Powered By Blogger

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2023

Chính trị học So sánh Trung Quốc và phương Tây: Bài học & Vấn đề (I)

Daniel A. Bell

Người dịch: Hà Hữu Nga

Tóm tắt

Cùng với sự trỗi dậy về kinh tế và quân sự của Trung Quốc, các giá trị chính trị hàng đầu của quốc gia này sẽ ngày càng định hình cả Trung Quốc và thế giới nói chung. Do đó, chúng ta cần hiểu, so sánh và học hỏi từ các giá trị hàng đầu trong văn hóa chính trị của Trung Quốc. Đánh giá này thảo luận về những nỗ lực gần đây nhằm so sánh một cách có hệ thống ba giá trị hàng đầu trong các truyền thống triết học của Trung Quốc - chế độ thượng hiền (trọng dụng nhân tài), hệ thống thứ bậc và sự hài hòa - với các giá trị hàng đầu của văn hóa chính trị phương Tây.

Giới thiệu

Đối với các sinh viên và trí thức Trung Quốc, cách tiếp cận so sánh tư duy chính trị là đương nhiên. Bất chấp ràng buộc chính trị, hầu hết các cuộc tranh luận chính trị ở các trường đại học Trung Quốc đều liên quan đến việc so sánh các giá trị chính trị hàng đầu từ các truyền thống triết học ở Trung Quốc và phương Tây. Giáo viên và sinh viên đọc những văn bản tuyệt vời thuộc cả truyền thống phương Tây lẫn Trung Quốc, và thường đến các nước phương Tây để tìm hiểu về các cuộc tranh luận mới nhất về lý thuyết chính trị. Ngược lại, các đại học phương Tây thì dường như lại khá thiển cận. Hầu hết các khoa khoa học chính trị, triết học và luật tại các trường đại học nói tiếng Anh hàng đầu vẫn tập trung vào các cuộc tranh luận học thuật ở các xã hội phương Tây và kháng cự việc khám phá nghiêm túc truyền thống Trung Quốc và các cuộc tranh luận chính trị đương đại ở Trung Quốc.

Vì sao lại có tình trạng đó? Một nguyên do là ở triết học (hoặc trí tuệ). Triết học Trung Quốc xuất trình các truyền thống và văn bản phong phú, đa dạng để suy nghĩ về chính trị, mà các trường đại học phương Tây lại võ đoán cắt bỏ các cuộc tranh luận trí tuệ hấp dẫn liên quan. Hơn nữa, sự gặp gỡ có hệ thống của các ý tưởng hàng đầu từ các truyền thống khác nhau có thể truyền cảm hứng cho tư duy chính trị mới mẻ có giá trị lâu dài. Lý do khác là chính trị. Trong phần lớn thế kỷ 20, lý thuyết chính trị Trung Quốc bị gạt ra bên lề chủ yếu do sức mạnh vượt trội về kinh tế và quân sự của các nước phương Tây. Trên thực tế, người phương Tây không cần phải hiểu các truyền thống chính trị của Trung Quốc vì chúng không tác động nhiều đến thế giới bên ngoài Trung Quốc. Nhưng giờ đây chúng ta không thể tránh thảo luận về tác động của sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chúng ta cần hiểu các giá trị chính trị của Trung Quốc không chỉ vì chúng ảnh hưởng đến Trung Quốc mà còn vì chúng ảnh hưởng mạnh mẽ đến phần còn lại của thế giới. Chẳng hạn, quan điểm không giống nhau về chính trị ở Hoa Kỳ và Trung Quốc, một phần bắt nguồn từ các ưu tiên khác nhau do mỗi xã hội đưa ra đối với các giá trị và nguyện vọng chính trị hệ trọng, không chỉ đơn giản là xung đột lợi ích kinh tế và quân sự. Tất nhiên cả hai xã hội đều chia sẻ nhiều giá trị chính trị, nhưng thứ hạng của những giá trị đó có thể khác nhau, điều này rất quan trọng trong các trường hợp xung đột. Để xoa dịu các xung đột chính trị bắt nguồn từ những hiểu lầm về văn hóa, điều quan trọng là phải hiểu các giá trị chính trị đa dạng và tôn trọng các lĩnh vực khác biệt chính đáng về mặt đạo đức. Tham vọng hơn, công việc so sánh có thể tạo ra những ý tưởng chính trị mới phù hợp để suy nghĩ về các vấn đề toàn cầu cấp bách của thời đại chúng ta. Việc phụ thuộc hoàn toàn vào các giá trị chính trị được phát triển ở các nước phương Tây khi các nước đó gần như có ảnh hưởng hoàn toàn đối với phần còn lại của thế giới ít có khả năng tạo ra những hiểu biết thực tế phù hợp với thế giới đa cực ngày nay.

Không phải mọi tin tức đều xấu. Phương Tây không phải là một nguyên khối thống nhất, và một số quốc gia - chẳng hạn như Na Uy - dường như có đầu óc quốc tế hơn. Nghiên cứu vùng đã là một phân ngành nổi bật trong các đại học Mỹ, và các nhà khoa học chính trị so sánh các thể chế chính trị ở các nước phát triển, ở các nước đang phát triển (ở mức độ thấp hơn) và giữa các nước phát triển và đang phát triển (ở mức độ thấp nhất). Các nhà khoa học chính trị thực hiện nghiên cứu thực nghiệm nghiêm ngặt các giá trị chính trị so sánh giữa các khu vực và quốc gia khác nhau (ví dụ: Khảo sát Giá trị Thế giới, Phong vũ biểu châu Á). Tuy nhiên, điều còn thiếu là việc phản ánh một cách hệ thống về những gì có thể học được từ các giá trị chính trị bên ngoài phương Tây, điều này hoàn toàn trái ngược với Trung Quốc, nơi giới trí thức đã tranh luận về cách học hỏi từ “những người giỏi nhất của phương Tây” trong hơn một thế kỷ nay.

Tất nhiên, lĩnh vực lý thuyết chính trị nhằm mục đích đầu tiên và quan trọng nhất là phản ánh định chuẩn về cách thức điều hành xã hội, việc tổ chức và biện minh chính trị; đó là nơi chúng ta mong đợi sự tham gia có hệ thống nhất với tư duy chính trị Trung Quốc. Nhưng tiến độ đã thật chậm. Vào đầu những năm 1980, tôi tham gia các khóa học theo phương thức “Plato đến NATO” và tốt nghiệp mà không nhận thức được rằng có thể có nhiều lợi ích định chuẩn để học hỏi từ thế giới chính trị phi-phương Tây. Vào cuối những năm 1980, các nhà tư tưởng công xã phương Tây nghi ngờ về giá trị phổ quát của các lý tưởng chính trị bắt nguồn từ kinh nghiệm dân chủ tự do, nhưng họ không đề xuất bất kỳ giải pháp thay thế mong muốn và thực tế nào về mặt chính trị. Các cuộc tranh luận chủ yếu xoay quanh nhu cầu đào sâu (chứ không phải hạn chế) nền dân chủ và làm thế nào để giảm bớt các hình thức phân cấp (chứ không phải nghĩ xem hình thức nào là hợp lý), và giá trị của sự hài hòa hầu như không hề thấy trong các cuộc tranh luận này. Những người theo chủ nghĩa tự do phương Tây [tr.94] cuối cùng đã tiếp nhận những hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa công xã, và cuộc tranh luận về chủ nghĩa công xã-tự do đã lụi tàn khỏi sự tồn tại học thuật mà không có bất kỳ sự tham gia nghiêm túc nào với các giá trị chính trị hàng đầu từ các xã hội phi-phương Tây. Gần đây, lĩnh vực lý thuyết chính trị so sánh đã tạo ra ảnh hưởng chậm nhưng chắc chắn ở các đại học phương Tây (von Vacano 2015). Các tác phẩm chủ chốt về lý thuyết chính trị Trung Quốc đã được dịch và xuất bản bộ sách Các nhà Tư tưởng Trung Quốc của Trung tâm Thornton Brookings và Bộ sách Princeton–Trung Quốc. Đã có nhiều cuộc thảo luận về phương pháp luận thuộc lý thuyết chính trị so sánh (Dallmayr 2010, Godrej 2011, Jenco 2007). Các nhà lý thuyết đã so sánh sâu sắc các ý tưởng đạo đức và chính trị của các nhà tư tưởng vĩ đại trong quá khứ (Yearley 1990, El Amine 2015). Một số công trình về lý thuyết chính trị so sánh có mối quan tâm định chuẩn rõ ràng hơn (Tan 2004, Jenco 2010). Nhưng vẫn không có nhiều nỗ lực để so sánh một cách có hệ thống các giá trị chính trị của Trung Quốc với phương Tây và liên hệ những hiểu biết đó với các vấn đề chính trị đương đại theo cách mà công chúng nói chung có thể tiếp cận được trong các đại học phương Tây. Và thậm chí còn ít nỗ lực hơn trong việc lấy các giá trị chính trị hàng đầu từ văn hóa chính trị Trung Quốc, chẳng hạn như chế độ thượng hiền (trọng dụng nhân tài), thứ bậc và sự hài hòa, làm nền tảng cho các dự án so sánh.

Vậy so sánh các giá trị chính trị hàng đầu giữa Trung Quốc và phương Tây có nghĩa là gì? Tất nhiên, có những lĩnh vực chồng chéo đáng kể. Không ai ở Trung Quốc bàn cãi công khai về các quyền con người là “mỏng”, chẳng hạn như quyền chống lại nạn diệt chủng, chế độ nô lệ, tra tấn, giết người hoặc phân biệt chủng tộc có hệ thống (Walzer 1994). Nhưng các giá trị chính trị khác chiếm ưu thế trong các xã hội phương Tây, chẳng hạn như dân chủ, bình đẳng và tự do, đang bị tranh cãi gay gắt ở Trung Quốc. Không còn nghi ngờ gì nữa, các quan chức chính phủ Trung Quốc thường phản đối các giá trị này - và hạn chế các cuộc tranh luận chính trị về cái gọi là các giá trị phương Tây - để che đậy những hành vi lạm dụng quyền lực chính trị xấu xí. Nhưng đó không phải là toàn bộ, hay thậm chí là cốt truyện chính. Nhiều nhà cải cách chính trị và trí thức độc lập ở Trung Quốc cũng như các chuyên gia về triết học Trung Quốc và văn hóa chính trị bên ngoài Trung Quốc lập luận rằng các giá trị chính trị như chế độ thượng hiền, thứ bậc và sự hài hòa trái ngược với các giá trị chính trị thống trị ở phương Tây và cũng tác động đến cách thức tổ chức và tính hợp thức quyền lực chính trị ở Trung Quốc (Bell & Li 2013). Tất nhiên, những tuyên bố như vậy cần được xem xét với một tinh thần cởi mở. Không đủ để loại bỏ chúng trên cơ sở một lý thuyết về lý luận chính trị và đạo đức phổ quát chỉ dựa trên những khát vọng đạo đức và thực tiễn xã hội được thấy trong các xã hội phương Tây. Cũng không đủ để khẳng định những khác biệt văn minh không thể hòa giải và loại trừ sự chồng chéo và khả tính học hỏi lẫn nhau (Huntington 2011). Chúng ta cần so sánh một cách có hệ thống các giá trị chính trị được ưu tiên ở Trung Quốc và phương Tây, đồng thời khám phá những lĩnh vực chồng chéo và những lĩnh vực khác biệt. Một khi các tương phản được giải thích rõ ràng, chúng ta cần xem xét khả tính học hỏi từ chúng. Liệu chúng ta có thể xây dựng một nền đạo đức chính trị khác dựa trên những hiểu biết sâu sắc về các truyền thống chính trị khác nhau và giúp chúng ta suy nghĩ về các vấn đề chính trị trong một thế giới đa cực không? Hay chúng ta nên hòa giải với những khác biệt chủ chốt? Nếu một số khác biệt không thể hòa giải được, thì chúng ta cần phải suy nghĩ về mặt đạo đức về cách thương thảo các mối quan hệ dựa trên những khác biệt đó. Chúng ta cần khoan dung hoặc tôn trọng một xã hội có quan điểm chính trị trái ngược đến mức nào? Có thể bỏ qua những câu hỏi này vào thời phương Tây gây ảnh hưởng trí tuệ áp đảo được hỗ trợ bởi sức mạnh kinh tế và quân sự vượt trội, nhưng ngày nay chúng ta cần tham gia vào bản chất trí tuệ của các xung đột chính trị dựa trên cơ sở (ít nhất là một phần) ở việc viện đến các giá trị chính trị khác nhau ở những vùng khác nhau trên thế giới.

Bài viết này thảo luận về những nỗ lực gần đây nhằm so sánh một cách có hệ thống các giá trị chính trị thống trị ở Trung Quốc và phương Tây. Có rất nhiều cuộc tranh luận bằng tiếng Trung Quốc, nhưng vì lý do dung lượng, tôi chỉ giới hạn thảo luận về các công trình bằng tiếng Anh. Tôi chủ yếu tập trung vào các quan điểm triết học tương phản được cung cấp bởi các tranh cãi chính trị ngày nay hơn là những khác biệt thực nghiệm về các giá trị giữa các quốc gia và khu vực, mặc dù vấn đề sau có thể làm sáng tỏ vấn đề trước. Trong các công trình này, một số đã được các học giả chấp bút trong nhiều năm. Suy nghĩ của riêng tôi đã bị ảnh hưởng bởi các công trình của Trung tâm Văn hóa và Triết học Berggruen (BPCC) từ năm 2014 đến 2016 (tôi là giám đốc của BPCC trong giai đoạn này). BPCC đã tập hợp những bộ óc hàng đầu từ khắp các ranh giới văn hóa và chính trị để khám phá những câu hỏi chính của thời đại [tr.95] chúng ta, với mục đích không chỉ cải thiện sự hiểu biết lẫn nhau mà còn tạo ra những hiểu biết mới thông qua học hỏi sâu rộng lẫn nhau, công bố các phát hiện và dịch chúng sang ngôn ngữ mà công chúng rộng rãi hơn ở cả phương Tây và Trung Quốc có thể tiếp cận được. Cụ thể hơn, BPCC đã tập trung vào các chủ đề (a) bao gồm các cực và các căng thẳng cả bên trong một truyền thống và giữa các truyền thống có ý nghĩa chính trị và triết học lâu dài; (b) có thể tạo ra những hiểu biết mới nếu được khám phá từ quan điểm của các truyền thống và nguyên tắc đạo đức khác nhau; và (c) yêu cầu tập trung nhiều vào các nghiên cứu so sánh và có hệ thống. Mục tiêu không chỉ đơn giản là làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt hợp thức về mặt đạo đức giữa các giá trị chính trị mà còn truyền cảm hứng cho những quan điểm mới và tư duy triết học mới mẻ. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng với các nhà tư tưởng hàng đầu từ các nền văn hóa và các ngành học khác nhau, BPCC đã ưu tiên ba chủ đề xuyên văn hóa có ý nghĩa xã hội và chính trị trong thời kỳ này, đặc biệt nhấn mạnh đến những đóng góp của các truyền thống chính trị Trung Quốc đã bị bỏ qua trong các cuộc tranh luận học thuật phương Tây: chế độ thượng hiền (trọng dụng nhân tài) và dân chủ, tôn ty và bình đẳng, hài hòa và tự do. Tôi sẽ thảo luận về từng chủ đề tương phản này - lấy các giá trị hàng đầu từ văn hóa chính trị Trung Quốc làm điểm khởi đầu - và kết luận với các gợi ý cho các nghiên cứu trong tương lai.

