Powered By Blogger

Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2025

Kinh tế học Phật giáo - Trung đạo trong Thương trường (III)

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Ven. P.A. Payutto

Người dịch: Hà Hữu Nga

Xung đột và Hài hòa

Trong cuộc cạnh tranh cho những dục vọng mù lòa và vô minh của mình, con người đã không sáng tỏ được cái gì là lợi lạc chân chính và cái gì là lậu hoặc trong cuộc đời mình. Họ không biết được cái gì dẫn họ tới lợi lạc, cái gì cuốn họ vào vòng xoáy lậu hoặc. Chìm đắm trong vô minh, con người chỉ có thể nuôi dưỡng các dục vọng của mình. Trong gắng gỏi tuyệt vọng đó, con người đôi khi vẫn sáng tạo ra không ít lợi lạc, nhưng đôi khi họ lại hủy hoại các lợi lạc đó. Nếu có tạo ra được các lợi lạc thì đó cũng chỉ là ngẫu nhiên so với mục đích chính yếu của họ, còn trong hầu hết các trường hợp, để thỏa mãn dục vọng, người ta gây hại vô số cho cuộc sống. Vì tranh giành nhau, và tranh giành thế giới xung quanh mình để thỏa mãn các dục vọng, con người đã tạo ra sự xung đột liên miên với chính mình, với các xã hội của mình, và với cả môi trường tự nhiên. Có những xung đột về lợi ích; một cuộc sống bị vô minh dẫn dắt thì chứa đầy bất hòa và xung đột.

Nếu có bất cứ điều gì đối với bản chất của con người cần phải xem xét dưới góc độ kinh tế thì đó chính là việc con người không quá khác biệt với các loài động vật mà thậm chí có lẽ còn xấu hơn vì chúng ta đặc biệt có tài trong việc theo đuổi các hành vi có hại cho sự thịnh vượng chân chính của thế giới. Rất may là con người còn có nhiều phẩm chất khác nữa. Phật giáo dạy rằng con người có khả năng thiên bẩm để phát triển. Trong khi Phật giáo chấp nhận một thực tế là con người luôn luôn khát khao chiếm hữu ngoại giới thì nó cũng thừa nhận rằng con người còn khát khao đối với chất lượng cuộc sống hoặc sự thịnh vượng chân chính, khát vọng tự hoàn thiện và vươn tới cái thiện. Điều đó chỉ xuất hiện khi cuộc sống đã thoát khỏi vô minh, tránh được sự cám dỗ của dục vọng. Các vấn đề dục vọng của con người có thể được giải quyết bằng cách vươn tới tri thức. Vì vậy sự phát triển của con người thực sự gắn chặt với sự phát triển của tri thức. Trong Phật giáo, loại tri thức đó được gọi là Bát Nhã (pañña) - Tuệ.

Khi vô minh được thay bằng tuệ thì người ta có thể phân biệt được cái gì là lợi lạc chân chính, cái gì không. Trong ánh sáng của Tuệ, các dục vọng sẽ tự nhiên trở thành khát vọng đem lại lợi lạc. Trong Phật giáo khát vọng đạt tới lợi lạc chân chính được gọi là dhammachanda (Pháp dục – khát vọng chân chính), kusalachanda (Thiện dục), hoặc nói một cách ngắn gọn là chanda.

Mục tiêu của chandadhamma (Pháp) hoặc kusaladhamma (Thiện xảo pháp), chân lý và cái thiện. Chân, thiện phải đạt được thông qua sự nỗ lực hành trì, vì vậy chanda hướng tới hành động, đối lập với tanha hướng tới tìm kiếm. Chanda hiện khởi từ yoniso-manasikara (tuệ quán), cũng đối lập với tanha là một phần của dòng phản ứng vô minh tiềm thức.

Tóm lại:

1. Tanha được dẫn dắt hướng tới cảm xúc; nó dẫn người ta tới tìm kiếm các đối tượng để cố thỏa mãn các lợi ích của bản thân và bị vô minh đưa dẫn.

2. Chanda được dẫn dắt hướng tới lợi lạc, dẫn tới nỗ lực và hành động, và được đặt cơ sở trong nội quán.

Khi trí huệ thăng tiến, chanda bắt đầu chiếm ưu thế trong khi dục vọng vô minh của tanhan mất đi sức mạnh của nó. Bằng tu tập và tự tinh tiến, chúng ta ngày càng bớt vô minh và tanha ngày càng chịu sự kiểm soát của trí huệ và chanda. Điều đó dẫn đến một cuộc sống thiện xảo hơn, tinh tiến hơn và mối quan hệ với ngoại giới càng trở nên gắn bó.

Với trí huệ và chanda, chúng ta không còn nhìn cuộc sống bằng nhãn kiến xung đột lợi ích nữa. Thay vào đó, chúng ta không ngừng làm cho cuộc sống trở nên hài hòa hơn giữa lợi ích của cá nhân con người, lợi ích của xã hội với lợi ích của tự nhiên. Xung đột lợi ích trở thành hài hòa lợi ích. Điều đó trở thành hiện thực bởi vì cuối cùng một cuộc sống lợi lạc thực sự chỉ có thể thành tựu khi cá nhân, xã hội và môi trường phục vụ lẫn nhau. Nếu có xung đột giữa bất cứ quyển nào thì kết quả sẽ là những vấn đề xảy ra cho tất cả các quyển đó.

