterly 25(4): 297–314.

Ginsburg, Faye. 1995. “The Parallax Effect: The Impact of Aboriginal Media on Ethnographic Film.” Visual Anthropology Review 11(3): 64–76.

Goffman, Erving. 1959. Presentation of Self in Everyday Life. New York: Random House.

Goldstein, Tara. 2010. “Snakes and Ladders: A Performed Ethnography.” International Journal of Curriculum and Pedagogy 3(1): 68–113.

Goodridge, Janet. 2011. “The Body as a Living Archive of Dance/Movement.” In Fields in Motion: Ethnography in the Worlds of Dance, ed. D. Davida, 119–145. Waterloo, ON: Wilfrid Laurier University Press.

Gregg, Melissa, and Gregory J. Seigworth. 2010. The Affect Theory Reader. Durham, NC: Duke University Press.

Hastrup, Kirsten. 2007. “Playing One’s Part: The Imaginative Framework of Agency.” Irish Journal of Anthropology 10(2): 26–34.

Herzfeld, Michael. 2001. “Performing Comparisons: Ethnography, Globetrotting, and the Spaces of Social Knowledge.” Journal of Anthropological Research 57(3): 259–276.

———. 2008. “Senses.” In Ethnographic Fieldwork: An Anthropological Reader, ed. Antonius C.G.M. Robben and Jeffrey A. Sluka, 422–431. London: Blackwell.

Hogan, Susan, and Sarah Pink. 2010. “Routes to Interiorities: Art Therapy and Knowing in
Anthropology.” Visual Studies 23(2): 158–174.

Howes, David (ed.). 1991. The Varieties of Sensory Experience: A Sourcebook in the Anthropology of the Senses. Toronto: University of Toronto Press.

Hymes, Dell. 1964. “Introduction: Toward Ethnographies of Communication.” American Anthropologist 66(6): 1–34.

———. 1975. “Breakthrough into Performance.” In Folklore: Performance and Communication, ed. D. Ben-Amos and K. S. Goldstein, 11–75. The Hague: Mouton.

Irving, Andrew. 2011. “Strange Distance: Towards an Anthropology of Interior Dialogue.” Medical Anthropology Quarterly 25(1): 22–44.

Jackson, Michael. 1989. Paths Toward a Clearing: Radical Empiricism and Ethnographic Inquiry. Bloomington: Indiana University Press.

———. 2009. “Ethnographic Verisimilitude.” Etnofoor, Writing Culture 21(1): 9–19. 

Kapchan, Deborah A. 2013. “The Promise of Sonic Translation: Performing the Festive Sacred in Morocco.” In The Anthropology of Performance: A Reader, ed. F. J. Korom, 1–7. West Sussex: Wiley.

Kazubowski-Houston, Magdalena. 2010. Staging Strife: Lessons from Performing Ethnography with Polish Roma Women. Montreal and Kingston: McGill-Queen’s University Press.

———. 2011a. “‘Don’t Tell Me How to Dance!’ Negotiating Collaboration, Empowerment and Politicization in the Ethnographic Theatre Project ‘Hope.’” Anthropologica 53(2): 229–243.

———. 2011b. “Thwarting Binarisms: Performing Racism in Postsocialist Poland.” Text and Performance Quarterly 31(2): 69–89.

———. 2012. “‘A Stroll in Heavy Boots’: Studying Polish Roma Women’s Experiences of Aging.” Canadian Theatre Review 151: 16–23.

———. 2017a. “Agency and Dramatic Storytelling: Roving through Pasts, Presents, and Futures.” In Anthropologies and Futures: Researching Emergent and Uncertain Worlds, ed. J. F. Salazar, S. Pink, A. Irving and J. Sjöberg, 209–224. London: Bloomsbury Academic.

———. 2017b. “Performing.” In A Different Kind of Ethnography: Imaginative Practices and Creative Methodologies, ed. D. Elliott and D. Culhane, 113–133. Toronto: University of Toronto Press.

Kogut, Kate B. 2005. “Framed: A Personal Narrative/ Ethnographic Performance/One-Woman Show.” Journal of American Folklore 118(467): 90–104.