Thượng hiền và Dân chủ

Các cuộc tranh luận về dân chủ (theo nghĩa chính quyền do nhân dân quản lý) và chế độ trọng dụng nhân tài chính trị (theo nghĩa hệ thống chính trị nên được thiết kế với mục đích lựa chọn và đề bạt các nhà lãnh đạo có năng lực và phẩm chất vượt trội) có lịch sử lâu đời nhất. Plato đã mạnh mẽ chỉ trích nền dân chủ và bảo vệ lý tưởng chính trị thượng hiền trong tác phẩm Cộng hòa. Chế độ thượng hiền chính trị có ảnh hưởng xuyên suốt lý thuyết và thực tiễn chính trị phương Tây sau này, mặc dù các nhà tư tưởng hiếm khi bảo vệ một hình thức thuần túy thượng hiền chính trị. Các quốc phụ sáng lập Hoa Kỳ và giới tinh hoa tự do thế kỷ XIX như John Stuart Mill và Alexis de Tocqueville đã đưa ra những lý tưởng chính trị cố gắng kết hợp chế độ thượng hiền và dân chủ (Macedo 2013, Skorupski 2013). Ngày nay, các nền dân chủ tự do trao quyền cho các chuyên gia được tuyển chọn theo thể thức thượng hiền vào các vị trí hành chính và tư pháp, nhưng họ phải chịu trách nhiệm giải trình, nếu chỉ là gián tiếp, trước các nhà lãnh đạo được bầu cử theo thể thức dân chủ (Pettit 2013). Họ có ý định thực thi quyền lực trong một lĩnh vực được xác định hẹp và phải cố gắng giữ trung lập về chính trị trong phạm vi có thể. Ví dụ, các công chức Anh có nhiệm vụ phục vụ các chính trị gia được bầu chọn và có thể cần phải gạt quan điểm chính trị của mình sang một bên khi họ làm như vậy. Nhưng ý tưởng cho rằng cần phải kiểm tra việc trọng dụng nhân tài - chẳng hạn như kiểm tra hoặc yêu cầu về kinh nghiệm chính trị ở các cấp chính quyền thấp hơn - đối với việc lựa chọn các nhà lãnh đạo chính trị, những người được cho là phải thực hiện phán quyết chính trị trong hàng loạt lĩnh vực đã bị coi là quá nhạt nhòa về đạo đức trong các xã hội phương Tây. Gần như có sự gắn bó mang tính phản xạ với quan điểm cho rằng một người-một lá phiếu là cách duy nhất hợp pháp về mặt đạo đức để lựa chọn các nhà lãnh đạo chính trị, bất kể cộng đồng chính trị lớn đến đâu hay bối cảnh chính trị ra sao. Do đó, việc lý thuyết hóa về chế độ thượng hiền chính trị - theo nghĩa tìm phương thức tốt nhất để lựa chọn và đề bạt các nhà lãnh đạo chính trị, những người thực thi phán quyết chính trị trong hàng loạt lĩnh vực và nắm giữ quyền lực tối cao trong cộng đồng chính trị - gần như đã phai nhạt trong diễn ngôn chính trị phương Tây hiện đại thuộc giai đoạn sau Thế chiến thứ hai. Có thể thảo luận về chế độ thượng hiền trong công vụ nhưng không nên bảo vệ các lựa chọn thay thế bầu cử như một cách lựa chọn các nhà lãnh đạo chính trị.

Điều đó có nghĩa là, ngày càng có nhiều nghi ngờ về phẩm chất của các nhà lãnh đạo ở các nước phương Tây. Bất kể lợi thế của các nền dân chủ bầu cử là gì – chúng đều quy định các nhà lãnh đạo phải chịu trách nhiệm giải trình trước công dân và đảm bảo rằng có thể có một sự chuyển đổi lãnh đạo một cách hòa bình - nhưng hệ thống sẽ không hoạt động tốt nếu cử tri bầu ra những nhà lãnh đạo thiếu kinh nghiệm, có năng lực hạn chế và/ hoặc dễ sa vào tham nhũng. Biện minh chủ chốt cho các cuộc bầu cử dân chủ là ý kiến cho rằng cử tri có lý trí và làm tốt công việc lựa chọn các nhà lãnh đạo, nhưng bằng chứng khoa học xã hội cho thấy mọi người thường thiếu năng lực và động lực để đưa ra các phán quyết chính trị hợp lý và có hiểu biết về mặt đạo đức (Brennan 2011, Aden & Bartels 2016). Cử tri thường hiểu sai về lợi ích kinh tế của chính họ (Caplan 2007). Họ thường bỏ phiếu theo những cách trái đạo đức [tr.96], theo lợi ích ngắn hạn hoặc lợi ích nhóm dân tộc của họ, ngay cả khi làm như vậy sẽ gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho các nhóm khác trong cộng đồng chính trị (Mann 2005). Khi họ bỏ phiếu cho lợi ích chung, họ thường xem xét lợi ích của chính họ chứ không phải lợi ích của các thế hệ tương lai, những người sống ở các quốc gia/bang khác, động vật và những người khác bị ảnh hưởng bởi các chính sách của chính phủ; ít nhất, cử tri cũng không muốn hy sinh lợi ích của cộng đồng bỏ phiếu vì lợi ích của những người không phải là cử tri (chẳng hạn như thế hệ tương lai) trong các trường hợp xung đột (Mulgan 2011).  

Để đáp lại, các nhà lý thuyết đã đề xuất các biện pháp được thiết kế để tăng khả năng những cử tri có đầy đủ thông tin và tinh thần đại chúng có nhiều tiếng nói hơn, tương tự như đề xuất của John Stuart Mill cho rằng những người có học nên được trao cho nhiều phiếu bầu hơn. Caplan (2007) đã đề xuất các kiểm tra năng lực kinh tế cho cử tri. Ziliotti & Bell (2014) đề xuất các trắc nghiệm nhiều lựa chọn trên nền tảng chính trị của hai đảng chính trị, không khó hơn các trác nghiệm lấy bằng lái xe. Dù lòng mong mỏi định chuẩn cho những đề xuất như vậy là gì, thì người ta cũng không có khả năng nghiêm túc lắng nghe tại các quốc gia đã thực hiện hệ thống một người-một phiếu bầu để lựa chọn các nhà lãnh đạo chính trị. Dù tốt hay xấu, thì hầu hết mọi người đều không muốn từ bỏ hoặc bày tỏ quyền bầu cử sau khi họ có được nó. Tất nhiên, các nền dân chủ bầu cử có thể (và có lẽ nên) thực hiện các biện pháp được thiết kế để thúc đẩy quá trình ra quyết định của các chuyên gia vô thiên vị và cải thiện chất lượng của quá trình ra quyết định giữa các cuộc bầu cử (Berggruen & Gardels 2012). Nhưng các nhà lãnh đạo được bầu vẫn có quyền quyết định có thực hiện lời khuyên vô thiên vị kia hay không. Và các quyết định được các chuyên gia thúc đẩy thường thiếu tính hợp thức dân chủ, cho phép sự trỗi dậy của những kẻ mị dân dân túy, hứa hẹn sẽ khôi phục quyền lực cho người dân. Suy cho cùng, người dân có quyền bầu chọn những nhà lãnh đạo kém chất lượng, không thể thực hiện những gì họ hứa một cách hợp lý hoặc những kẻ thúc đẩy các chính sách phi lý. Theo nghĩa này, tài liệu chỉ ra sự khác biệt rõ rệt giữa các hệ thống chính trị chủ yếu (hoặc cuối cùng) dựa vào dân chủ bầu cử và những hệ thống chủ yếu dựa vào các cơ chế thượng hiền được thiết kế để lựa chọn và đề bạt các nhà lãnh đạo có năng lực và phẩm chất vượt trội.

Chế độ thượng hiền chính trị là một chủ đề nhất quán hơn trong lịch sử văn hóa chính trị Trung Quốc. Ý tưởng đề cao người xứng đáng xuất hiện sau sự tan rã của trật tự quý tộc dựa trên dòng dõi thời Xuân Thu (770 - 453 TCN) và phát triển nhanh chóng trong suốt thời Chiến Quốc (435 - 221 TCN), khi nó được được chia sẻ bởi mọi khuynh hướng trí thức lớn đương thời (Pines 2013). Có chút hơi phóng đại nếu nói rằng việc xây dựng lý thuyết chính trị sau này ở Trung Quốc tập trung vào các luận chiến về năng lực và phẩm chất nào quan trọng đối với các quan chức và cơ chế nào có nhiều khả năng lựa chọn và đề bạt các nhà lãnh đạo có những năng lực và phẩm chất đó. Đóng góp to lớn của Đế chế Trung Quốc cho chế độ thượng hiền chính trị là hệ thống thi cử của triều đình. Từ triều đại nhà Tùy (581 - 618 CN) cho đến khi hệ thống thi cử triều đình sụp đổ vào năm 1905, các quan chức được lựa chọn chủ yếu bằng các kỳ thi nghiêm ngặt và cực kỳ cạnh tranh. Tuy nhiên, các kỳ thi chủ yếu vận hành như một quá trình sàng lọc giữa những người ưu tú (Elman 2013), và tiếp theo sau là các đánh giá hiệu suất ở các cấp chính quyền thấp hơn. Các vị hoàng đế cũng có thể và đã thực thi quyền lực chính trị độc đoán đối với toàn bộ hệ thống.

Câu hỏi làm thế nào để dung hòa giữa chế độ thượng hiền và thể chế dân chủ đã xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, khi các nhà cải cách và trí thức Trung Quốc đối mặt với sự yếu kém của đất nước và nỗ lực học hỏi từ các khía cạnh của các hệ thống chính trị dân chủ hiện đại hơn ở các xã hội phương Tây. Tôn Dật Tiên (1866 - 1925), người đồng sáng lập Quốc Dân đảng và từng là lãnh đạo đầu tiên của nó, ủng hộ các cuộc bầu cử dân chủ cùng với một nhánh kiểm tra độc lập thoát khỏi sự phụ thuộc vào sự cai trị độc đoán của chế độ quân chủ. Ngành khảo thí sẽ tổ chức các kỳ thi tuyển quan chức, kể cả các quan chức được bầu, và tất cả đều phải vượt qua các kỳ thi đó trước khi nhậm chức (Sun 1994; xem thêm C. Li 2012). Tuy nhiên, vấn đề với quan điểm này là những nhà lãnh đạo giành được nhiều phiếu bầu nhưng trượt kỳ thi vẫn được coi là những đại diện hợp pháp hơn so với những người vượt qua kỳ thi nhưng được bầu với tỷ lệ phiếu thấp hơn rất nhiều [tr.97 ]. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi ngành khảo thí chỉ được sử dụng để kiểm tra công chức sau khi Quốc Dân đảng nắm quyền ở Đài Loan.          

Ở Trung Quốc đại lục, các cuộc tranh luận về chế độ thượng hiền chính trị đã dừng lại vì chủ nghĩa Mao coi trọng những đóng góp chính trị của các chiến binh, công nhân và nông dân hơn những đóng góp của giới trí thức và các nhà giáo dục. Bất kể thực tế chính trị từ trên xuống là gì, các nhà lãnh đạo cách mạng tuyên bố rằng họ đang xây dựng một hình thức mới của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có sự tham gia từ dưới lên, và không còn thấy (hoặc được nghe công khai) những người bảo vệ chủ nghĩa tinh hoa chính trị ở Trung Quốc đại lục nữa. Nhưng đất nước này đã chuẩn bị cho sự hồi sinh của chế độ thượng hiền chính trị sau một kinh nghiệm tai hại với chủ nghĩa dân túy cực đoan và chế độ độc tài độc đoán trong Cách mạng Văn hóa. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tái lập các yếu tố của truyền thống thượng hiền, chẳng hạn như lựa chọn các nhà lãnh đạo dựa trên các kỳ thi và quá trình thăng tiến dựa trên đánh giá hiệu suất ở các cấp chính quyền thấp hơn, đồng thời thiết lập các cuộc bầu cử dân chủ ở cấp làng. Tuy nhiên, vẫn còn một khoảng cách lớn giữa các lý tưởng về chế độ thượng hiền và dân chủ với thực tế chính trị ở Trung Quốc, và các nhà lý thuyết chính trị đương đại đã phát triển các đề xuất của riêng họ để dung hòa giữa chế độ thượng hiền và dân chủ.

Một số nhà tư tưởng đã đề xuất kết hợp những ưu điểm của chế độ thượng hiền và dân chủ ở cấp độ các thể chế chính trị trung ương. Một hệ thống hiến pháp được thiết kế phù hợp nên có các thể chế phản ánh nhu cầu lựa chọn các nhà lãnh đạo trên cơ sở dân chủ một người – một phiếu bầu, cũng như các thể chế phản ánh nhu cầu về các nhà lãnh đạo xứng đáng với năng lực và phẩm hạnh trên mức trung bình. Jiang (2012) đề xuất một cơ cấu chính quyền dân chủ với các thành viên được lựa chọn trên cơ sở một người một phiếu bầu và cân bằng với cơ cấu những người gương mẫu theo chế độ thượng hiền với các thành viên được lựa chọn trên cơ sở tri thức kinh điển Nho giáo. Bai (2013) đề xuất một cơ chế dân chủ của nhân dân cho phép tiếng nói của người dân được lắng nghe và mang lại cho công dân những lợi ích tâm lý khi bỏ phiếu, cùng với một cơ quan lập pháp trọng dụng nhân tài bao gồm những người được lựa chọn trên cơ sở năng lực và phẩm chất vượt trội. Các thành viên của cơ chế thượng hiền sẽ được lựa chọn bằng phương thức kết hợp các kỳ thi, phiếu bầu của các thành viên cơ quan lập pháp cấp thấp hơn và một hệ thống hạn ngạch để đại diện cho các thành phần khác nhau của xã hội. Cơ chế thượng hiền sẽ có quyền lập pháp về các vấn đề liên quan đến những người không phải cử tri và các xem xét dài hạn của cộng đồng chính trị. Chan (2013, 2014) lập luận rằng bổ sung một cơ quan lập pháp dân chủ nên được bằng một thể chế trọng dụng nhân tài bao gồm các ký giả chính trị có kinh nghiệm và các công chức cấp cao được các đồng nghiệp của họ lựa chọn dựa trên phẩm chất và năng lực của họ.

Vấn đề với những đề xuất như vậy không chỉ là chúng khác xa với thực tế chính trị hiện tại ở Trung Quốc. Vấn đề sâu xa hơn là chúng sẽ khó (có lẽ là không thể) hợp nhất ngay cả khi chúng nhìn thấy ánh sáng ban ngày. Một khi một số nhà lãnh đạo chính trị được chọn trên cơ sở mỗi người một phiếu bầu, thì gần như không thể tránh khỏi việc những nhà lãnh đạo đó sẽ được những người bầu chọn họ coi là những nhà lãnh đạo chính trị hợp pháp, và quyền lực của cơ chế thượng hiền có thể sẽ bắt đầu bị gạt ra ngoài lề theo thời gian. Không chỉ có xu hướng ở các nước phương Tây, chẳng hạn như Vương quốc Anh, đã cố gắng đưa yếu tố chế độ thượng hiền mạnh mẽ vào cơ chế thứ hai. Dữ liệu khảo sát cho thấy người dân Trung Quốc rất coi trọng chế độ thượng hiền chính trị (Shi 2015), nhưng các xã hội Đông Á khác coi trọng chế độ thượng hiền chính trị đã nhanh chóng thay đổi và ủng hộ nền dân chủ dưới hình thức một người – một phiếu bầu sau khi công cuộc thay đổi đã được thực hiện. Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đều ưa thích nền dân chủ hơn các di sản Nho giáo gia trưởng sau khi thể chế hóa nền dân chủ (Shin 2011, 2013).