Đạo đức và hai loại dục

Như chúng ta đã thấy, Phật giáo thừa nhận có hai loại nhu cầu khác nhau: 1) tanha, là loại dục vọng đối với những sự vật thoả mãn khoái lạc 2) chanda, là loại khát vọng thoả mãn niềm vui, hạnh phuc đích thực. Tanha dựa vào sự mê muội, trong khi đó chanda dựa vào trí tuệ và vì vậy nó là một phần của tiến trình giải quyết vấn đề.

Cả tanhachanda đều dẫn đến sự thoả mãn, nhưng là những loại thoả mãn khác nhau. Khi đưa ra ví dụ về hành động ăn, con người bị dẫn dắt bởi tanha sẽ tìm cách để thoả mãn sự thèm muốn khoái lạc cảm giác mà trong trường hợp này là sự thèm muốn về vị giác. Ở đây sự thoả mãn nảy sinh từ việc trải nghiệm mùi vị của thức ăn. Nhưng khi được hướng dẫn bởi chanda, thì các thèm khát được định hướng để tạo ra sức khoẻ. Chúng ta không bị bắt buộc phải ăn quá no nê, hoặc ăn những loại thức ăn khiến cho chúng ta phát ngấy vì vị ngon của nó. Thay vào đó, chúng ta ăn để thoả mãn cơn đói và để nuôi cơ thể. Ở đây trạng thái thoả mãn nảy sinh từ niềm tin chắc rằng cơ thể khoẻ mạnh nhờ ăn uống. Chúng ta thưởng thức món ăn nhưng không phải theo cách dẫn đến hối hận, ăn năn.

Chanda dẫn đến hiệu quả và hành động dựa trên tri thức và tư duy rõ ràng. Ngược lại tanha dẫn đến việc kiếm tìm mù quáng dựa trên vô minh. Cả hai loại dục vọng nội tại này đều thúc đẩy hành vi, nhưng với những hệ quả đạo đức hoàn toàn khác biệt nhau. Trong Phật giáo, giá trị đạo đức của hành vi có thể được xét đoán bằng việc nó được thúc đẩy bởi tanha (trên bề mặt) hay chanda (trong nội tâm) và bởi vô minh hay trí huệ. Khi xem xét giá trị đạo đức của hành vi kinh tế, chúng ta phải xác định loại trạng thái tinh thần nào thúc đẩy nó. Khi lòng tham (tanha) điều khiển các quyết định kinh tế thì về phương diện đạo đức hành vi có khuynh hướng vụng về. Nhưng nếu khát vọng được chanda hạnh phúc thúc đẩy thì về phương diện đạo đức, hành vi mang tính khôn ngoan. Bằng cách định giá hành vi kinh tế theo cách đó, chúng ta nhận ra các trạng thái tinh thần, hành vi đạo đức và hành động kinh tế gắn chặt với các mối quan hệ nhân quả.

Đối với một Phật tử, hành vi kinh tế phải là phương tiện cho một cuộc sống lương thiện. Sản xuất và tiêu thụ và những hành vi kinh tế khác không phải là những cứu cánh tự thân; chúng chỉ là phương tiện và cứu cánh phải đến là sự phát triển của hạnh phúc bên trong mỗi cá nhân, bên trong mỗi xã hội và bên trong mỗi môi trường.

Trái ngược với quan niệm sai lầm cho rằng Phật giáo chỉ dành cho những kẻ thoát ly cuộc sống, các Phật tử thừa nhận rằng đạt tới sự thịnh vượng là một trong những hành vi cơ bản của cuộc sống, và Đức Phật đã dạy nhiều về con đường đúng đắn để đạt được sự thịnh vượng. Nhưng chúng ta luôn luôn nhấn mạnh rằng mục đích của sự thịnh vượng là tạo điều kiện cho sự phát triển tiềm năng con người một cách cao nhất. Trong Phật giáo có nói tới ba cái đích trong cuộc sống: sự khởi đầu, trung đích và cái đích tối hậu. Cái đích khởi đầu là sự thuận lợi về vật chất một cách hợp lý và an ninh về kinh tế. Tuy nhiên an ninh vật chất chỉ là một nền tảng cho hai cái đích trừu tượng hơn và cao hơn - đó là sự an lạc tinh thần và trạng thái giải thoát.

Hầu hết mỗi đời người đều dành cho công việc mưu sinh. Nếu kinh tế học có bất cứ vai trò nào có thể sắm được trong việc giải quyết vấn đề con người thì toàn bộ các hoạt động kinh tế – sản xuất, tiêu thụ, lao động và tiêu tiền phải đóng góp vào niềm an lạc và hiện thực hoá các tiềm năng cho một cuộc sống lương thiện và đầy đủ. Đó là thứ mà chúng ta có thể làm. Thực chất của kinh tế học Phật giáo nằm ở đây, trong việc đảm bảo rằng hành động kinh tế làm tăng tiến chất lượng cuộc sống của chúng ta.