Korom, Frank J. 2013. “The Anthropology of Performance: An Introduction.” In The Anthropology of Performance: A Reader, ed. F. J. Korom, 1–7. West Sussex: Wiley.

Kraidy, Marwan M. 2005. Hybridity: The Cultural Logic of Globalization. Philadelphia: University of Pennsylvania Press.

Kumar, Anita. 2013. “The Play Is Now Reality: Affective Turns, Narrative Struggles, and Theorizing Emotion as Practical Experience.” Culture, Medicine and Psychiatry 37(4): 711–736.

Lord, Albert. 2000. The Singer of Tales. 2nd edition. Cambridge, MA: Harvard University Press.

MacDonald, Shauna M. 2012. “Staging and Storying Blood from a Stone: A Performative Reflection in Three Acts.” Canadian Theatre Review 151: 37–43.

MacDougall, David. 2005. The Corporeal Image: Film, Ethnography, and the Senses. Princeton, NJ: Princeton University Press.

———. 2009. “Anthropology and the Cinematic Imagination.” In Photography, Anthropology and History, ed. C. Morton and E. Edwards, 55–65. Burlington, VT: Ashgate.

Madison, D. Soyini. 2005. Critical Ethnography: Method, Ethics, and Performance. Thousand Oaks: Sage.

———. 2010. Acts of Activism: Human Rights as Radical Performance. New York: Cambridge University Press.

———. 2012. Critical Ethnography: Method, Ethics, and Performance. Thousand Oaks, CA: Sage.

Magnat, Virginie. 2011. “Conducting Embodied Research at the Intersection of Performance Studies, Experimental Ethnography and Indigenous Methodologies.” Anthropologica 53(2): 229–243.

———. 2012. “Can Research Become Ceremony? Performance Ethnography and Indigenous
Epistemologies.” Canadian Theatre Review 151: 30–36.

Malinowski, Bronislaw. 1948. Magic, Science and Religion and Other Essays. Boston: Beacon.

Marcus, George. 1998. Ethnography through Thick and Thin. Princeton, NJ: Princeton University Press.

Massumi, Brian. 2002. Parables for the Virtual: Movement, Affect, Sensation. Durham, NC: Duke University Press.

Mauss, Marcel (1935) 1973.“Techniques of the Body.” Economy and Society 2(1): 70–88.

McLean, Stuart. 2007. “Introduction: Why Imagination?” Irish Journal of Anthropology 10(2): 5–9.

Mienczakowski, Jim. 1992. Syncing Out Loud: A Journey into Illness. Brisbane, Australia: Griffith University.

———. 1994. “Reading and Writing Research.” NADIE Journal: International Research Issue 18: 45–54.

———. 1995. “The Theatre of Ethnography: The Reconstruction of Ethnography into Theatre with
Emancipatory Potential.” Qualitative Inquiry 1: 360–375.

———. 2000. “Ethnography in the Form of Theatre with Emancipatory Intentions.” In Research and Inequality, ed. C. Truman, D.M. Mertens and B. Humphries, 126–142. London: UCL Press.

———. 2001. “Ethnodrama: Performed Research – Limitations and Potential.” In Handbook of Ethnography, ed. P. Atkinson, A. Coffey, S. Delamont, J. Lofland and L. Lofland, 468–476. London: Sage.

Murray, David. 2016. Real Queer? Sexual Orientation and Gender Identity Refugees in the Canadian Refugee Apparatus. London: Rowman and Littlefield.

Neveu Kringelbach, Hélène N., and Jonathan Skinner (eds). 2012. Dancing Cultures: Globalization, Tourism and Identity in the Anthropology of Dance. New York: Berghan.

Palmer, Gary B., and William R. Jankowiak. 1996. “Performance and Imagination: Toward an Anthropology of the Spectacular and the Mundane.” Cultural Anthropology 11(2): 225–258.

Papa, Lee, and Luke Eric Lassiter. 2003. “The Muncie Race Riots of 1967: Representing Community Memory through Public Performance, and Collaborative Ethnography between Faculty, Students, and the Local Community.” Journal of Contemporary Ethnography 32(2): 147–166.

Pink, Sarah. 2004. Home Truths: Gender, Domestic Objects and Everyday Life. London: Berg.

———. 2015. Doing Sensory Ethnography. 2nd edition. Thousand Oaks, CA: Sage.