Vì vậy, có lẽ Trung Quốc đại lục, nơi vẫn chưa thể chế hóa chế độ một người – một lá phiếu để chọn ra các nhà lãnh đạo chính trị hàng đầu, là một bối cảnh hứa hẹn hơn cho việc thể chế hóa một hình thức cai trị mang tính thượng hiền mạnh mẽ. Do đó, các nhà lý thuyết chính trị đã cố gắng xây dựng trên lý tưởng của chế độ thượng hiền dân chủ theo chiều dọc - có nghĩa là dân chủ ở các cấp chính quyền thấp hơn, với hệ thống chính trị ngày càng trở nên nhiều tính thượng hiền ở các cấp chính quyền cao hơn - điều này đã truyền cảm hứng cho cải cách chính trị ở Trung Quốc trong ba năm thập kỷ qua (Bell 2015). Zheng (2010) lập luận rằng [tr.98] Đảng Cộng sản Trung Quốc đã mở ra quá trình chính trị của mình bằng cách tuyển mộ giới tinh hoa từ các nhóm xã hội khác nhau.

Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể và nên tiếp tục đưa các yếu tố dân chủ, chẳng hạn như thương lượng và theo nguyên tắc có đi có lại với những người hoạt động chính trị và xã hội khác vào một hệ thống chính trị hiện tại thiếu các cuộc bầu cử cạnh tranh tự do và công bằng cho các nhà lãnh đạo hàng đầu. Yao (2013) lập luận rằng một chính quyền trung ương không vụ lợi và một quá trình lựa chọn hợp lý các quan chức chính phủ đã củng cố thành công kinh tế của Trung Quốc. Tuy nhiên, nhà nước độc đảng phải tìm cách tiếp thu nhu cầu của người dân thường và giám sát các nhà lãnh đạo của chính mình nếu muốn đảm bảo thành công liên tục. He (2016) thảo luận về những nỗ lực dung hòa chế độ thượng hiền và chế độ dân chủ ở tất cả các cấp chính quyền Trung Quốc nhưng vẫn kêu gọi thử nghiệm nhiều hơn với nền dân chủ thảo luận và nhấn mạnh hơn vào công lao hơn là lòng trung thành chính trị trong quá trình lựa chọn và thăng tiến cho các quan chức nhà nước. Xiao & C. Li (2013) lập luận rằng một vấn đề chủ chốt của chế độ thượng hiền chính trị là việc đo lường năng lực dễ dàng hơn so với phẩm hạnh. Các kỳ thi có thể kiểm tra kiến thức và đánh giá thành tích có thể bao gồm các đánh giá tương đối khách quan, chẳng hạn như tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng các cơ chế như vậy không thể dễ dàng lọc ra những ứng viên tham nhũng quan tâm đến lợi ích của bản thân hơn là lợi ích của cộng đồng.

Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà lãnh đạo ở các cấp chính quyền cao hơn của Trung Quốc có xu hướng trở thành những nhà quản lý có năng lực nhưng tình trạng tham nhũng ngày càng trở nên tồi tệ hơn khi có nhiều tiền hơn đổ vào hệ thống chính trị. Xiao & C. Li (2013) kết luận rằng chính phủ Trung Quốc cần nới lỏng các biện pháp kiểm soát độc đoán để cho phép có nhiều phê phán đảng hơn và tìm ra những con đường thay thế để đóng góp cho lợi ích chung. Nhưng liệu chính phủ Trung Quốc có thể cởi mở mà không đi theo con đường đa đảng và bầu cử dân chủ cho các nhà lãnh đạo hàng đầu, điều đó có nghĩa là người dân có thể chọn các nhà lãnh đạo chính trị không trải qua quá trình tuyển chọn và đào tạo nghiêm ngặt theo chế độ thượng hiền, do đó làm suy yếu hệ thống thượng hiền? Có lẽ chế độ thượng hiền chính trị yêu cầu một số biện pháp kiểm soát quyền tự do hiệp hội chính trị để các đảng phi thượng hiền và các chính trị gia không có bất kỳ kinh nghiệm chính trị nào không thể dễ dàng giành được quyền lực chính trị. Người ta cũng có thể đòi hỏi những ràng buộc kiểu-Singapore đối với quyền tự do ngôn luận để bảo vệ danh tiếng và thẩm quyền đạo đức (do đó là tính hợp pháp) của các nhà cai trị chính trị được lựa chọn theo chế độ thượng hiền. Những người bảo vệ chế độ thượng hiền chính trị ủng hộ một xã hội cởi mở hơn ở Trung Quốc có thể cần đưa ra một số lựa chọn khó khăn. Cơ bản hơn: Điều gì, nếu có, có thể biện minh cho hệ thống phân cấp chính trị và các hệ thống phân cấp nói chung, trong các xã hội hiện đại coi trọng sự bình đẳng?

____________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Bell, Daniel A. (2017). Comparing Political Values in China and the West: What Can Be Learned and Why It Matters, In Annual Review of Political Science, Vol. 20:93-110 (Volume publication date May 2017)

Tác giả: Daniel A. Bell (tên tiếng Trung: 淡宁 Bối Đạm Trữ; sinh ngày 22 tháng 5 năm 1964) là một nhà lý thuyết chính trị người Canada. Ông hiện là Trưởng khoa Khoa học Chính trị và Hành chính công tại Đại học Sơn Đông và là giáo sư tại Đại học Thanh Hoa. Bell sinh ra ở Montreal, học tại Đại học McGill và Đại học Oxford, đã giảng dạy ở Singapore, Hồng Kông và Thượng Hải; đã được cấp bổng nghiên cứu tại Trung tâm Giá trị Con người của Đại học Princeton, Trung tâm Nghiên cứu Cao cấp về Khoa học Hành vi của Đại học Stanford, và Khoa học Chính trị Đại học Do Thái.

Tài liệu dẫn

Aden C, Bartels L. 2016. Democracy for Realists: Why Elections Do Not Produce Responsive Government. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Angle SC. 2012. Contemporary Confucian Political Philosophy. Cambridge, UK: Polity

Bai T. 2013. A Confucian version of hybrid regime: How does it work and why is it superior? See Bell & Li 2013, pp. 55–87

Balch O. 2013. Buen vivir: the social philosophy inspiring movements in South America. Guardian. Feb. 4.

Beard M. 2015. SPQR: A History of Ancient Rome. New York: Liveright

Bell DA. 2006. Beyond Liberal Democracy: Political Thinking for an East Asian Context. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Bell DA. 2008. China’s New Confucianism: Politics and Everyday Life in a Changing Society. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Bell DA. 2015. The China Model: Political Meritocracy and the Limits of Democracy. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Bell DA, de-Shalit A. 2013. The Spirit of Cities: Why the Identity of a City Matters in a Global Age. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Bell DA, Li C, eds. 2013. The East Asian Challenge for Democracy: Political Meritocracy in Comparative Perspective. Cambridge, UK: Cambridge Univ. Press

Bell DA, Metz T. 2011. Confucianism and Ubuntu: reflections on a dialogue between Chinese and African traditions. J. Chin. Philos. 38:78–95

Bell DA, Mo Y. 2014. Harmony in the world 2013: the ideal and the reality. Soc. Indic. Res. 118(2):797–818
Bell DA, Ziliotti E. 2014. Should voters be tested? WorldPost, Apr. 14

Bellah RN, Madsen R, Sullivan WM, Swidler A, Tipston SM. 1985. Habits of the Heart: Individualism and Commitment in American Life. Berkeley, CA: Univ. Calif. Press

Berggruen N, Gardels N. 2012. Intelligent Governance for the 21st Century: A Middle Way between East and West. Cambridge, UK: Polity

Bevir M. 2010. Democratic Governance. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Bhargava R. 2014. Beyond toleration: civility and principled co-existence in Asokan edicts. In The Boundaries of Toleration, ed. A Stepan, C Taylor. New York: Columbia Univ. Press

Brennan J. 2011. The Ethics of Voting. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Burke E. 1999 (1790). Select Works of Edmund Burke, Vol. 2: Reflections on the Revolution in France. Indianapolis, IN: Lib. Fund

Caplan B. 2007. The Myth of the Rational Voter: Why Democracies Choose Bad Policies. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Chan J. 2013. Political meritocracy and meritorious rule: a Confucian perspective. See Bell & Li 2013, pp. 31– 54

Chan J. 2014. Confucian Perfectionism: A Political Philosophy for Modern Times. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Chen AH. 2003. Mediation, litigation and justice: Confucian reflections in a modern liberal society. In Confucianism for the Modern World, ed. DA Bell, C Hahm, pp. 257–87. Cambridge, UK: Cambridge Univ. Press

Dallmayr F, ed. 2010. Comparative Political Theory: An Introduction. New York: Palgrave Macmillan
Donaldson S, Kymlicka W. 2011. Zoopolis: A Political Theory of Animal Rights. Oxford, UK: Oxford Univ. Press

El Amine L. 2015. Classical Confucian Political Thought: A New Interpretation. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Elman B. 2013. A society in motion: unexpected consequences of political meritocracy in pre-Imperial China. See Bell & Li 2013, pp. 203–31

Godrej F. 2011. Cosmopolitan Political Thought: Method, Practice, Discipline. New York: Oxford Univ. Press

Harari Y. 2015. Sapiens: A Brief History of Humankind. New York: Harper

He B. 2016. A discussion of Daniel A. Bell’s The China Model: Political Meritocracy and the Limits of Democracy. Perspect. Polit. 14(1):147–49

Helgesen G, Thomsen SR, eds. 2006. Politics, Culture, and Self: East Asian and North European Attitudes. Copenhagen: Nord. Inst. Asian Stud.

Huntington S. 2011. The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order. New York: Simon & Schuster

Jenco L 2007. “What does heaven ever say?” A methods-centered approach to cross-cultural engagement. Am. Polit. Sci. Rev. 101(4):741–55

Jenco L. 2010. Making the Political: Founding and Action in the Political Theory of Zhang Shizhao. New York: Cambridge Univ. Press

Jiang Q. 2012. A Confucian Constitutional Order: How China’s Ancient Past Can Shape Its Political Future, ed. DA Bell, R Fan; Transl. E Ryden. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Kennedy JA, Kim TW, Strudler A. 2016. Hierarchies and dignity: a Confucian communitarian approach. Bus. Ethics Q. 26(4):479–502

Lake D. 2009. Hierarchy in International Relations. Ithaca, NY: Cornell Univ. Press

Leavitt HJ. 2004. Top Down: Why Hierarchies Are Here to Stay and How to Manage Them More Effectively. Cambridge, MA: Harv. Bus. Sch. Press

Li C. 2012. Equality and inequality in Confucianism. Dao 11:295–313

Li C. 2014. The Confucian Philosophy of Harmony. Oxfordshire, UK: Routledge

Li J. 2012. Cultural Foundations of Learning: East and West. Cambridge, UK: Cambridge Univ. Press

Li J. 2016. Humility in learning: a Confucian perspective. J. Moral Educ. 45:147–65

Macedo S. 2013. Meritocratic democracy: learning from the American experience. See Bell & Li 2013, pp. 232– 58

Magee JC, Galinsky AD. 2008. Social hierarchy: the self-reinforcing nature of power and status. Acad. Manag. Ann. 2:351–98

Mann M. 2005. The Dark Side of Democracy: Explaining Ethnic Cleansing. Cambridge, UK: Cambridge Univ. Press

Metz T. 2016. Confucian harmony from an African perspective. Afr. Asian Stud. 15:1–22

Metz T. 2017. Values in China as compared to Africa: two conceptions of harmony. Philos. East West 67(2):In press

Meyer E. 2014. The Culture Map: Decoding How People Think, Lead, and Get Things Done Across Cultures. New York: Public Aff.

Mochari I. 2014. The case for hierarchy. Inc.com, Jan. 15.

Mulgan T. 2011. Ethics for a Broken World: Imagining Philosophy after Catastrophe. Montreal, Can.: McGill-Queen’s Univ. Press

Nisbett RE. 2003. The Geography of Thought: How Asians and Westerners Think Differently…and Why. New York: Free Press

Pettit P. 2013. Meritocratic representation. See Bell & Li 2013, pp. 138–60

Pines Y. 2013. Between merit and pedigree: evolution of the concept of “elevating the worthy” in pre-Imperial China. See Bell & Li 2013, pp. 161–202

Puett M. 2014. Ritual disjunctions: ghosts, philosophy, and anthropology. In The Ground Between: Anthropologists Engage Philosophy, ed. V Das, MD Jackson, A Kleinman, B Singh, pp. 218–33. Durham, NC: Duke Univ. Press

Rachman G. 2016. Easternisation: War and Peace in the Asian Century. London: Bodley Head

Rawls J. 1999. A Theory of Justice. Cambridge, MA: Belknap Press

Shanahan M. 2015. The Technological Singularity. Cambridge, MA: MIT Press

Shi T. 2015. The Cultural Logic of Politics in Mainland China and Taiwan. Cambridge, UK: Cambridge Univ. Press

Shin DC. 2011. Confucianism and Democratization in East Asia. Cambridge, UK: Cambridge Univ. Press
Shin DC. 2013. How East Asians view meritocracy: a Confucian perspective. See Bell & Li 2013, pp. 259–87
Singer P. 1973. Animal liberation. New York Rev. Books, Apr. 5

Singer P, Dawn K. 2016. Harambe the gorilla dies, meat-eaters grieve. Op-Ed. Los Angeles Times, June 5

Skorupski J. 2013. The liberal critique of democracy. See Bell & Li 2013, pp. 116–37

Sun YS. 1994. Prescriptions for Saving China: Selected Writings of Sun Yan-sen, ed. J Wei, R Myers, D Gillin; Transl. J Wei, E Zen, L Chao. Stanford, CA: Hoover Inst. Press

Tan SH. 2004. Confucian Democracy: A Deweyan Reconstruction. Albany, NY: State Univ. New York Press

Taylor M. 1996. Good government: on hierarchy, social capital, and the limitations of rational choice theory. J. Polit. Philos. 4(1):1–28

Thaler RH, Sunstein CR. 2009. Nudge: Improving Decisions about Health, Wealth, and Happiness. New York: Penguin

Tiwald J. 2012. Xunzi on moral expertise. Dao 11(3):275–93

von Vacano D. 2015. The scope of comparative political theory. Annu. Rev. Polit. Sci. 18:465–80

Walzer M. 1983. Spheres of Justice: A Defense of Pluralism and Equality. Oxford: Basil Blackwell

Walzer M. 1994. Thick and Thin: Moral Argument at Home and Abroad. Notre Dame, IN: Univ. Notre Dame Press

Wong DB. 2011. Agon and H ́e: contest and harmony. In Ethics in Early China: An Anthology, ed. C Fraser, D Robins, T O’Leary, pp. 197–216. Hong Kong: Hong Kong Univ. Press

Xiao H, Li C. 2013. China’s meritocratic examinations and the ideal of virtuous talents. See Bell & Li 2013, pp. 340–62

Yan X. 2011. Ancient Chinese Thought, Modern Chinese Power, ed. DA Bell, Z Sun, Transl. E Ryden. Princeton, NJ: Princeton Univ. Press

Yan Y. 2002. Unbalanced reciprocity: asymmetrical gift giving and social hierarchy in rural China. In The Question of the Gift: Essays Across Disciplines, ed. M Osteen, pp. 67–84. London: Routledge
Yao Y. 2013. The disinterested government: an interpretation of China’s economic success in the reform era. In Achieving Development Success: Strategies and Lessons from the Developing World, ed. AK Fosu, pp. 152–75. Oxford, UK: Oxford Univ. Press

Yearley LH. 1990. Mencius and Aquinas: Theories of Virtue and Conceptions of Courage. Albany, NY: State Univ. New York Press

Zhang T. 2014. Social hierarchies and the formation of customary property law in pre-industrial China and England. Am. J. Comp. Law 62:171–210

Zheng Y. 2010. The Chinese Communist Party as Organizational Emperor: Culture, Reproduction and Transformation. London: Routledge

Zitek EM, Tiedens LZ. 2012. The fluency of social hierarchy: the ease with which hierarchical relationships are seen, remembered, learned, and liked. J. Pers. Soc. Psychol. 102(1):98–115

 

 

 

 

 

 

 

 

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2023

Sự từ bỏ Truyền thống Thượng hiền (Trọng dụng Hiền tài) trong Khổng giáo Hiện đại

Thomas Fröhlich

Người dịch: Hà Hữu Nga

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

Các cách tiếp cận “Khổng giáo và Dân chủ”

“Dân chủ và Khổng giáo” đã được thảo luận trong gần suốt thế kỷ XX. Không có gì đáng ngạc nhiên là có rất nhiều khái niệm khác nhau về “Khổng giáo”, thường phụ thuộc vào các chủ đích chính trị của một tác giả. Về các khái niệm dân chủ, tôi tin là sẽ thật sự chắc chắn khi nói một cách khái quát rằng các mô hình dân chủ tự do phương Tây đã là những mô hình ưu thống. Nhưng những căng thẳng giữa chủ nghĩa tự do và dân chủ hiếm được đề cập và tình hình cũng hệt như vậy đối với cái gọi là các khái niệm vật chất của dân chủ, trong truyền thống Rousseau, là cái luôn cố lý giải căn cước của những kẻ trị vì và các thần dân của họ. Không đi sâu thêm vào định nghĩa, chúng ta có thể phác hoạ ba giai đoạn thảo luận sôi nổi và thường đầy vấn đề còn phải tranh cãi về “Khổng giáo và Dân chủ”.  