Những cân nhắc đạo lý trong hoạt động kinh tế

Một nguyên tắc cơ bản của kinh tế học hiện đại là người ta sẽ chỉ đồng ý bỏ ra một cái gì đó khi họ có thể đổi lấy một cái gì khác mà họ cảm thấy công bằng hoặc thoả mãn. Nhưng nguyên tắc này chỉ cân nhắc sự thoả mãn xuất phát từ việc làm chủ các hàng hoá vật chất. Đôi khi chúng ta có thể trải nghiệm ý nghĩa thoả mãn bằng cách chia sẻ cái gì đó mà không hề nhận lại bất cứ cái gì hữu hình như khi bố mẹ cho con cái mình những món quà: vì tình yêu thương mà họ dành cho con cái, nên họ cảm thấy thoả mãn hơn cả việc họ nhận lại được một cái gì đó. Nếu con người có thể trải rộng tình yêu thương của mình đến tất cả những người khác chứ không phải là hạn chế nó trong phạm vi gia đình riêng của họ thì họ có thể chia sẻ những thứ gì đó mà không nhận lại bất cái gì, và cảm thấy thoả mãn hơn khi làm như vậy. Sự thoả mãn này không phải xuất phát từ khát vọng có được mọi vật để làm cho họ sướng khoái (tanha), mà từ một khát vọng đem lại hạnh phúc cho những người khác (chanda) [*].

Một nguyên tắc kinh tế khác khẳng định rằng giá trị của hàng hoá được xác định bởi nhu cầu. Nguyên tắc này được minh hoạ một cách kinh điển bằng câu truyện về hai người thuỷ thủ bị đắm tàu dạt lên một hoang đảo: một người có một bao gạo còn người kia thì có một trăm hạt chuỗi vàng. Thông thường chỉ cần một hạt chuỗi vàng là đủ, quá đủ để mua toàn bộ bao gạo. Nhưng giờ đây hai người đều nhận ra rằng họ đã bị mắc kẹt trên hòn đảo mà không có cách gì thoát ra được và không có gì đảm bảo rằng họ sẽ được cứu thoát khỏi hoang đảo. Vậy là giá trị của hàng hoá đã thay đổi. Giờ đây người có gạo có thể đòi tất cả một trăm hạt chuỗi vàng cho một phần gạo của anh ta, hoặc anh ta có thể từ chối trao đổi với bất cứ giá nào.

Tuy nhiên vấn đề đạo đức lại không xuất hiện trong cuộc thảo luận này. Các nhà kinh tế học có thể khẳng định rằng bản thân kinh tế học chỉ quan tâm đến nhu cầu, mà không quan tâm đến phẩm chất đạo đức của nó, nhưng thực tế thì những cân nhắc về phương diện đạo đức lại thực sự tác động đến cầu. Trong ví dụ hai người đàn ông đắm tàu còn có những khả năng khác bên cạnh việc trao đổi. Người có vàng có thể ăn trộm gạo khi chủ nó không để ý, hoặc anh ta có thể giết chết người kia để chiếm lấy toàn bộ bao gạo. Mặt khác, hai người cũng có thể trở thành bạn và giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ cho nhau cho đến những hạt gạo cuối cùng mà không hề nảy sinh nhu cầu mua bán ở đây.

Trong thực tiễn đời sống có thể xảy ra bất cứ trường hợp nào đó trong số các trường hợp trên. Các yếu tố như đạo đức cá nhân hoặc những loại tình cảm như lòng tham và nỗi khiếp sợ cũng có thể tác động đến kết quả kinh tế. Một nhu cầu không dừng lại ở tội ác hoặc hành vi ăn trộm sẽ nảy sinh những kết quả khác nhau từ người nhận ra những kiềm chế về mặt đạo đức.

Có một cách để đánh giá phẩm chất đạo đức của hoạt động kinh tế là nhìn vào các hiệu quả mà nó gây ra ở cả ba cấp: ở cấp độ tiêu dùng cá nhân; ở cấp độ xã hội và ở cấp độ môi trường. Chúng ta hãy trở lại ví dụ về cái chai whiskey và bữa cơm Tàu. Rõ ràng là mặc dù những giá cả thị trường của chúng có thể như nhau, nhưng các chi phí kinh tế lại không ngang bằng nhau. Chai whiskey có thể làm hại sức khoẻ của người uống, buộc anh ta phải chi tiền điều trị thuốc men. Nhà sản xuất whiskey có thể để cho mùi hôi thối của quá trình sản xuất bay vào không khí. Sự ô nhiễm này có những tác động trở lại về phương diện kinh tế, buộc chính phủ phải tiêu tốn các nguồn lực cho việc làm sạch môi trường. Hơn nữa một người uống và chịu đựng một dư vị khó chịu sẽ làm việc một cách thiếu hiệu quả, hoặc anh ta bị say và đâm xe, phải chịu những phí tốn kinh tế lớn hơn. Sau đó sinh ra những hiệu quả xã hội bất lợi: uống rượu có thể làm nảy sinh thêm tội ác, làm tổn hại thêm nhiều cho xã hội.