Pratt, Geraldine, and Elia Kirby. 2003. “Performing Nursing: BC Nurses’ Union Theatre Project.” ACME: An International E-Journal for Critical Geographies 2(1): 14–31.

Rapport, Nigel, and Joanna Overing. 2000. Social and Cultural Anthropology: The Key Concepts. New York: Routledge.

Robbins, Joel. 2010. “On Imagination and Creation: An Afterword.” Anthropological Forum 20(3): 305–313.

Ruby, Jay. 1982. Crack in the Mirror: Reflexive Perspectives in Anthropology. Philadelphia: University of Pennsylvania Press.

Saldaña, Johnny. 2003. “Dramatizing Data: A Primer.” Qualitative Inquiry 9(2): 218–236.

———. 2005. Ethnodrama. London: AltaMira.

Schechner, Richard. 1985. Between Theatre and Anthropology. Philadelphia: University of Pennsylvania Press.

Scott, James. 1985. Weapons of the Weak: Everyday Forms of Peasant Resistance. New Haven, CT: Yale University Press.

Scott, Julie-Ann. 2013. “Problematizing a Researcher’s Performance of ‘Insider Status’: An Autoethnography of ‘Designer Disabled’ Identity.” Qualitative Inquiry 19(2): 101–115.

Sime, Jennifer. 2007. “The Prickly Beards of Shepherds and the Peeled Moon and the Fly… Locating and Dislocating Lorca’s Duende.” Irish Journal of Anthropology 10(2): 44–50.

Singer, Milton B. 1961. “Text and Context in the Study of Contemporary Hinduism.” Adyar Library Bulletin 25: 274–303.

———. 1972. When a Great Tradition Modernizes: An Anthropological Approach to Indian Civilization. New York: Praeger.

Sjöberg, Johannes. 2007. Transfiction. Brazil, Sweden, and UK: FaktaFiktion Sweden and University of Manchester.

Sneath, David, Martin Holbraad, and Morten A. Pederson. 2009. “Technologies of the Imagination:
An Introduction.” Ethnos 74(1): 5–30.

Spry, Tami. 2001. “Performing Autoethnography: An Embodied Methodological Praxis.” Qualitative Inquiry 7(6): 706–732.

Sterne, Jonathan. 2012. “Sonic Imaginations.” In The Sound Studies Reader, ed. J. Sterne, 1–17. London: Routledge.

Stewart, Kathleen. 2007. Ordinary Affects. Durham, NC: Duke University Press.

Stoller, Paul. 1989. The Taste of Ethnographic Things: The Senses in Anthropology. Philadelphia: University of Pennsylvania Press.

———. 1995. Embodying Colonial Memories. New York: Routledge.

———. 1997. Sensuous Scholarship. Philadelphia: University of Pennsylvania Press.

Taylor, Charles. 2002. “Modern Social Imaginaries.” Public Culture 14(Special Issue on New Imaginaries): 91–124.

Tedlock, Dennis. 1987. “Questions Concerning Dialogical Anthropology.” Journal of Anthropological Research 43(4): 325–337.

Thomas, Helen. 2003. The Body, Dance and Cultural Theory. New York: Palgrave Macmillan.

Thrift, Nigel. 2003. “Performance and. . . .” Environment and Planning A 35: 2019–2024. Turner,

Victor. 1967. The Forest of Symbols: Aspects of Ndembu Ritual. Ithaca, NY: Cornell University Press.

———. 1982. From Ritual to Theatre: The Human Seriousness of Play. New York: PAJ.

———. 1986. “Dewey, Dilthey, and Drama: An Essay in the Anthropology of Experience.” In The Anthropology of Experience, ed. V.W. Victor and E.M. Bruner, 33–44. Champaign: University of Illinois Press.

———. 1988. The Anthropology of Performance. New York: PAJ. Turner, Victor, and Edith Turner. 1982. “Performing Ethnography.” Drama Review 26(2): 33–50.

van Ede, Yolanda. 2007. “From the Untouchables towards Cool Investigation.” In Wildness and Sensation: An Anthropology of Sinister and Sensuous Realms, ed. R. van Ginkel and A. Strating, 274–294: Amsterdam: Het Spinhuis.