(1) Từ giữa những năm 1910s đến giữa những năm 1930s (các sự kiện quan trọng trong lịch sử chính trị Trung Quốc trong đó có thất bại ngay từ đầu của chế độ đại nghị sau năm 1912; nền chính trị quân phiệt, Trung Quốc thống nhất dưới chế độ cai trị của Quốc Dân đảng; Nhật Bản bắt đầu xâm lược Trung Quốc):  Trong bối cảnh Trào lưu Văn hoá Mới, Khổng giáo được coi là kẻ thù ý thức hệ của nền dân chủ chính trị và chế độ cộng hoà.1 Mặt khác, Khổng giáo cũng được coi là một kho tư tưởng và thể chế Trung Quốc truyền thống hữu ích cho việc củng cố hoặc thậm chí cải thiện các mô hình dân chủ phương Tây.2

(2) Những năm 1950s-1960s (chế độ độc tài vô sản tại Cộng hoà Trung Quốc Cộng sản; thiết quân luật tại Đài Loan): sau khi rút về Đài Loan, chế độ Quốc Dân đảng đã cố xây dựng một hệ tư tưởng chính thức của mình – với ba nguyên tắc của Tôn Dật Tiên lấy con người làm cốt lõi – là cơ sở ý thức hệ của một nước “Trung Quốc Tự do” có vẻ dân chủ và đồng thời, như một bộ phận thống nhất của di sản Khổng giáo Trung Quốc.3 Trong các giới Khổng học hiện đại tha hương tại Hồng Kông và Đài Loan đã có một cuộc thảo luận về “Khổng giáo và Dân chủ” phê phán Khổng giáo bị Quốc Dân đảng công cụ hoá.4

(3) Từ những năm 1980s đến nay (hiện đại hoá kinh tế tại Cộng hoà Trung Quốc Cộng sản; phép màu kinh tế đã diễn ra tại các quốc gia những con hổ Đông Á, quá trình dân chủ hoá tại Đài Loan): các nhà Khổng học hiện đại thuộc các thế hệ trẻ hơn – trước hết là ở bên ngoài Trung Quốc lục địa, và từ những năm 1990s có cả ở nước Cộng hoà Trung Quốc Cộng sản – vẫn tiếp tục thảo luận đề tài về “Khổng giáo và Dân chủ”.5 Tương tự như vậy, những người “tân bảo thủ” Trung Quốc của những năm 1990s đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải xác lập một chủ nghĩa dân tộc Khổng giáo làm nền tảng cho nền dân chủ Trung Quốc tương lai.6

“Khổng giáo và Dân chủ” cũng được thảo luận tại các cuộc luận chiến về các giá trị châu Á. Trong bối cảnh này, nền dân chủ phương Tây thường được hiểu trong khuôn viên các giá trị và các nguyên tắc cơ bản, trong khi đó Khổng giáo, theo một lối khác, lại tỏ ra là một hệ thống các giá trị chính trị, xã hội, văn hoá và tôn giáo, với tư cách là một bộ tập quán xã hội, hoặc thậm chí là một loại khí chất Trung Quốc/Đông Á. Các lập luận bao gồm toàn bộ từ việc kết thành một khối Khổng giáo và dân chủ (Francis Fukuyama) đến tuyên bố về tính vô ước, không thể so sánh của chúng (Samuel Huntington).7 Chỉ có các nghiên cứu được định vị vào giao diện của các nghiên cứu về Trung Quốc học thuộc lĩnh vực các khoa học xã hội, và triết lý chính trị mới thể hiện mối quan hệ rất lỏng lẻo với các luận chiến về các giá trị châu Á. Theo truyền thống, các nghiên cứu này thường tập trung vào các nguồn Khổng giáo nào được coi là phù hợp với các lập luận triết học liên quan đến các tư tưởng dân chủ theo nghĩa rộng hơn, chẳng hạn như các khái niệm về tham gia chính trị, về nhân quyền, và về quyền công dân. Chúng phần lớn bao trùm toàn bộ các giai đoạn tiên Tần “cổ điển” trong tư tưởng Khổng giáo bằng cách rút ra các so sánh với triết học chính trị phương Tây, trải từ các nhà triết học Hy Lạp đến Rawls [John Bordley Rawls 1921-2002, nhà triết học Mỹ, một nhân vật hàng đầu về triết học đạo đức và chính trị, với kiệt tác Lý thuyết Công lý (1971), được coi là một trong những văn bản chủ yếu của triết học chính trị - ND*]. Nhìn chung các nghiên cứu này xem xét vấn đề về việc làm thế nào để đưa được các yếu tố của tư tưởng Khổng giáo vào các trào lưu triết học hoặc lý thuyết của các truyền thống dân chủ phương Tây hiện đại.8 Một con đường khác được các nhà nghiên cứu xây dựng bằng cách cố gắng đồng nhất văn hoá chính trị Khổng giáo và các thể chế tôn giáo và chính trị Khổng giáo liên quan đến các tư tưởng và các thể chế dân chủ phương Tây.9

Không nhất thiết phải nói rằng trong các đoạn được đề cập ở trên, chúng ta phát hiện một cách phổ biến việc chia tách các khái niệm về Khổng giáo và về dân chủ. Nhưng vẫn có sự đồng thuận tối thiểu về một phán đoán: nền dân chủ với hệ thống nghị viện ngay cả theo nghĩa rộng nhất thì vẫn không tạo hình được tại đế chế Trung Quốc, và khi nó thực hiện được (sau cuộc các mạng Tân Hợi năm 1911) thì ảnh hưởng của các truyền thống hiến pháp và dân  chủ phương Tây đã có tác động lớn hơn rất nhiều. Xác quyết lịch sử có vẻ tầm thường này đã đưa đến hai tập tư tưởng về việc làm thế nào để đạt đến các khuôn khổ dân chủ tự do dựa trên nền tảng của Khổng giáo. Cả hai tập khái niệm đều có mối quan hệ chặt chẽ với các lý thuyết hiện đại hoá: tập thứ nhất bao gồm các giả định đặc thù về hiện đại hoá nhấn mạnh đến tính độc đáo văn hoá của tính hiện đại chính trị Trung Quốc. Nếu nền dân chủ tự do được chấp nhận là một lựa chọn hiện đại hoá mang tính Trung Quốc thì chỉ sau khi các điều chỉnh thể chế đã được thực hiện. Vì vậy chúng ta phát hiện thấy thiết kế hiến pháp của Tôn Dật Tiên có bổ sung 監察院 Giám sát viện 考試院 Khảo thí viện cho các lực lượng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tương tự như vậy, trong các bài thuyết trình về 民權 dân quyền, Tôn Trung Sơn còn gợi ý ba nguyên tắc về dân (Tam dân) như một “giải pháp Trung Quốc” cho cái mà ông cho là vấn đề cơ bản của các nền dân chủ phương Tây: tình trạng thiếu niềm tin giữa chính phủ và người dân. “Giải pháp” của Tôn được rút ra chủ yếu dựa trên hai nguồn: trước hết là truyền thống tư tưởng Trung Quốc về hiền tài, và các thể chế làm nổi bật chính phủ dựa vào những kẻ tinh hoa, hiền tài. Dưới đây tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ khái niệm này. Nguồn thứ hai bao gồm chủ nghĩa tự do phương Tây của các thế kỷ XVIII và XIX với việc nhấn mạnh vào sự đại diện chính trị độc lập bởi giới tinh hoa và vào chế độ đầu phiếu giới hạn, nhờ đó mà kiểm soát sự tham gia chính trị rộng rãi, hạn chế quyền tối cao của dân chúng. Một cố gắng khác nhằm chuyển hoá các sắp xếp thể chế dân chủ có thể thấy rõ ở khuyến cáo năm 1992 của Lý Quang Diệu nhằm thay đổi luật bàu cử để đạt đến hiệu quả mà người dân trong những năm 1940s-1950s lẽ ra đã phải được bỏ phiếu đúp bằng cách phản ánh kinh nghiệm rộng rãi của họ trong việc phải chịu trách nhiệm về gia đình của mình, và vì vậy mà phải chịu trách nhiệm về khả năng cao hơn trong việc đưa ra các quyết định hợp lý.10 Ví dụ thứ ba được lấy ra từ trường hợp Trung Quốc lục địa, mà người ta có thể coi là “Khổng giáo chính trị” Giang Thanh. Giang Thanh coi các “tư tưởng dân chủ” chẳng hạn như “tự do, bình đẳng, nguyên tắc luật pháp, và quyền con người” điển hình là phương Tây và thay vào đó, bà ưa thích loại dân chủ chính trị Khổng giáo “bản chất” hơn, đảm bảo cho chất lượng đạo đức của cử tri và những người ứng cử.11 Tóm lại, có vẻ như các cách tiếp cận của Tôn Dật Tiên, Lý Quang Diệu và Giang Thanh, ở cấp độ thể chế, đã tạo ra các khuynh hướng ưu thống về một nền dân chủ tựa quyền uy, có hướng dẫn, còn ở cấp độ khái niệm và các chuẩn mực thì tương tự với các khuynh hướng mỹ học hoá chính trị bằng cách xác quyết giá trị văn hoá nội tại của một nền dân chủ “Khổng giáo”.  

Tập tư tưởng thứ hai về Khổng giáo và dân chủ tự do gắn liền với các lý thuyết hiện đại hoá thiên về các giả định đề của lý thuyết hội tụ và các yêu sách phổ quát luận. Quay trở lại với các lập luận lịch sử và kinh nghiệm chủ nghĩa, những người khởi xướng nhận thấy nền dân chủ tự do nói chung, là kết quả chính trị của quá trình hiện đại hoá kinh tế và chính trị thành công, kể cả quá trình hiện đại hoá của Trung Quốc. Vì vậy họ đã đưa các khía cạnh định chuẩn của dân chủ vào các lập lụân lý giải cho các khát vọng hiện đại hoá nói chung. Kết quả là một Trung Quốc phi dân chủ xuất hiện vừa như là một sự bất thường của tính hiện đại, hoặc như một triệu chứng của một quá trình hiện đại hoá không hoàn thành ở Trung Quốc. Cách tiếp cận này thường làm nảy sinh truy vấn về các nguyên do tại sao Trung Quốc lại thất bại trong việc phát triển chủ nghĩa hiến pháp và một nền dân chủ tự do vượt khỏi các nguồn truyền thống của mình – thiết kế truy vấn này có một điều gì đó có thể so sánh được với nghiên cứu của Max Weber về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản phương Tây và các nghiên cứu trái ngược có liên quan của ông về Trung Quốc Khổng giáo. Những dấu hiệu về cách tiếp cận này có thể thấy trong trào lưu Văn hoá Mới (chẳng hạn Trần Độc Tú, Hồ Thích) [陳独秀 Trần Độc Tú 1879-1942, nhà giáo dục, triết gia, chính khách, người sáng lập và tổng bí thư đầu tiên của Đảng cộng sản Trung Quốc; 胡適 Hồ Thích 1891-1962, triết gia, nhà ngoại giao, học giả, đặc biệt có công trong phong trào cải cách ngôn ngữ và phong trào tự do ở Trung Quốc ND*] với việc tập trung vào các yếu tố liên quan đến “văn hoá truyền thống Trung Quốc” đối với tính hiện đại. Các nhân vật sáng lập ra cách tiếp cận này có thể (trái ngược với Weber) cố gắng phát triển các kịch bản tiên lượng về hình hài của nền dân chủ ở Trung Quốc, nếu thực sự có dân chủ ở xứ này. Một cách tiếp cận như vậy dù có thể là Weberien hay không thì nó cũng vẫn bao gồm các giả định đề về tính vô ước cơ bản của Khổng giáo và dân chủ (trong bối cảnh này có thể trích dẫn Huntington).    