Dù có những vấn đề về đạo đức, nhưng tất cả họ đều có khía cạnh kinh tế. Họ ngụ ý về nhu cầu thiết yếu của việc nhìn vào các chi phí kinh tế trên một phạm vi rộng lớn hiện thời – không chỉ trong khuôn khổ của các mức giá cả thị trường. Ngày nay có một khuynh hướng tính cả các chi phí môi trường trong các bảng quyết toán kinh tế. Một số nhà kinh tế vẫn gộp chúng vào trong chi phí thành phẩm. Nhưng điều này là không đủ. Trong trường hợp chai whiskey, ngoại trừ các chi phí môi trường, vẫn còn các chi phí về xã hội, đạo đức và sức khoẻ – việc sản xuất không có hiệu quả, các tai nạn xe hơi, bệnh gan, tội ác – tất cả đều có những dính líu về phương diện kinh tế [**].

Một phương pháp thứ hai để đánh giá chất lượng đạo đức của hoạt động kinh tế là xác định loại dục vọng nào là cội nguồn của nó. Những hoạt động kinh tế phi đạo đức nhất là các hoạt động nuôi dưỡng tanha trong khi lại làm sói mòn cơ sở của hạnh phúc. Các ngành thương mại thuốc lá, thuốc phiện và gái điếm là những ví dụ về các hoạt động kinh tế có hại chỉ nhằm hướng tới việc thoả mãn khoái lạc.

Càng ngày con người càng bị điều khiển bởi tanha thì càng ngày họ càng huỷ hoại hạnh phúc thực sự của họ. Nguyên tắc này không chỉ được áp dụng cho những thói xấu rõ ràng, mà còn áp dụng cho tất cả mọi hoạt động kinh tế. Vì vậy trong các quyết định liên quan đến tiêu thụ, sản xuất và sử dụng công nghệ, chúng ta cần phải học cách phân biệt giữa hai loại khát vọng và phải thực hiện các lựa chọn khôn ngoan.

_________________________________________

Còn nữa...

Nguồn: Buddhist Economics – A Middle Way for the Market place by Ven. P.A. Payutto. Translated into English by Dhammavijaya and Bruce Evans; Compiled by Bruce Evans and Jourdan Arenson. http://www.buddhanet.net/cmdsg/payutto.htm.

Ghi chú:

[*] Chanda, khi được hướng vào các tồn tại khác thì được gọi là thiện chí (metta), khát vọng lợi lạc chúng sinh.

[**] Theo cách hiểu trên, việc hiện nay kinh tế học chính thống chấp nhận các chi phí môi trường (vì việc theo đuổi lợi ích làm nảy sinh đe dọa hủy hoại môi trường sống) trong họat động kinh tế trong khi vẫn bỏ qua các chi phí đạo lý và xã hội (vì mối đe dọa chưa đủ để thu hút sự chú ý của con người) như một mục tiêu, thì điều đó thực sự là bất thường – một ví dụ rõ ràng về tính chủ quan trong tư duy kinh tế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2025

Kinh tế học Phật giáo - Trung đạo trong Thương trường (II)

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012

Hòa thượng P.A. Payutto

Người dịch: Hà Hữu Nga

Đạo lý quyết định Kinh tế học như thế nào

Chắc chắn rằng sự phân biệt giữa kinh tế học và đạo đức học rất dễ nhận ra. Chúng ta có thể nhìn vào bất cứ hoàn cảnh kinh tế nào kể cả từ viễn cảnh thuần tuý kinh tế, hoặc từ một viễn cảnh thuần tuý đạo đức. Chẳng hạn, bạn đang đọc cuốn sách này. Từ viễn cảnh đạo đức, việc đọc của bạn là một hành động tốt, bạn được thúc đẩy bởi khát vọng hiểu biết. Đây là một phán xét đạo đức. Từ một viễn cảnh kinh tế, mặt khác, cuốn sách này dường như là một sự phí hoài các nguồn mà không có một lợi ích rõ ràng. Điều kiện tương tự cũng được thấy theo cách khác. Tuy nhiên hai quan điểm đó tương liên và ảnh hưởng lẫn nhau. Trong khi tư duy kinh tế học hiện đại phản đối bất cứ giá trị chủ quan nào chẳng hạn như đạo đức học, thì ảnh hưởng của đạo đức học trong các vấn đề kinh tế lại hoàn toàn rõ ràng. Nếu một cộng đồng mà không an toàn – nếu có những tên trộm, thì việc ăn trộm là một hành động tội ác, và những con đường là không an toàn khi ta đi lại – vậy thì rõ ràng là doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào đó, khách du lịch sẽ không muốn đến đó, và nền kinh tế sẽ phải chịu thua thiệt. Mặt khác, nếu các công dân chấp hành luật và có kỷ luật tốt và có ý thức giúp đỡ duy trì sự an ninh và sạch sẽ của cộng đồng thì các doanh nghiệp sẽ có cơ hội tốt để thành công và chính quyền thành phố sẽ không phải tiêu quá nhiều tiền để duy trì an ninh trật tự công cộng.