Còn có thể nhận thấy một lập trường trái ngược trong Khổng giáo hiện đại đương đại, chẳng hạn trong các công trình của 杜維明 Đỗ Duy Minh [Sinh 1940 tại Vân Nam, Giáo sư Triết học Trọn đời và Viện trưởng-sáng lập Viện Nghiên cứu Nhân văn Cao cấp Đại học Bắc Kinh, Giáo sư Triết học và Lịch sử Trung Quốc tại Harvard-Yenching, Giám đốc Viện Harvard-Yenching 1999-2008 ND*]. Đỗ cho rằng có một khả tính so sánh mở rộng Khổng giáo và dân chủ để nhào nặn thành một khái niệm “đa hiện đại tính”.12 Ông khẳng định rằng mặc dù truyền thống Khổng giáo không mở rộng dân chủ ra ngoài bản thân nó, nhưng một Khổng giáo tái diễn giải lại có thể được tích hợp vào các khái niệm dân chủ tự do mà không phải từ bỏ cả nền tảng siêu hình học (lẫn nhân học) của Khổng giáo, cũng như triết học đạo đức của nó. Về phương diện lý thuyết chính trị và xã hội Khổng giáo, Đỗ Duy Minh phân biệt dân chủ với các “đặc trưng Khổng giáo” trong thực tiễn Đông Á. Trong đó Khổng giáo được coi là bao gồm cả “chế độ thượng hiền quan liêu, chế độ tinh hoa giáo dục, và hệ thống xã hội duy tông phái”, tất cả đều tương hợp với dân chủ. Theo lý lẽ đó, các khái niệm về quyền cá nhân, quy luật tự nhiên, và tự do cá nhân thực sự vắng mặt trong Khổng giáo, nhưng chúng cũng có thể được tích hợp vào một nền dân chủ Khổng giáo tiến hoá không tự thân xuyên tạc Khổng giáo. Đỗ Duy Minh thậm chí còn tiến thêm một bước và tuyên rằng “các lý tưởng nhân cách Khổng giáo” sẽ được “hiện thực hoá đầy đủ hơn” trong một nền dân chủ tự do.13 Các triết gia Khổng giáo hiện đại của cái gọi là thế hệ thứ hai như Mưu Tông Tam [Mưu Tông Tam 牟宗三 (1909–1995) Triết gia Tân Khổng giáo Trung Quốc, chịu ảnh hưởng lớn bởi Immanuel Kant và Phật phái Thiên Thai, kiên định lập trường cho rằng dân chủ là một giá trị Trung Quốc truyền thống ND*] và Đường Quân Nghị [唐君毅 Đường Quân Nghị (1909 - 1978) chịu ảnh hưởng của Plato và Hegel cũng như tư tưởng Khổng giáo sớm, là một trong những người sáng lập Tân Khổng giáo với các công trình có ảnh hưởng lớn tại Hong Kong, Đài Loan và Hoa Kỳ ND*] cũng theo cùng một tuyến lập luận thuộc về tập tư tưởng thứ hai về Khổng giáo và dân chủ tự do. Rõ ràng họ đã lựa chọn một loại lý thuyết hiện đại hoá phổ quát luận, xác định dân chủ tự do là một yếu tố tích hợp của hiện đại hoá.14

Như một quá trình phổ quát rộng khắp thế giới, hiện đại hoá, theo Mâu Tông Tam và Đường Quân Nghị, phụ thuộc vào ảnh hưởng trực tiếp của các đầu vào định chuẩn và có tính động cơ, đầu tiên và trước hết là một nhận thức tập thể trong các xã hội đang hiện đại hoá về các mục tiêu của nó (tức là công nghiệp hoá, một nhà nước hiện đại, một xã hội mở và một nền dân chủ tự do) và về các nguồn lực chọn lựa xuất phát từ các quá trình hình thành văn hoá truyền thống. Về phương diện này Khổng giáo hiện đại vẫn khác biệt với lập trường kiên định của Weber về tác động quyết định nhưng gián tiếp của các yếu tố tinh thần đối với hiện đại hoá, như đã thấy trong tác động của đạo đức Tin lành đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Cái phân biệt rõ ràng Mưu Tông Tam và Đường Quân Nghị khỏi nhiều nhà xướng xuất Khổng giáo hiện đại khác là niềm tin của họ về các truyền thống chính trị Khổng giáo không thể vận hành như một động lực và định chuẩn tạo điều kiện cho sự tồn tại của một nền dân chủ tự do. Ngược lại với điều mà người ta chờ đợi, diễn giải “mới” của họ về Khổng giáo là “hiện đại” theo nghĩa nó thực sự giải chức năng hoá các yếu tố cốt lõi của tư tưởng chính trị Khổng giáo truyền thống. Mà tư tưởng này chủ yếu được coi là một trở ngại khi nó động chạm đến những câu hỏi liên quan tới cơ sở triết học của dân chủ tự do. Tôi cho rằng cả Mưu Tông Tam và Đường Quân Nghị đều cố đưa ra một biện minh về dân chủ, nhưng đến chung cục này, họ chỉ thực hiện chính việc sử dụng chọn lọc truyền thống Khổng giáo – chủ yếu là sử dụng các giả định đề siêu hình về nhân tính.  

Nhìn chung Khổng giáo hiện đại cho rằng nó cần phải cung cấp cho nền dân chủ chính trị Trung Quốc một sự biện minh bằng những khái niệm “triết học”, tức là một sự làm chứng siêu hình trong khuôn khổ nhân học chính trị, thậm chí đôi khi còn bao gồm cả các khái niệm về “Trời”. Trong bối cảnh này, việc tham khảo Richard Rorty, kẻ gợi hứng hai lối hợp sáng khác nhau của dân chủ và triết học, là có ý nghĩa chỉ dẫn. Với tư cách là một loại lý thuyết chính trị, Rorty đã xác định những lý thuyết nỗ lực cung cấp cho dân chủ tự do một sự biện minh triết học toàn diện. Những lý thuyết này, trong đó có cộng đồng luận, cho rằng các thể chế chính trị có thể, không có gì tốt hơn, là cơ sở triết học của nó. Loại lý thuyết khác được thể hiện bằng dụng pháp luận như cách hiểu của Dewey và bản thân Rorty vậy. Họ chối bỏ nhu cầu về các cơ sở triết học của dân chủ. Hầu hết họ đều thừa nhận rằng dân chủ có lẽ cần một loại khớp nối triết học nào đó. Lý thuyết gia dân chủ tự do, có thể nói như vậy, đặt chính trị lên trước hết rồi mới sắp đặt triết học tiếp theo.15 Khổng giáo hiện đại với các cơ sở nhân học và siêu hình của nó về dân chủ thuộc về loại hợp sáng triết học đầu tiên mà Rorty đã xác định. Điều này không thực sự gây ngạc nhiên, đối với tôi, dường như nó đã cho thấy một tý chút sử ký về dân chủ ở Trung Quốc. Ở đâu mà các triết gia Mỹ có thể lần trở lại lịch sử dài lâu của nền dân chủ như một nguồn hình thành sức mạnh phán quyết chính trị, thì các nhà Khổng học hiện đại thuộc thế hệ thứ hai đã phải tiên báo hầu như mọi thứ liên quan đến dân chủ tự do.16   

Tư tưởng chính trị Khổng giáo và Khái niệm Thượng hiền

Chương trình nghị sự của Mưu Tông Tam và Đường Quân Nghị phát triển một biện minh triết học về dân chủ cũng thể hiện rõ ràng trong diễn giải của họ về  dân chủ tự do như là một loại hình chính trị trong đó các lý tưởng Khổng giáo có thể được thực hiện một cách trung thực hơn trong các chính thể Trung Quốc cổ đại. Điều đáng nói là cả Mưu và Đường đều tập trung vào các khiếm khuyết nội tại của triết học (chính trị) Khổng giáo như là những nguyên nhân cho sự bất lực của Khổng giáo trong việc tự thân hoàn thiện, trong khi các nhân tố khác phải giải quyết với lịch sử chính trị Trung Quốc thì lại không được chú ý tương tự. Vì vậy Mưu và Đường đã lựa chọn các khái niệm cốt lõi của tư tưởng chính trị Khổng giáo, những thứ nên được loại bỏ nếu dân chủ tự do là cái mà người ta khát vọng. Trong phần tiếp theo tôi sẽ cố gắng phát triển thêm vấn đề này.

Trên hết, dường như có một điều gì đó mỉa mai rằng Mưu Tông Tam và Đường Quân Nghị thỉnh thoảng lại được coi như là các nhà truyền thống luận trung thành khi họ thực sự giữ một lập trường phê phán như vậy về các truyền thống chính trị Khổng giáo theo nghĩa khác, và không phải là đổi mới. Hơn nữa cách tiếp cận tông phái pháp tiềm năng dường như thích hợp hơn để mô tả nỗ lực lạc quan của các nhà Khổng học hiện đại ngày nay, những kẻ đang cố gắng phát hiện ra các khởi nguồn triết học của dân chủ tự do trong tư tưởng Khổng giáo truyền thống. Khi làm như vậy, họ luôn luôn phác hoạ Khổng giáo và đạo đức chính trị của nó trong khuôn viên của chế độ thượng hiền, trong khi cần giảm thiểu các căng thẳng vẫn tồn tại giữa dân chủ và chế độ thượng hiền. Chế độ thượng hiền có thể là một đặc điểm tồn tại lâu dài nhất trong tư tưởng chính trị Trung Quốc thuộc các thời tiền đế chế và đế chế. Nó có thể được phát hiện trong các truyền thống vượt xa khỏi phổ được lựa chọn một cách thông tục như một phổ Khổng học. Cốt lõi của nó trở nên nổi bật bởi tư tưởng về quyền lực cai trị là thuộc về những kẻ có năng lực và xứng đáng, đó là chế độ của bọn vua hiền tôi sáng. Các truyền thống thượng hiền có thể được nhận ra trong tư tưởng chính trị, nhưng chúng lại cũng hiện diện trong một vài thể chế đế chế kiên định nhất, chẳng hạn như hệ thống khoa cử và hệ thống kiểm duyệt. Điều đáng nói là Tôn Dật Tiên đã chọn thực hiện hai thể chế thượng hiền này, như đã đề cập, cho mô hình lập hiến dân chủ của ông.17   

Tồn tại một độ căng hệ tư tưởng thống tín giữa tầm nhìn thượng hiền trong việc lựa chọn những kẻ cai trị có năng lực và truyền thống kế thừa ngai vàng hoặc các vị trí trong chính phủ nói chung theo phương thức cha truyền con nối. Vì vậy, không phải là trùng hợp ngẫu nhiên khi thấy rằng lý tưởng thượng hiền Trung Quốc trong việc lựa chọn kẻ cai trị thường coi sự nhường ngôi giữa Nghiêu và Thuấn như là hệ mẫu chính thức của nó.18 Với tư cách hệ mẫu, lối cai trị thượng hiền tùy thuộc duy nhất vào đức hạnh và quyền uy cá nhân của kẻ cai trị, mà không tùy thuộc vào phương tiện quyền lực và tình thế ép buộc, vì vậy mà tùy thuộc vào quá trình tái tạo không ngừng cái “đức” tuân thủ tự nguyện của thần dân.19 Nói cách khác, nó ấn định sự tồn tại của một ý chí chính trị trên cao, hằng xuyên tập trung vào cái thiện chung cho tất cả.  Đến lượt mình, cái ý chí chính trị trên cao ấy lại tùy thuộc vào năng lực của kẻ cai trị trong việc kiểm soát các hoạt động của nền chính trị quyền lực, vào tính vị kỷ thiển cận (kể cả của bản thân kẻ trị vì) bằng các thước đo tự câu thúc (đạo đức) và/hoặc những câu thúc được thể chế hoá. [Trong đó tiêu biểu là 禮不下庶人, 刑不上大夫 Lễ bất hạ thứ nhân, hình bất thướng đại phu 禮記, 曲禮上 Lễ ký, Khúc lễ thượng ND*] Về phương diện tính chính thống, nó đòi hỏi, theo tư tưởng thượng hiền, kẻ mẫu mực về quyền uy và cái chính phủ hiệu quả cao của kẻ đó trợ giúp, đó chính là thứ bắt nguồn từ năng lực của họ trong việc nhận thức về cái thiện chung.20 Vì vậy, khái niệm thượng hiền chính thống lạm dụng cái thiện chung để buộc nó phải là một cái gì đó có thể được xác định ngay trong tầm tay, và sau đó hiện thực hoá nó bằng lối cai trị nhân đức. Vì vậy tính chính thống vừa xuất phát từ nhân cách quyền uy của kẻ trị vì, hoặc từ tính hợp lý cao của các trật tự được kẻ trị vì ban hành. Ngược lại với nền cảnh này, khái niệm đa nguyên luận phương Tây về cái thiện chung tạo hình bên trong sự đồng nhất của các lợi ích đặc thù luận vẫn còn là ngoại quốc đối với tư tưởng chính trị Trung Quốc mãi cho đến tận thế kỷ XX, và tương tự như vậy đối với giả định đề đa nguyên luận mà cái thiện chung chỉ có thể được hiểu một cách hậu thiên.21

Tư tưởng thượng hiền tạo ra các thể chế tinh hoa và một thái độ hoài nghi liên quan đến sự tham gia chính trị rộng rãi và quyền lực tối cao của người dân. Nhưng các đặc điểm này lại không phải là đặc biệt Trung Quốc, cũng không phải là đặc biệt phản dân chủ - độ căng giữa dân chủ và chủ nghĩa tự do như nó hiển nhiên trong chủ nghĩa tự do châu Âu tiền dân chủ của thế kỷ XVIII và XIX, nhưng lại là một kiểu mẫu về các khuynh hướng có thể so sánh trong tư tưởng chính trị châu Âu (là loại tư tưởng vốn có ảnh hướng đến tư tưởng chính trị Trung Quốc trong thế kỷ XX). Một mặt, rõ ràng là có những trào lưu tư tưởng phản dân chủ ở Trung Quốc là thứ đề cao tư tưởng thượng hiền đối với những kẻ trị vì có năng lực và đức hạnh chỉ dựa vào năng lực nhận ra và thực hiện được cái thiện chung. Các chủ trương độc tài trong những năm 1930s (nhưng cũng có một vài chủ trương dân chủ như Hồ Thích) cũng như những người xướng xuất chủ nghĩa độc đoán mới vào cuối những năm 1980s có thể được dẫn ra làm ví dụ. Rõ ràng quan niệm 民本 dân vi bản mang đậm dấu ấn tư tưởng thượng hiền, thường được gắn với tư tưởng Khổng giáo truyền thống, thiếu hẳn yếu tố cốt lõi của dân chủ tự do – đó là một khái niệm về tính chính thống (và công lý) có tính thủ tục.22

Trong cuốn sách 政道與治道 Chính đạo dữ Trị đạo (Chính đạo và Trị đạo) từ năm 1961, Mưu Tông Tam phân tích các hợp sáng của chế độ thượng hiền trong tư tưởng chính trị Khổng giáo – mặc dù không có tài liệu dẫn đối với “chế độ thượng hiền”.23 Ông làm như vậy bằng các thông số của khái niệm phổ quát luận của hiện đại hoá. Cuối cùng, Mưu quy vào chế độ 新外王 tân ngoại vương như là các mục tiêu quy định là cái “nên” được mọi 民族 dân tộc dựng lên, cụ thể là việc xác lập nền 民主政治 dân chủ chính trị, một xã hội mở và tiến bộ về phương diện khoa học.24 Dân chủ chính trị được Mưu xác định là yếu tố cốt lõi của chế độ tân ngoại vương của tính hiện đại. Mưu không phát triển một lý thuyết cụ thể về dân chủ chính trị trong Chính đạo và Trị đạo, thay vào đó, ông lại quy chiếu vào nền chính trị dân chủ lập hiến (立憲的民主政治 lập hiến đích dân chủ chính trị)25, hoặc dân chủ tự do (自由民主 tự do dân chủ)26 có cội rễ trong chế độ lập hiến và được tạo hình bởi các trào lưu tự do, bình đẳng, và quyền con người.27 Yếu tố quyết định đối với khái niệm tự do dân chủ của Mưu là thuật ngữ “chính đạo”, được thể hiện nổi bật ngay trong đầu đề của cuốn sách. Trong khi cái thuật ngữ có đôi chút mơ hồ này có lẽ được dịch là “đường lối cầm quyền”, thì nó lại thực sự cho thấy hình thức cầm quyền lập hiến về phương diện chính trị dựa vào một quan niệm về chủ quyền tối cao của người dân (hoặc chủ quyền tối cao của “dân tộc”).28    