Kinh doanh phi đạo đức có những hậu quả trực tiếp. Nếu các doanh nghiệp cố tăng lợi nhuận bằng cách sử dụng cả những chất lượng không đảm bảo, chẳng hạn như dùng phẩm nhuộn làm màu cho kẹo của trẻ em, dùng các hoá chất thay thế cho nước cam, hoặc cho acid boric vào thịt viên (tất cả những hành động đó đều đã xảy ra ở Thái Lan trong những năm vừa qua) thì rõ ràng là sức khoẻ của người tiêu dùng đã bị đe doạ. Những người bị đau ốm bởi những hàng hoá như vậy phải chi phí cho thuốc men, còn chính phủ thì phải tiêu tiền cho cảnh sát tìm kiếm và truy tố bọn tội phạm. Hơn nữa những con người bị đau ốm sẽ không thể duy trì được năng suất lao động. Trong thương mại quốc tế, những người nào làm ăn gian dối làm mất đi lòng tin của khách hàng và bỏ mất thị trường quốc tế – cũng như mất đi những khoản ngoaị tệ kiếm được thông qua các thị trường này.

Phẩm chất đạo đức cũng ảnh hưởng đến sản lượng công nghiệp. Nếu các công nhân thích thú với công việc của họ và họ có tác phong công nghiệp thì sản lượng sẽ cao. Nhưng nếu họ không trung thực, khó chịu hoặc lười nhác thì sẽ có một kết quả tiêu cực đối với chất lượng sản xuất và số lượng sản phẩm. Khi được đưa ra thị trường, những người khách hàng trong một xã hội có những giá trị phù phiếm và hay thay đổi sẽ thích những sản phẩm hào nhoáng, phô trương. Trong một xã hội thực tiễn với các giá trị xã hội chín chắn và không hoang phí thì những người tiêu dùng sẽ lựa chọn những hàng hoá dựa vào mức độ đáng tin cậy của chúng. Rõ ràng là các hàng hoá được tiêu thụ trong các xã hội khác nhau này sẽ dẫn đến những kết quả kinh tế và xã hội khác nhau.

Quảng cáo kích thích hành vi kinh tế, nhưng lại thường không thể chấp nhận được về phương diện đạo lý. Quảng cáo liên quan đến các giá trị phổ biến: người quảng cáo phải phát hiện ra các ham muốn, các thiên hướng và khát vọng thông thường để tạo ra các quảng cáo. Bằng việc khai thác tâm lý xã hội quảng cáo tạo ra giá trị thông dụng cho các mục đích kinh tế, và vì tác động trở lại đối với tâm tư của công chúng nên nó có ý nghĩa đạo lý rất đáng kể. Dung lượng quảng cáo có thể tạo ra sự gia tăng chủ nghĩa vật chất và những hình ảnh hoặc thông điệp vụng về có thể gây hại không nhỏ đối với đạo đức công cộng. Rất nhiều quảng cáo làm cho công chúng ngập trong đam mê ích kỷ; các quảng cáo đó làm cho chúng ta trở thành những kẻ tiêu thụ hoàn hảo mà không còn bất cứ mục đích nào khác trong cuộc đời để theo đuổi nữa ngoài mục đích tiêu thụ các sản phẩm của nền công nghệ hiện đại. Trong quá trình đó, chúng ta bị biến đổi trở thành những “con ma đói” lúc nào cũng thèm được ăn và xã hội trở thành một đám đông lúc nào cũng sôi lên sùng sục bởi sự xung đột lợi ích.

Tuy nhiên quảng cáo cũng bổ sung vào tự thân giá trị sản phẩm. Vì vậy người ta có khuynh hướng mua những đồ vật không cần thiết với cái giá không không phải là đắt. Người ta thường rất lãng phí và phung phí quá mức. Mọi thứ chỉ được sử dụng trong một thời gian rất ngắn, sau đó lại đổi bằng những đồ vật mới, thậm chí ngay cả khi chúng vẫn còn rất tốt. Quảng cáo cũng góp phần dung dưỡng người ta phô trương của cải và quyền sở hữu như là một phương cách nhằm có được vị thế xã hội. Khi khát vọng đua đòi trở thành một tiêu chí chính yếu thì người ta sẵn sàng mua sắm cả những sản phẩm đắt tiền nhưng không cần thiết mà không hề quan tâm đến chất lượng của các sản phẩm đó. Trong những trường hợp cực đoan, người ta còn bị dẫn dắt bởi khát vọng thể hiện phong độ là thứ mà người ta bất chấp cả việc tiết kiệm các khoản tiền lớn bị đem ra phung phí vô ích cho những đồ vật mới nhất, hoặc chạy theo các mốt thời trang – người ta chỉ cần một hành động rất đơn giản và tiện lợi là sử dụng những tấm thẻ tín dụng. Việc chi tiêu quá mức những khoản tiền kiếm được có thể khiến người ta sa vào một vòng xoáy tội lỗi. Một mẫu mốt mới hơn được quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng và người ta phóng mình sâu hơn vào nợ nần. Bằng cách đó, việc quảng cáo phi luân có thể dẫn người ta tới phá sản về tài chính. Thật trớ trêu là với một lượng thông tin khổng lồ, hầu hết chúng đều được sử dụng để tạo ra những “thông tin sai lầm” hoặc các ảo tưởng.

Trong môi trường chính trị, người ta đưa ra các quyết định liên quan đến chính sách quảng cáo – trong lĩnh vực này cần phải có sự kiểm sóat, và nếu như vậy thì đó là loại kiểm soát nào? Người ta phải làm gì để đạt được sự cân bằng chính xác giữa các quan tâm về đạo đức và kinh tế? Giáo dục cũng liên quan mạnh mẽ đến lĩnh vực này. Những cách thức có thể sử dụng để dạy cho người ta thức tỉnh về việc quảng cáo họat động như thế nào để thể hiện nó, và để xem xem người ta tin tưởng vào nó được bao nhiêu. Một nền giáo dục tốt cần phải tìm cách làm cho người ta khôn ngoan, tỉnh táo và hiểu biết hơn trong khi quyết định mua sắm những loại hàng hóa nào. Vấn đề quảng cáo thể hiện các hành động thình hành trong xã hội có thể được nhìn nhận như thế nào từ nhiều quan điểm khác nhau, tất cả những vấn đề đó đều liên quan đến nhau.

Khi nhìn nhận vấn đề bằng một quan điểm rộng rãi hơn, người ta có thể thấy rằng hệ thống thị trường tự do tự thân chúng chắc chắn phải dựa vào một tối thiểu đạo lý. Quyền tự do của hệ thống thị trường tự do có thể bị biến mất thông qua các doanh vụ sử dụng các phương thức cạnh tranh vô sỉ; việc tạo ra một độc quyền nhờ ảnh hưởng là một ví dụ phổ biến, việc sử dụng những kẻ côn đồ để sát hại một đối thủ cạnh tranh là một cách thức dị giáo. Việc loại trừ đối thủ bằng bạo lực báo trước cái kết cục của hệ thống thị trường tự do, mặc dù đó là một phương thức hiếm khi được đề cập đến trong các cuốn ssách giáo khoa kinh tế học.

Hợp lý về phương diện đạo đức, họat động kinh tế có thể diễn ra theo cách không làm phương hại đến các cá nhân, xã hội hoặc môi trường tự nhiên. Nói cách khác, họat động kinh tế không nên tạo ra các vấn đề cho chính bản thân nó, tạo ra tâm trạng lo âu trong xã hội hoặc làm hủy hoại các hệ thống sinh thái, mà phải củng cố sự thịnh vượng trong ba quyển đó (kinh tế, xã hội và môi trường). Nếu các giá trị đạo lý trở thành một nhân tố phân tích kinh tế thì một bữa ăn rẻ tiền nhưng thịnh soạn vẫn có giá trị hài hòa hơn cả một chai whiskey.

Vì vậy một nền kinh tế học được gợi hứng bởi Phật giáo sẽ cố gắng nhìn nhận và chấp nhận chân lý của vạn vật. Nó đưa đến một cách nhìn rộng rãi và toàn diện hơn về vấn đề đạo lý. Khi đạo lý được xem như một chủ đề chính thống thì các vấn đề về đạo lý sẽ trở thành các nhân tố được nghiên cứu trong toàn bộ quá trình quan hệ nhân quả. Nhưng nếu vấn đề đó không được thừa nhận thì kinh tế học sẽ không có khả năng phát triển bất cứ sự hiểu biết nào về toàn bộ tiến trình nhân quả mà đạo lý là một bộ phận của nó.

Kinh tế học hiện đại được coi là một bộ môn có tính khoa học nhất trong số các khoa học xã hội. Thực tế thì khi tự hào về phương pháp hệ khoa học của mình, các nhà kinh tế học chỉ lấy định lượng để xem xét vấn đề. Một số người thậm chí còn quả quyết rằng kinh tế học thuần tuý là khoa học của các con số, một vấn đề của các phương trình toán học. Trong các nỗ lực để trở thành khoa học của nó, kinh tế học đã bỏ qua những giá trị trừu tượng, không thể định lượng.

Bằng cách xem xét họat động kinh tế biệt lập khỏi các hình thức họat động khác của con người, các nhà kinh tế học đã rơi vào sự chuyên môn hóa đặc trưng cho thời đại công nghiệp. Bằng cung cách chuyên môn, các nhà kinh tế học cố gắng loại bỏ các yếu tố phi kinh tế khỏi quá trình nghiên cứu các họat động của con người trong các công trình của họ để chỉ tập trung vào một lối nhìn duy nhất bằng con mắt chuyên môn của họ.