Mưu Tông Tam cố gắng kiềm chế không thảo luận về các khía cạnh lý thuyết của khái niệm dân chủ (chẳng hạn như độ căng giữa quyền lực tối cao của người dân và chế độ hợp hiến), thay vào đó ông hỏi tại sao Trung Quốc, và đặc biệt là Khổng giáo, đã không phát triển được một nền dân chủ chính trị. Thủ phạm thường xuyên – tư tưởng pháp trị – không thể hiện nổi bật trong phân tích của Mưu. Các thể chế chính trị đế chế không được hình dung như là kết quả tự nhiên của các tư tưởng pháp trị, mà được coi là có chứa đựng một dấu ấn Khổng giáo đáng kể.29 Xung lực chính trong lập luận của Mưu gồm có hai điểm tương liên nhau: 1) thiếu tư duy khái niệm (Begriffsdenken) trong triết học chính trị Trung Quốc truyền thống30, cản trở sự phát triển của tư tưởng hiến pháp; 2) thiếu sự phân biệt khái niệm giữa chính trị và đạo đức. Điểm đầu tiên, những thiếu hụt trong tư duy khái niệm – nghe có vẻ Hegelien, đó không phải là trùng hợp ngẫu nhiên. Mặc dù Mưu Tông Tam không phải là một Hegelien theo nghĩa chấp nhận chủ thuyết duy tâm tuyệt đối của Hegel và các khái niệm của nó về cái tuyệt đối, hoặc về cái Weltgeist tinh thần thế giới, ông vẫn chấp nhận các yếu tố lịch sử triết học trong khuôn khổ các khái niệm và các phương pháp. Vì vậy ông phân tích sự vắng mặt của tư tưởng khái niệm trong Khổng giáo cổ điển và sử dụng khái niệm quyền lực chính trị (政權 chính quyền) để minh hoạ cho phép chẩn đoán này. Quyền lực chính trị, căn cứ vào 本性 bản tính của nó, một “hiện hữu tĩnh” (靜態的實有 tĩnh thái đích thật hữu) và một “hiện hữu hằng xuyên” (定常之有 định thường chi hữu). Với tư cách là một hiện hữu tĩnh, Mưu giải thích, quyền lực chính trị không thể được chuyển hoá thành một cái gì đó giống như một đối tượng vật lý để có thể nhấc lên và đem đi được. Với tư cách là một hiện hữu hằng xuyên, nó được đặc trưng về phương diện khái niệm bằng một xác quyết nội tại đối với liên tục tính. Quyền lực chính trị không thể đơn giản bị xoá bỏ khỏi nhân quyển vì nó bao gồm “sức mạnh điều chỉnh” luôn luôn là hiện tại về các “công vụ” trong một sự “thống nhất quốc gia”.31 Vì vậy nó vẫn còn bị lúng túng trong mâu thuẫn tự thân chừng nào nó còn gắn liền một cách riêng rẽ với các hữu tử cụ thể chẳng hạn như các gia đình (quí tộc), các thị tộc, hoặc các cá nhân như các vị vua và hoàng đế là người nắm được nó bằng sức mạnh hoặc trao truyền nó bằng cách kế thừa triều đại hoặc bằng các cấu trúc của các thị tộc có thể bị đứt đoạn ngay lập tức. Theo Mưu, tình trạng tự mâu thuẫn rõ ràng ấy giữa khái niệm và hiện thực lịch sử của quyền lực chính trị vẫn còn chưa được nhận thức rõ ở Trung Quốc cổ đại – vì các giá trị của khái niệm hiền, tức là của các triết gia Khổng giáo, và tính bất lực trong tư duy khái niệm.32 Kết quả là họ không bao giờ hiểu được một trật tự hiến pháp lại đảm bảo chính thức được cho cái “hiện hữu hằng xuyên” của quyền lực chính trị bằng cách tách nó ra khỏi sự khao khát quyền lực của các cá nhân và các thị tộc hùng mạnh.33   

Mưu thừa nhận rằng các nhà Khổng học cũ đôi khi ganh đua nhau về quyền lực, nhưng khi làm như vậy, họ chỉ viện đến “nội thánh” tính, tức là đạo đức, vì vậy mà việc coi chính quyền, tức là “ngoại vương” như là một sự mở rộng trực tiếp của “nội thánh”, để từ đó đúc kết thành chính trị và đạo đức. Vì chính trị và loại hình chính trị (ngoại vương) được hiểu một cách đơn độc là sự mở rộng trực tiếp của đạo đức, nên chúng không chỉ không bao giờ đạt đến được loại hình trưởng thành của chúng (với tư cách là chính phủ lập hiến), mà còn rõ ràng tạo ra các kết quả ngược lại với các mục tiêu đạo đức của “nội thánh”. Chính xác thì trở ngại đối với con đường dân chủ tự do này, và cuối cùng là đối với tính hiện đại, là thứ mà Mưu xác định là “vấn đề quyết định của văn hoá và lịch sử Trung Quốc”.34 Khi Mưu Tông Tam xác định “tân ngoại vương” là yếu tố trung tâm của sứ mệnh của Khổng giáo đương đại thì rõ ràng là ông đã từ bỏ các ý tưởng Khổng giáo về sự cai trị, và không có ý tưởng đổi mới nào. Việc giới thiệu dân chủ chính trị và chính quyền lập hiến cùng với sự phân biệt khái niệm chính trị và đạo đức (lẫn khoa học) về phương diện khái niệm, thì mâu thuẫn với các quan niệm Khổng giáo cai trị. Nếu chúng ta theo lập luận của Mưu Tông Tam trong một phạm vi lớn của triết học lịch sử của ông thì có vẻ như đó chỉ là hiện nay, trong thế kỷ XX này thì mâu thuẫn giữa Khổng giáo truyền thống và dân chủ chính trị cũng như các mâu thuẫn trong bản thân Khổng giáo truyền thống (giữa chính trị và đạo đức) cuối cùng có thể cũng được hiểu một cách chính xác – cụ thể là trong Khổng giáo hiện đại đương đại và ưu thế tư duy khái niệm của nó. Để sử dụng thuật ngữ Hegelien, Mưu dường như hiểu tư duy chính trị Khổng giáo truyền thống là chính đề, dân chủ chính trị và chế độ lập hiến phương Tây là phản đề biện chứng của nó, còn “tân ngoại vương” của Khổng giáo hiện đại là hợp đề. Cuối cùng Mưu xác quyết rằng duy tâm luận Khổng giáo (儒家的想主義 Nho gia đích lý tưởng chủ nghĩa) không bao giờ tự thể hiện một cách toàn diện về chính trị và chỉ có thể làm như vậy vào thời đại ngày nay vì có đưa vào “tân ngoại vương”, tức là khoa học và dân chủ.35 Nói cách khác, các khái niệm Khổng giáo về hành chính và đạo đức cần có dân chủ chính trị để đạt tới hiện thực hoá xa hơn, là cái mà đến lượt mình, “củng cố” và “tô điểm” cho dân chủ.36 Mưu vẫn mơ hồ về điểm này, nhưng có vẻ như ông đã hiểu được cái “tân ngoại vương” của Khổng giáo hiện đại là một loại hợp đề chính trị. Khi “tân ngoại vương” thể hiện như là thực tính của hiện đại hoá, và vì vậy mà như là nhiệm vụ cốt lõi của Khổng giáo hiện đại, thì Mưu Tông Tam lại không đả động gì đến tính cần thiết có một “tân” nội thánh. Điều này đã chiếu rọi thêm ánh sáng vào công trình tái cấu trúc Khổng giáo của ông. Việc biện minh cho sự tái cấu trúc này có nguồn gốc từ khái niệm hiện đại tính đề cao sự khác biệt của các quyển độc lập về đạo đức, chính trị và khoa học.37 Vì vậy bất kỳ diễn giải hiện đại nào về truyền thống Khổng giáo cũng đều phải theo con đường phân biệt các quyển, và vì vậy mà xác lập các khác biệt khái niệm giữa các khía cạnh chính trị, đạo đức và tri thức luận của Khổng giáo. Ngược lại, tư duy chính trị truyền thống của Khổng giáo đã đạt đến cùng đích của nó trong hiện đại tính, còn Mưu thì hiểu triết học đạo đức Khổng giáo như là một thời khắc của sự Aufhebung thủ tiêu hiện đại chính bản thân mình – vì vậy mà không còn “tân” nội thánh trong Khổng giáo hiện đại.  

Đối với Mưu Tông Tam, không có gì phải nghi ngờ rằng trong khuôn viên các thể chế và tư tưởng chính trị thì dan chủ chính trị không có căn nguyên trong xã hội Trung Quốc truyền thống. Không có gì đáng phải ngạc nhiên là ông cố kiềm chế các nỗ lực xác định một hạch tâm dân chủ Trung Quốc và kiên nhẫn tìm kiếm tư duy hiến pháp, các tư tưởng về quyền con người, chế độ nghị viện, quyền tối cao của người dân hoặc bình đẳng chính trị trong quá khứ Trung Quốc. Dù sao thì ông cũng vẫn coi dân chủ chính trị là một nhu cầu vốn có củ Khổng giáo. Nhưng đây không phải là mâu thuẫn trong suy tư của ông về Khổng giáo và dân chủ, vì ông phân biệt rất rõ ràng giữa dân chủ chính trị và cái gọi là dân chủ quan liêu (“dân chủ của quyền lực hành chính” 治權之民主 trị quyền chi dân chủ).38 Vì vậy ông khẳng định rằng trong khi dân chủ chính trị thực sự vắng mặt tại Trung Quốc thì lại có một truyền thống lâu đời và phong phú về dân chủ quan liêu tích hợp một nhu cầu (khái niệm) cho đến nay vẫn còn ẩn giấu cho dân chủ chính trị.39 Điều mà Mưu Tông Tam muốn nói bằng khái niệm dân chủ quan liêu, hoặc lối mòn quan liêu (治道 trị đạo) hoàn toàn tương đương một cách chính xác với các tư tưởng và thể chế thượng hiền truyền thống của Trung Quốc. Mưu mô tả cung cách Nghiêu nhường ngôi cho Thuấn như là hiện thân cho cái lý tưởng chính trị cao cả nhất của Khổng tử và Mạnh tử, vì nó nhất quan với các tiêu chí về phẩm hạnh, sự xứng đáng, và năng lực cá nhân trong việc xử lý các sự vụ đời sống.   

Vấn đề chân lý lịch sử là không thích hợp cho 準則 chuẩn tắc này, là cái phản hiện thực trong thời Khổng tử và Mạnh tử, khi việc truyền ngôi trong 封建貴族政治 (phong kiến quý tộc chính trị) chính giới quý tộc phong kiến vẫn đang thực sự theo huyết thống.40 Vẫn tiếp tục về sau, trong đế chế Trung Quốc, lý tưởng chính trị 德治 đức trị Khổng giáo khoác lên mình cái hình thức kết hợp một 聖君 thánh quân, với một 賢相 hiền tướng.41 Vì quyền lực quan liêu (không phải là chính trị), nói một cách lý tưởng là 開放 khai phóng theo nghĩa để mở cho sự cạnh tranh nảy sinh ra “những kẻ xứng đáng được lựa chọn và những kẻ có khả năng được cất nhắc”, Mưu xác định cái hợp sáng thượng hiền này là dân chủ quan liêu.42 Mặc dù dân chủ quan liêu đạt tới hiện thân cao nhất của nó trong xã hội Trung Quốc cổ đại, thậm chí sau đó nó còn không bao giờ vượt lên hình thức chính trị “chủ quan”, vì nó, trên hết, phụ thuộc riêng rẽ vào ý chí của hoàng đế để bảo chứng cho nó.43 Một loại hình dân chủ quan liêu khách quan chỉ có thể đạt được bằng cách tách rời quyền lực chính trị và quyền lực quan liêu. Nhưng đó có lẽ lại là nhiệm vụ của một chính phủ lập hiến. Vì “lối mòn cai trị” này không tồn tại trong xã hội Trung Quốc cổ đại, nên dân chủ quan liêu không bao giờ được bảo chứng một cách “khách quan”, mà thay vào đó nó được bao gồm trong chế độ 君主政治 quân chủ chính trị. Vì vậy động thái tác động đạo đức đối với các hoàng đế với hy vọng kích thích thiện chí của họ vẫn là một phần thiết yếu của các nỗ lực chính trị của các nhân cách lớn của Khổng giáo.44    

Nhìn chung điều mà Mưu Tông Tam quan tâm lại không phải là một sự hợp nhất thuần tuý của chế độ thượng hiền truyền thống (dân chủ quan liêu) và nguyên tắc hiến pháp (dân chủ chính trị), hoặc một sự bổ sung đơn giản của chế độ thượng hiền bởi chế độ dân chủ chính trị. Tư duy thượng hiền do ông dựng lên như đã trở thành vướng víu bởi các quan niệm về một điều thiện chung có trước, và về nguyên tắc độc đoán nhắm vào sự quy phục tuyệt đối và “tự nguyện” đối với kẻ thánh quân cai trị. Các đặc điểm này, đặc biệt là đặc điểm thứ hai, có thể dễ dàng va chạm với các giả định đề cơ bản của nền dân chủ hiến pháp và sự nhấn mạnh của nó vào tính chính thống về phương diện trình tự. Mưu Tông Tam không thảo luận chi tiết về vấn đề này, nhưng, rất đáng ngờ là ông lại lảng tránh việc đúc kết thành những quan niệm về chế độ thượng hiền 民本 “dân bản” bằng tư duy dân chủ. Mới đây Dư Anh Thời, tương tự như vậy, đã chỉ ra các mâu thuẫn giữa các truyền thống “đức trị” Trung Quốc và quan niệm về “pháp trị” theo quan niệm của dân chủ tự do phương Tây.45  

Sự phủ định các truyền thống thượng hiền trong tư duy chính trị của Mưu Tông Tam đã có một khía cạnh khái niệm thậm chí còn cơ bản hơn. Trong khi dân chủ quan liêu tồn tại trong xã hội Trung Quốc cổ đại thì lại thiếu đi một nền dân chủ chính trị. Khác biệt này bám chặt trong diễn giải của Mưu về Trung Quốc truyền thống chỉ biết đến hành chính kiểu lại trị, mà không có 政治 chính trị.46 Trong lý giải của mình, Mưu đã hiểu một cách rõ ràng “chính trị” là cai trị bằng hiến pháp.47 Nhưng quan niệm của ông về chính trị (với tư cách là một quyển cộng đồng) vẫn còn nhiều mơ hồ: Trong khi “chính trị” với tư cách là cai trị về hiến pháp vắng mặt trong thực tiễn lịch sử Trung Quốc cổ đại thì quyền lực chính trị rõ ràng có tồn tại nếu chúng ta theo cách diễn giải của Mưu. Khi Mưu lý giải thêm về điều mà ông muốn nói bằng cách nói chỉ có lại trị ở Trung Quốc, chứ không phải là chính trị thì ông quy về độc quyền của hoàng đế đối với quyền ra quyết định là thứ mà đến lượt mình đã tạo ra toàn bộ chính quyền đế chế dưới quyền hoàng đế được quy giản thành các hoạt động thuần tuý quan liêu.48 Dường như là Mưu hiểu “chính trị” theo nghĩa Aristotlien, tức là một quá trình thương thảo, hợp tác và ra quyết định đa nguyên do các cá nhân tự do và bình đẳng thực hiện trong một quyển – thành bang – tự do khỏi (chuyên quyền) sự thống trị (là thứ diễn ra theo sơ đồ Aristotlien, trong quyển hộ gia đình, nơi mà các “kẻ chuyên quyền” trị vì). Vì vậy Mưu kết luận rằng chính trị đạt được một ý nghĩa “khách quan” ở Trung Quốc chỉ sau khi các nhà pháp trị đàn áp các gia đình quý tộc, là những kẻ tạo điều kiện thuận lợi cho sự giải phóng của kẻ “đứng đầu nhà nước” và sự chuyển hoá của “giai tầng sĩ” khỏi thân phận nô bộc hộ gia đình quý tộc thành những kẻ giữ vai trò chủ đạo về phương diện chính trị.49 Có lẽ cần đến một bước phát triển thêm để hiện thực hoá toàn bộ ý nghĩa của chính trị ở Trung Quốc – cụ thể là sự đảm bảo về mặt hiến pháp cho việc ra quyết định của các cá nhân tự do và bình đẳng. Mưu rõ ràng đã nhận ra các hệ quả của một quá độ như vậy, cụ thể là sự từ bỏ quan niệm về 天命 mệnh Trời như là một cơ sở siêu hình học của chế độ thượng hiền Trung Quốc.50 Nếu điều đó xảy ra thì hoàn toàn một sự hiểu khác hẳn về quyển chính trị lẽ ra đã đạt được tại Trung Quốc một cách tốt đẹp trước năm 1911.