Trong những năm gần đây, các nhà phê bình kinh tế, và thậm chí ngay cả bản thân các nhà kinh tế cũng đã lên tiếng thách thức cái lập trường “khách quan” đó và khẳng định rằng cũng như tất cả các khoa học xã hội khác, kinh tế học là một khoa học có giá trị phụ thuộc nhất. Người ta có thể đặt câu hỏi là làm thế nào mà kinh tế học có thể thoát khỏi các giá trị khi mà trong thực tế nó có nguồn gốc từ tư duy của con người. Tiến trình kinh tế khởi đầu bằng nhu cầu, tiếp tục bằng chọn lựa, và kết thúc bằng sự thỏa mãn, tất cả các khâu đó đều là các họat động và chức năng của tư duy. Vì vậy các giá trị tuyệt đối là điểm khởi đầu, trung điểm và cùng đích của kinh tế học, và vì vậy kinh tế học không thể có ogiá trị tự do. Vậy mà nhiều nhà kinh tế học lại né tránh xem xét các giá trị, đạo lý, hoặc các phẩm chất tinh thần, bất chấp một thực tế là những vấn đề đó luôn luôn chuyển tải các mối quan tâm kinh tế. Khiếm khuyết của các nhà kinh tế học trong đào tạo về đạo lý, sự vô minh của họ về các công trình giá trị tinh thần và dục vọng của con người chính là những thiếu sót căn bản ngáng trở họ giải quyết các vấn đề mà họ cần phải giải quyết. Nếu thế giới được cứu độ khỏi sự hủy hoại của nạn tiêu thụ và sản xuất quá đáng thì các nhà kinh tế học cần phải bắt đầu hiểu ra tầm quan trọng của đạo lý đối với lĩnh vực của họ. Dù cho ngay cả khi có thể nghiên cứu sinh thái thì họ cũng cần phải nghiên cứu đạo lý và bản chất các khát vọng của con người và tìm hiểu con người một cách thấu suốt. Đây chính là một lĩnh vực mà Phật giáo có thể trợ giúp đáng kể cho họ.

Chương II: Quan điểm Phật giáo về Bản chất con người

Theo các Kinh điển Phật giáo, thì con người được sinh ra trong tình trạng vô minh. Vô minh là thiếu tri thức, và thiếu tri thức đã gây nên các vấn đề trong cuộc sống. Cái mà con người sinh ra trong vô minh và phải chịu phiền não bởi vô minh ngay từ khi chào đời sẽ trở nên rất rõ ràng khi quan sát tình cảnh của một đứa trẻ sơ sinh, nó không thể nói được, trông mong được ăn và thậm chí phải tự kiếm lấy mà ăn.

Vô minh là một giới hạn có thật trong cuộc đời, đó là một gánh nặng, một vấn đề. Trong Phật giáo, gánh nặng này được gọi là dukkha hoặc khổ. Vì con người sinh ra trong vô minh nên nó không thực sự biết phải sống như thế nào. Không có sự dẫn dắt của tri thức hoặc trí tuệ, con người chỉ đơn giản buông theo những dục vọng của mình bằng cách vật lộn trong sự dẫn dắt của dục vọng để sống còn trong một thế giới thù địch. Trong Phật giáo, dục vọng mù quáng ấy được gọi là tanha.

Tanha có nghĩa là dục, tham vọng, bất an, hoặc khao khát. Nó duyên khởi từ cảm tính và bắt nguồn từ vô minh. Bất cứ khi nào, bất cứ một loại cảm giác nào được trải nghiệm thì nó đem lại tình trạng thoả mãn hay bất mãn – như một cảnh đẹp hoặc một phong cảnh điêu tàn, hoặc một thanh âm êm dịu hay chối tai – đều được gây nên bởi một cảm giác, kể cả thoả mãn, bất mãn hay bình thường. Tanha khởi lên cùng với cảm giác: nếu cảm giác thoả mãn thì khởi lên khát vọng chiếm giữ nó; nếu cảm giác bất mãn thì khởi lên ý muốn thoát khỏi hoặc huỷ bỏ nó; nếu cảm giác trung tính thì mong manh một ái kết. Những phản ứng này là tự nhiên, chúng không đòi hỏi bất cứ một định thức hoặc tri thức đặc biệt hoặc sự hiểu biết nào. (Ngược lại nếu một suy tư nào đó cắt đứt quá trình bất cứ khi nào thì tanha có thể bị chặn đứng và quá trình lại được khơi thông thành một dạng mới.

tanha quá gắn bó với cảm tính nên nó có xu hướng tìm bằng được những vật đem lại cảm giác thoả mãn, cơ bản gồm có 6 loại cảm giác: cảnh sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc giác và tình cảm. Nổi bật nhất của những loại cảm giác này là 5 cảm giác đầu, được biết như là ngũ khoái. Sáu đối tượng cảm giác và đặc biệt là 5 đối tượng đầu là những thứ mà tanha tìm cho ra và ấn định chúng. Trong bối cảnh đó, định nghĩa của chúng ta về tanha có thể được mở rộng: tanha là dục vọng về các đối tượng cảm giác, là những thứ có thể đem lại khoái cảm hoặc dục vọng về các cảm giác khoái lạc. Nói tóm lại tanha có thể được gọi là muốn sở hữu hoặc muốn giành được.