Theo sự hiểu biết của tôi, cho đến cuối thế kỷ XX vẫn không có nhiều nhà tư tưởng chính trị Trung Quốc đề xuất được một nghi ngờ cơ bản như Mưu Tông Tam đã làm được khi nó bắt đầu áp dụng các khái niệm chính trị học phương Tây và các khái niệm chính trị phương Tây vào việc diễn giải tư tưởng “chính trị” và lịch sử Trung Quốc. Có điều đáng nói là cái đầu đề cuốn sách của Mưu Chính đạo dữ trị đạo nhắc chúng ta nhớ lại rằng cụm từ Trung Quốc hiện đại 政治 chính trị để chỉ chính trị học (và chính trị), là một cụm từ mượn của Nhật Bản từ thế kỷ XIX. Trong các văn bản Trung Quốc cổ đại không có cụm từ chính trị theo nghĩa phương Tây của khái niệm chính trị học, vì chính đạo và trị đạo là hai khái niệm khác nhau. Nếu hoặc bằng cách nào đó lý thuyết dân chủ đương đại có thể đạt được từ một sự pha trộn với tư duy chính trị Khổng giáo hiện đại thì điều đó vẫn còn là một vấn đề. Mưu Tông Tam và Đường Quân Nghị nếu có thể với tư cách là người phê phán tư duy chính trị Khổng giáo truyền thống thì họ vẫn phải cố gắng để chứng minh khái niệm dân chủ của họ bằng các giả định đề nhân học/siêu hình học. Trên hết, tư tưởng chính trị của họ có thể được mô tả là một loại định chuẩn luận, và nó có thể chứng tỏ là thực sự thách thức trong việc kết nối nó với các cách tiếp cận kinh nghiệm chủ nghĩa của các khoa học xã hội. Mặt khác, như tôi đã cố gắng chỉ rõ, việc nghiên cứu về lịch sử tư tưởng chính trị nói chung, và về Khổng giáo nói riêng, có thể đạt được các kích thích tố vươn xa từ Khổng giáo hiện đại của thế hệ thứ hai.   

___________________________________________________

Tác giả: Thomas Fröhlich, Giáo sư, Khoa Trung Quốc học, Đại học Friedrich-Alexander-University Erlangen-Nuremberg, Cộng hoà Liên bang Đức.

Nguồn: The Abandonment of Chinese Meritocratic Traditions in Modern Confucianism. The 11th Symposium on Confucianism & Buddhism Communication and Philosophy of Culture (CBC 2008) Political Philosophy in East and West 2008/03/29.

Ghi chú

1. Chẳng hạn trong 陳獨秀 Trần Độc Tú, “新青罪案之答辯書 Tân thanh niên tội án chi đáp biện thư”. 獨秀文存 Độc Tú văn tồn. Tr. 361-362.

2. Zhang Junmai, chẳng hạn, đã nhấn mạnh truyền thống Khổng giáo liên quan đến sự phát triển các phẩm chất công dân mà ông hiểu là một tài sản cần thiết cho việc xây dựng quốc gia, và kết quả là dân chủ: Trương Quân Mại.  學術界之方向與學者之責任. Học thuật giới chi phương hướng dữ học giả chi trách nhiệm”, tr. 203, 224. Các xác quyết cải thiện dân chủ phương Tây thông qua truyền thống Khổng giáo có thừa trong hệ tư tưởng cánh hữu KMT (chẳng hạn trong phong trào đời sống mới củ những năm 1930s), và cũng có trong tư tưởng của Tôn Dật Tiên.

3. Trung Quốc văn hóa hiệp hội (ed.). Trung Quốc văn hóa phục hưng vận động, tr. 5-7; Chun, “From Nationalism to Nationalizing”, pp. 138-141.

4. Tôi sẽ thảo luận về các tư tưởng của Mưu Tông Tam về chủ đề này dưới đây. Lập trường của Đường Quân Nghị trong nhiều phương diện rất gần với lập trường của Mưu. Tôi đã thảo luận về tư tưởng dân chủ của Đường ở một bài viết khác, và tôi cũng sẽ làm như vậy một cách chi tiết hơn trong một cuốn sách sắp xuất bản về triết học chính trị của Đường; xem. Fröhlich, “Tang Junyi, Max Weber und die Mächte des Dämonischen”. Tuyên ngôn Khổng giáo hiện đại nổi tiếng năm 1958 nhìn chung nhất quán với tư tưởng dân chủ của Đường và Mưu. Sau đó Xu Fuguan cũng xác định tư tưởng chính trị Trung Quốc, ngoại trừ trường hợp pháp gia – vì giữ nguyên tắc 民本主義 dân bản chủ nghĩa, là thứ mà ông hiểu “dân” là một loại “thần dân chính trị”: Xu, Trung Quốc đích trị đạo, p. 224. 

5. Xem Jiang, Chính trị Nho học. Các khuynh hướng tương tự có thể thấy trong CCP ca ngợi truyền thống “dân chủ” như trong cái gọi là tư tưởng 民本 dân bản: Ôn Gia Bảo tổng lý luận Hoàng Tông Hy tư tưởng đích thân bút tín, p. 5.

6. 功秦 Tiêu Công Tần. 与政治浪漫主 Dữ chính trị lãng mạn chủ nghĩa cáo biệt. Wuhan, 2000, tr. 229

7. Fukuyama, “Confucianism and Democracy”; Huntington, “Democracy’s Third Wave”, pp. 15, 18, 21.

8. Không thể đánh giá đầy đủ được thư mục để nghiên cứu lĩnh vực này trong một ghi chú. Để làm ví dụ, tôi chỉ đề cập đến một số đầu đề: Tan, Confucian Democracy; He, Nho gia chính trị triết học đích tiền cảnh; Jang, A Confucian Deliberation on Ralws’s Liberal Conception of International Justice; Jin, Trung Quốc dân bản tư tưởng sử; Murthy, The Democratic Potential of Confucian Minben Thought; Hall, Democracy of the Dead.

9. Cf. Bell, Confucianism for the Modern World.

10. Heinz, “Vom Mythos der‚ Asiatischen Werte”, pp. 60-61.

11. Jiang, Chính trị Nho học, pp. 22-23, 283-284, 366-368. Confucianism: a Brief Discussion on the Outlines on Tang Junyi’s Political Thought, pp. 274-278.

12. Đỗ, “Đa hiện đại tính – Các vấn đề liên quan đến sự trỗi dậy của Đông Á “Khổng giáo”. Lý thuyết của Đỗ Duy Minh về đa hiện đại tính, đối với tôi dường như, có các mối liên quan mang tính phổ quát luận: Mặc dù nó đề cao một quan niệm về các quá trình hình thành đặc trưng về phương diện văn hoá của tính hiện đại, vì vậy “các hiện đại tính” trong tính đa nguyên rõ ràng thể hiện sự tồn tại của các hệ thống giá trị hội tụ trong các hiện đại tính phương Tây và phương Đông, vì vậy mà thiên về một chương trình nghị sự về hiện đại tính bao gồm các khái niệm phương Tây về dân chủ, xã hội mở, tiến bộ khoa học v.v…  

13. Đỗ “Đa hiện đại tính – Các vấn đề liên quan đến sự trỗi dậy của Đông Á “Khổng giáo”, tr. 70-71. Khái niệm dân chủ tự do như một loại hình chính trị tạo thuận lợi cho việc thực hiện các lý tưởng Khổng giáo cũng có thể thấy trong tư tưởng của Mưu Tông Tam và Đường Quân Nghị; xem dưới đây.  

14. Zhang, Trung Quốc văn hoá dữ sự nghiệp, pp. 32-33, 35-36. Đường “Tái cấu trúc Khổng giáo và Hiện đại hoá của châu Á”, tr. 361. Đối với Đường Quân Nghị, dân chủ tự do và các loại hình hiện đại của tổ chức xã hội là các đặc điểm của một mô hình phổ quát về một nhà nước hiện đại. Nhưng Đường vẫn hình dung các loại hình tổ chức xã hội Trung Quốc truyền thống (không nhất thiết là Khổng giáo) với đặc trưng cộng đồng như là các yếu tố củng cố cho xã hội hiện đại: Đường, Trung Quốc nhân văn tinh thần chi phát triển, tr. 193, 206-209. Tôi đã thảo luận về khái niệm của Đường Quân Nghị về tính hiện đại trong: Chủ nghĩa yêu nước về văn hoá và Tôn giáo Công dân trong hiện đại”  

15. Rorty, “Der Vorrang der Demokratie vor der Philosophie”, p. 82. Về các thành viên công xã đang được bàn đến, Rorty quy vào Robert Bellah, Alasdair McIntyre, Michael Sandel, Charles Taylor, và Roberto Unger giai đoạn sớm; ibid, pp. 85-86. Tiểu luận của Rorty chủ yếu đề cập đến Theory of Justice and his “Justice as Fairness: Political not Metaphysical” (1985) của Ralws. Còn có thể thấy một khác biệt về lý thuyết chính trị có cái gì đó tương tự với Rorty trong cuốn sách của Ernst Vollrath Grundlegung einer philosophischen Theorie des Politischen, mặc dù trong một bối cảnh khác, cụ thể là trong việc so sánh sự phát triển lý thuyết chính trị của khối Anh – Mỹ và Đức bằng cách giải thích vị thế tương quan của lịch sử chính trị và triết học chính trị trong đó. Phân tích của Vollrath không quy về Rorty mà quy về nỗ lực của Hannah Arendt trong việc phát triển một khái niệm về khả năng điều chỉnh chính trị vượt khỏi diễn giải thuộc phê phán thứ ba của Kant.

16. Có lẽ có thêm lý do để phân tích về tư tưởng chính trị Khổng tử hiện đại bằng một viễn cảnh công xã. Mặc khác, diễn giải của Rorty về dụng pháp Dewey khác biệt cơ bản với các tiếp cận công xã, có thể có vấn đề trong việc rút ra các tương đồng giữa tư tưởng dân chủ Khổng giáo và một Dewey “công xã”, như Tan Sor-hong đã thực hiện. Xem Tan, Confucian Democracy, p. 14.

17. Để có thêm phân tích thượng hiền trong tư tưởng của Hoàng Tông Hy và Tôn Dật Tiên, xem Fröhlich, “Vom Zugang zu Machthabern: Macht und Autorität im politischen Denken Chinas”.

18. Xem các chương liên quan trong 書經 Kinh thư (“堯典” Nghiêu điển, “舜典” Thuấn điển, “大禹謀” Đại Vũ Mô). Đặc biệt tư tưởng Khổng giáo có rất nhiều quy chiếu đến việc thừa kế các nhân vật trị vì huyền thoại này.

19. Các tư liệu tham khảo được chọn lựa kỹ sau đây có thể gợi ý đến sự kiên định tư tưởng này trong các học phái tư tưởng khác nhau và trải trong một thời gian dài: Luận ngữ XII.19; 孟子 Mạnh tử IIA.5, VIIA.12; 荀子 Tuân tử 9.17, 9.19a; 陸賈 Lục Giả, 新語 Tân Ngữ, chương 4 (無為 Vô vi); 淮南子 Hoài Nam Tử, chương (“主術訓” Chủ thuật huấn); 近思錄 Cận tư lục, VIII.4.

20. Các tham khảo chọn lọc: Lụân ngữ XII.22; 孟子 Mạnh tử IA.7; IIA.3, IIA.4; 荀子 Tuân tử 12.8a, 12.9, 23.3a; 韓非子 Hàn Phi tử, I.5; 管子 Quản tử, chương “牧民” Mục dân (về 11 huấn điều); 陸賈 Lục gia, 新語 Tân ngữ, chương 4 (無為 Vô vi); 淮南子 Hoài Nam tử, chương 9 (“主術訓” Chủ thuật huấn); 近思錄 Cận tư lục, VIII.5; 黃宗 Hoàng Tông Hy, 明夷待訪錄 Minh Di đãi phóng lục, chương 1-5.

21. Fraenkel, Deutschland und die westlichen Demokratien, pp. 300-301.

22. Theo Ambrose Y.C. King, Tư tưởng dân bản là một truyền thống riêng của Khổng giáo đã tồn tại trong 書經 Kinh thư, Ngũ tử chi khả, cho đến Tôn Dật Tiên. King cho là đã có sự tồn tại của các mầm mống dân chủ trong tư tưởng dân bản (của dân, cho dân, nhưng không có bởi dân): King, “Confucianism, Modernity, and Asian Democracy”, pp. 172-173. Yang Qingqiu, khác thế, lại coi tư tưởng dân bản là gắn bó với chế độ quân chủ, vì vậy mà không hề có khái niệm quyền của người dân: Yang, Dân chủ dữ dân bản, tr. 160-162, 165-168.

23. Về đề tài này, xem cuốn sách của ông 史哲學 Triết học Lịch sử năm 1962.

24. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 15-16, 21 (Giới thiệu lần biên tập mới).

25. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 1

26. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 32.

27. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 16 (Giới thiệu lần biên tập mới).

28. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 21, 23-24. Mưu dứt khoát coi “chính đạo” là “chính phủ hiến pháp” (憲法軌道 Hiến pháp quỹ đạo)” (tr. 24).

29. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 29.

30. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 9.

31. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 5-6, 9, 19. Rất cần phải lưu ý rằng Mưu đã liên hệ quyền lực chính trị với dân tộc. Ông cũng viết chi tiết về mối quan hệ này khi ông tiên đoán rằng chừng nào dân tộc còn tồn tại thì quyền lực chính trị cũng vẫn tồn tại. Vì vậy quyền lực chính trị “phải” là vĩnh viễn, vì nó trực tiếp gắn với sự tồn tại của một quốc gia riêng. Theo Mưu, việc xây dựng một dân tộc vững mạnh không phải là một vấn đề quyền lực thông thường, mà là việc để mở một “lý tưởng đạo đức phổ quát” và liên quan đến một “vấn đề về ý chí đạo đức ở một cấp độ cao”;  ibid, p. 20.

32. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 9-12 Mưu liệt kê những người “sáng giá” thông thường đã thấy như Tuân Tử (là người được Mưu coi là đến gần với tư duy khái niệm), Khổng tử, Mạnh tử, Hà Hưu, các nhà Tân Khổng học thuộc phái Lý học, Vương Phù Chi.

33. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 21-24.

34. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 23-24.

35. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 6 (Giới thiệu lần biên tập mới); xem thêm bản chính tr. 22.

36. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 32. Lưu Quốc Cường hiểu rằng Mưu nói Trung Quốc cổ đại thiếu một “khái niệm dân chủ” được xác định rõ ràng, nhưng lại không biết “nội dung và ý nghĩa của dân chủ” (tức là dân tính, đức trị): Lưu, “Độc ‘Chính đạo dữ trị đạo”, p. 41. Theo quan điểm của tôi thì diễn giải của Lưu đã bỏ mất vấn đề trong kết luận của Mưu Tông Tam là tư duy khái niệm không tồn tại trong triết học chính trị Trung Quốc. Lưu không đánh giá đúng khái niệm “Hegel hoá” của Mưu về tư duy khái niệm bằng cách gợi ý rằng “khái niệm” có thể được hiểu riêng trong khuôn viên của nội dung và việc mở rộng. Đối với Mưu, chính trị học hiến pháp, nguyên tắc luật pháp, v.v…không thuần tuý là “hình thức” hoặc “những mở rộng”, mà cần phải được hiểu là các hệ quả (“các khách thể hoá”) nghiêm chỉnh của khái niệm quyền lực chính trị. Vì vậy, vấn đề then chốt của dân chủ hiện đại tại Trung Quốc không phải là vấn đề phát hiện những mở rộng chính trị mới đối với các nội dung đạo đức cũ về dân tính và đức trị. Không ở đâu Mưu quy giản dân chủ chính trị thành nội dung đạo đức.     

37. Cũng có thể xem Tuyên ngôn về vấn đề này: Zhang, Trung Quốc Văn hoá dữ Thế giới, tr. 32-33, 35-36. Tầm quan trong phổ quát mà Mưu Tông Tam gán cho sự khác biệt của chính trị và đạo đức có thể thấy, chẳng hạn trong sự độc đáo của các phẩm chất chính trị, đạo đức, và tôn giáo: Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 1-2.

38. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 10. Chắc chắn Mưu biết rằng các thuật ngữ “chính quyền”, và “trị quyền” được đề cập rõ ràng và nổi bật trong Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên, trong đó “chính quyền” thuộc về quyền bầu cử, trưng cầu dân ý, quyền được giáo dục về luật pháp và quyền bãi miễn chính phủ; và “trị quyền” thuộc về 5 cơ quan quyền lực trong kế hoạch lập hiến của Tôn Dật Tiên: viện lập pháp, viện hành pháp, viện tư pháp, viện kiểm soát, và viện khảo thí. Tôn, Tam dân chủ nghĩa, tr. 119. Tam dân chủ nghĩa, “chính quyền” và “trị quyền”.

39. Mưu đã thảo lụân điều này khá dài trong cuốn Triết học Lịch sử của ông và với một hình thức súc tích hơn trong: Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, xem ở dưới.

40. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 6 (Giới thiệu lần biên tập mới), tr. 12; xem thêm chính bản: tr. 3, 22.

41. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 30. Như Mưu Tông Tam đã nhấn mạnh, các tư tưởng thượng hiền như vậy không chỉ là của Khổng giáo, mà có thể thấy cả trong Đạo giáo và Pháp gia: ibid, tr.25. Mưu phân biệt lý tưởng chính trị Khổng giáo tối hậu về 大同 đại đồng, mà ông coi là hiện thân trong sự nhường ngôi của Nghiêu và Thuấn, với lý tưởng cao cả thứ hai, 王道 vương đạo. Theo Mưu, vương đạo cũng chính là sự cai trị của hiền nhân trong giai đoạn Tam Đại và tư tưởng chính trị Khổng giáo thống trị trong đế chế Trung Quốc. Nó nhấn mạnh khả năng của kẻ cai trị trong việc thực hiện một điều thiện chung bao gồm phúc lợi của các thần dân và việc hiện thực hoá 正德 chính đức.

42. Mưu trích dẫn từ Lễ vận, chương Lễ ký: Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 22, 24. Hệ mẫu của việc tuân thủ tự nguyện của thần dân đối với uy quyền của kẻ cai trị khôn ngoan và sáng giá, là một yếu tố trung tâm của tư tưởng thượng hiền Trung Quốc, cũng xuất hiện trong mô tả về “dân chủ” quan liêu truyền thống: ibid, pp. 26, 32.

43. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 25-26.

44. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 11, 22, 24, 30, 32.

45. Theo Yu Yingshi, thì Khổng giáo cần chấm dứt là một “lực lượng chính trị thống trị” trong một nền dân chủ tự do ở Trung Quốc, nhưng có thể có hình thức của một “học thuyết toàn diện” (rõ ràng là nói đến Rawls). Yu thấy một sự quá độ như vậy ở Đài Loan” Yü, “Tư tưởng Dân chủ và Xế bóng Văn hoá Tinh hoa ở Trung Quốc Hiện đại”, tr. 208. Có thể thấy một lập luận tương tự trong “Khổng giáo, Hiện đại tính, và Dân chủ Châu Á” của King, tr. 174-175.

46. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 1. Mưu lặp lại phân tích này nhiều năm sau đó trong: Mưu, Trung Quốc triết học thập cửu giảng tr. 179.

47. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 22-23.

48. Mưu, Trung Quốc triết học thập cửu giảng tr. 179.

49. Mưu, Trung Quốc triết học thập cửu giảng tr.180.

50. Mưu, Chính đạo dữ trị đạo, tr. 4.

Reference

Bell, Daniel A.; Hahm Chaibong (ed.). Confucianism for the Modern World. Cambridge, 2003.

Chen Duxiu 陳獨秀 Trần Độc Tú. “新青罪案之答辯書 Tân Thanh niên tội án chi đáp biện thư”. 獨秀文存 Độc Tú văn tồn. 2 vols. Chen Duxiu. Hong Kong, 1965 (Shanghai, 1922), vol. 1, pp. 361-363. (This article was first published in Tân Thanh niên, vol. 6, no. 1 [15.1.1919]).

Chun, Allen. “From Nationalism to Nationalizing: Cultural Imagination and State Formation in Postwar Taiwan”. Chinese Nationalism. Unger, Jonathan (ed.). Armonk, NY et al, 1996, pp. 126-147.

Fraenkel, Ernst. Deutschland und die westlichen Demokratien. Mit einem Nachwort über Leben und Werk Ernst Fraenkels. Herausgegeben von Alexander v. Brünneck. Erw. Ausg., 1. Aufl. Frankfurt am Main, 1990 (1964).

Fröhlich, Thomas. “Cultural Patriotism and Civil Religion in Modern Confucianism: a Brief Discussion on the Outlines on Tang Junyi’s Political Thought”. 儒学联合会 Quốc tế Nho học liên hợp hội; 单纯 Đan Thuần (ed.). 儒学研究 Quốc tế Nho học nghiên cứu. International Confucian Studies, No. 14, 2005 2005 高峰论坛专 Niên Cao phong luận đàn chiên tập. Beijing, 2006, pp. 271-300.

Fröhlich, Thomas. “Tang Junyi, Max Weber und die Mächte des Dämonischen. Zum Politikverständnis eines modernen Konfuzianers”. Asiatische Studien / Etudes Asiatiques, vol. LVII, no. 4 (2003), pp. 813-848.

Fröhlich, Thomas. “Vom Zugang zu Machthabern: Macht und Autorität im politischen Denken Chinas”.

Han-Zeit. Festschrift für Hans Stumpfeldt aus Anlass seines 65. Geburtstages. Michael Friedrich (ed.).Wiesbaden, 2006, pp. 41-56.

Fukuyama, Francis. “Confucianism and Democracy”. Journal of Democracy, vol. 6, no. 2 (April 1995), pp.20-33.

Hall, David L.; Roger T. Ames. Democracy of the Dead. Dewey, Confucius, and the Hope for Democracy in China. La Salle, 1999.

He Xinquan 何信全 Hà Tín Toàn. 儒家政治哲學的前景: 從當代自由主義與社群主義爭脈絡的 考察”. 傳統中華文化與現代價的激蕩與調容. “Nho gia chính trị triết học đích tiền cảnh: tòng đương đại tự do chủ nghĩa dữ xã quần chủ nghĩa luận tranh mạch lạc đích khảo sát”. Truyền thống Trung Hoa văn hóa dữ hiện đại giá trị đích kích đãng dữ điều dung.. Huang Junjie 黃俊傑 Hoàng Tuấn Kiệt (ed.). 2 vols. Taibei, 2002, vol. 1, pp. 207-228.

Heinz, Wolfgang S., "Vom Mythos der Asiatischen Werte’“. Menschenrechte in Ostasien. Zum Streit um die Universalität einer Idee II. Gunter Schubert (ed.). Tübingen, 1999, pp. 53-73.

Huntington, Samuel P. “Democracy’s Third Wave”. The Global Resurgence of Democracy. Larry Dimond, Marc F. Plattner (ed.). 2nd edition. Baltimore, 1996.

Jang Dong-jin. “A Confucian Deliberation on Ralws’s Liberal Conception of International Justice”. Sungkyun Journal of East Asian Studies, vol. 4, no. 1 (Feb. 2004), pp. 133-155.

Jiang Qing 蒋庆 Tương Khánh. 政治儒学。当代儒学的转向,特质与发展. Chính trị Nho học. Đương đại nho học đích chuyển hướng, đặc chất dữ phát triển. Beijing, 2003.

Jin Yaoji 耀基 Kim Diệu Cơ (Ambrose Y.C. King). 中國民本思想史. Trung Quốc dân bản tư tưởng sử. Tabei, 1993 (1964).

Jin Yaoji 耀基 Kim Diệu Cơ (Ambrose Y.C. King). Confucianism, Modernity, and Asian Democracy. In Justice and Democracy. Ron Bontekoe, Marietta Stephaniants (ed.). Honolulu, 1997, pp. 163-179.

Liu Guoqiang 國強 Lưu Quốc Cường. 政道與治道 Độc Chính đạo dữ trị đạo. E Hu Yuekan. A Monthly for Philosophy, Culture and Other Studies, Especially concerning Chinese Subjects 鵝湖月刊 Nga Hồ nguyệt san, vol.9, no. 8 (Feb. 1979), pp. 37-42.

Mou Zongsan 牟宗三 Mưu Tông Tam. 政道與治道 Chính đạo dữ trị đạo. Revised new edition. Taibei, 1991 (Taibei,1961).

Mou Zongsan 牟宗三 Mưu Tông Tam. 中國哲學十九講. 中國哲學之簡述及其涵蘊之問題. Trung Quốc triết học thập cửu giảng. Trung Quốc triết học chi giản thuật cập kì hàm uẩn chi vấn đề. 9th edition, .Taibei, 2002 (1983), pp. 179-201.

Murthy, Viren. “The Democratic Potential of Confucian Minben Thought”. Asian Philosophy (Nottingham), vol. 10, no. 1 (2000), pp. 33-48.

Rorty, Richard. “Der Vorrang der Demokratie vor der Philosophie.“ Solidarität oder Objektivität? Drei philosophische Essays. Aus dem Englischen übersetzt von Joachim Schulte. Stuttgart, 1988, pp. 82-125. (“The Priority of Democracy to Philosophy”; unpublished typescript).

Sun Yat-sen 孫中山 Tôn Trung Sơn. 三民主義 Tam dân chủ nghĩa. 國父全集 Quốc phụ toàn tập. 3 vols. 學術著編纂委員會 Học thuật luận trứ biên toản ủy viên hội (ed.). Taibei, 1965, vol. 1 (1924).

Tan Sor-Hoon. Confucian Democracy. A Deweyan Reconstruction. New York, 2003.

Tang Junyi. “The Reconstruction of Confucianism and the Modernization of Asia”. Report of International Conference on the Problems of Modernization in Asia (July 1965, Seoul). 英文著匯編. 唐君毅全集卷十九 Anh văn luận trứ hối biên. Đường Quân Nghị toàn tập quyển thập cửu, vol. 19. Taibei, 1988, pp. 361-371.

Tang Junyi 唐君毅 Đường Quân Nghị. 中國人文精神之發展. 唐君毅全集卷. Trung Quốc nhân văn tinh thần chi phát triển. Đường Quân Nghị toàn tập quyển lục, vol. 6. Taibei, 2000 (1989). (Hongkong, 1957).

Tu Wei-ming. “Multiple Modernities – Implications of the Rise of ›Confucian‹ East Asia.” Chinese Ethics in a Global Context: Moral Bases of Contemporary Societies. Karl-Heinz Pohl, Anselm W. Müller (ed.). Leiden, Boston, 2002, pp. 55-77.

Vollrath, Ernst. Grundlegung einer philosophischen Theorie des Politischen. Würzburg, 1987.

Wen Jiabao 温家宝 Ôn Gia Bảo. “总理论黄宗羲思想的亲笔信” “Tổng lí luận Hoàng Tông Hi tư tưởng đích thân bút tín”. Bắc Kinh nhật báo. Lí luận chu khán. 北京日报 Bắc Kinh nhật báo. 理论周刊 Theory Weekly (19.9.2005), p. 5.

Xiao Gongqin 萧功秦 Tiêu Công Tần. 与政治浪漫主义告别 Dữ chính trị lãng mạn chủ nghĩa cáo biệt. Wuhan, 2000.

Xu Fuguan 徐复觀 Từ Phục Quan. “中國的治道 Trung Quốc đích trị đạo”. 儒家政治思想與民主自由人權 Nho gia chính trị tư tưởng dữ dân chủ tự do nhân quyền. Taibei, 1988, pp. 221-248. Democratic Critique 民主評論 Dân chủ bình luận, vol. 4, no. 9 [1.5.1953]).

Yang Qingqiu Dương Khánh Cầu. 楊慶球. 民主與民本 Dân chủ dữ dân bản. 克與黄宗羲的政治 教思想. Lạc khắc dữ Hoàng Tông Hi đích chính trị cập tôn giáo tư tưởng. Hong Kong, 2005.

Yü, Ying-shih. “The Idea of Democracy and the Twilight of the Elite Culture in Modern China”. Justice and Democracy. Ron Bontekoe, Marietta Stephaniants (ed.). Honolulu, 1997, pp. 199-215.

Zhang Junmai 張君勱 Trương Quân Mại, 唐君毅 Đường Quân Nghị, 徐复觀 Từ Phục Quan, 牟宗三 Mưu Tông Tam. 中國文化與世界 Trung Quốc văn hoá dữ thế giới (A Declaration to the World for Chinese Culture). Hong Kong, 1958. (First published as 為中國文化敬告世界人士宣言我們對中國學術研究及中國文化與世界文化前途之共同認” Vi Trung Quốc văn hóa kính cáo thế giới nhân sĩ tuyên ngôn– ngã môn đối Trung Quốc học thuật nghiên cứu cập Trung Quốc văn hóa dữ thế giới văn hóa tiền đồ chi cộng đồng nhận thức. Democratic Critique 民主評 Dân chủ bình luận, vol. 9, no. 1 [1.1.1958], pp. 2-21).

Zhang Junmai 張君勱 Trương Quân Mại.  學術界之方向與學者之責任. Học thuật giới chi phương hướng dữ học giả chi trách nhiệm”.

Zhang Junmai 張君勱集 Trương Quân Mại tập. Huang Kejian, Wu Xiaolong (ed.). Beijing, 1993, pp. 201-233. (This article was first published in: 再生 Tái sinh [Beijing], vol. 3, no. 2, 3 [1.11.1933, 1.12.1933]).

Zhongguo wenhua xiehui, Trung Quốc văn hóa hiệp hội (ed.) 中國文化協會 (ed.).中國文化興運動. 考資. Trung Quốc văn hóa hiệp hội (ed.). Trung Quốc văn hóa phục hưng vận động. Tham khảo tư liệu. 1967, pp. 4-8.