Cách thức hoạt động của tanha có thể nhìn thấy rất rõ trong các nhu cầu cơ bản về đồ ăn. Mục đích sinh học của ăn là để nuôi dưỡng cơ thể, cung cấp cho nó sức mạnh và sự an lạc. Chiếm chỗ nhu cầu sinh học này là mong muốn tận hưởng, mong muốn thoả mãn vị giác. Đó chính là tanha. Đôi khi dục vọng của tanha có thể hoàn toàn lạc lõng khỏi sự an lạc, và thậm chí có thể có hại đối với chất lượng sống. Nếu chúng ta bị tanha áp đảo khi ăn chứ không phải là ăn vì mục đích nuôi dưỡng cơ thể và đem lại sự an lạc, thì có nghĩa là chúng ta ăn để nếm trải khoái cảm. Kiểu ăn như vậy sẽ không có tận cùng và có thể dẫn đến những vấn đề cho cả cơ thể lẫn trí tuệ. Đồ ăn có thể ngon miệng, nhưng chúng ta có thể phải chịu khổ vì chứng khó tiêu hoặc tình trạng béo phì. Trong một mức độ lớn, chi phí xã hội cho việc tiêu thụ quá mức, chẳng hạn như việc kiệt quệ các nguồn tự nhiên và chi phí cho chăm sóc sức khoẻ, mà chưa nói đến tội ác, phá sản và các cuộc chiến tranh đã là một khoản khổng lồ.

Kinh tế học hiện đại và Phật giáo đều nhất trí rằng nhu cầu của con người là không có giới hạn. Như Đức Phật dạy: “Không có dòng sông nào giống như dòng sông dục” [Dh. 186], các dòng sông thỉnh thoảng vẫn tràn đầy đôi bờ, nhưng nhu cầu của con người thì lại không bao giờ đổ đầy được. Cho dù tiền có rơi từ trời xuống như mưa thì dục vọng của con người vẫn không bao giờ được thoả mãn [Dh. 251]. Đức Phật còn dạy rằng ngay cả khi người ta có thể làm phép biến một ngọn núi thành hai ngọn núi vàng thì nó vẫn không làm cho một con người mãn nguyện dài lâu [S.I. 117]. Trong truyền thống Phật giáo còn có vô số lời dạy nói về bản chất không cùng của nhu cầu con người. Tôi chỉ muốn liên hệ với một câu chuyện được kể trong Jataka Tales [J.II.310].

Ngày xửa ngày xưa có một vị vua tên là Mandhatu. Ông là một người cai trị, một hoàng đế đầy sức mạnh và sống rất lâu. Mandhatu có toàn bộ vật dụng, của cải của một vị hoàng đế; chỉ duy nhất ông vua này mới có mọi thứ mà ai cũng phải thèm muốn: ông làm hoàng tử 84.000 năm, thái tử 84.000 năm và sau đó làm hoàng đế 84.000 năm.

Một ngày kia, sau khi đã ở ngôi 84.000 năm, vua Mandhatu bắt đầu cảm thấy buồn chán. Số tài sản khổng lồ mà ông có cũng không làm cho ông mãn nguyện. Các triều thần thấy có một điều gì đó bất ổn và hỏi điều gì đã làm cho Hoàng đế không vui. Ông đáp “Của cải và khoái lạc mà ta có được chỉ là chuyện vặt. Hãy nói cho ta biết có bất cứ nơi nào cao hơn nơi này không? “Trên trời, thưa Bệ hạ!” – các cận thần đáp. Ngay lập tức một  báu vật của nhà vua là cakkaratana, (Bảo luân xa) một bánh xe có phép thuật có thể đưa nhà vua đi bất cứ nơi đâu ông muốn đã được chuẩn bị sẵn sàng. Vậy là Vua Mandhatu đã sử dụng nó để lên Trời của Tứ đại Thiên vương. Tứ đại Thiên vương đích thân ra đón chào nhà vua, nghe vua kể về mong ước của mình, đã mời ông tiếp quản toàn bộ cõi Trời của họ.

Vua Mandhatu thống trị Trời tứ đại thiên vương trong một thời gian rất dài, cho đến một ngày kia ông lại bắt đầu cảm thấy chán nản. Lạc thú và của cải của cõi Trời ấy vẫn không làm cho nhà vua mãn nguyện. Ông bàn bạc với quần thần và nghe nói có những lạc thú lớn hơn trên cõi trời Đao Lợi (Tavatimsa, Pali- Trayastrmsa, Phạn). Thế là vua Mandhatu lại lấy bánh xe pháp của ông để lên cõi trời Tavatimsa. Tại đây, Đế Thích đã lập tức tặng ông một nửa Cõi trời của mình.

Nhà vua cùng Đế Thích cai trị cõi trời trong một thời gian dài, đến khi Đế Thích thành công quả và được thay bằng một Tân Đế thích. Tân Đế thích trị vì cõi trời Đao Lợi được một nửa thời gian. Tất cả có 36 Đế Thích đến và đi, trong khi vua Mandhatu vẫn hưởng lạc thú trong cõi của mình.

Cuối cùng ông bắt đầu cảm thấy bất mãn – một nửa cõi trời không đủ, ông muốn cả cõi. Thế là vua Mandhatu lập mưu giết Đế Thích để thay thế ông. Nhưng con người không thể giết được Đế Thích, vì người trần không giết được người trời, vậy là ông không toại nguyện. Sự bất lực không thoả mãn được dục vọng đã bắt đầu làm chết dần chết mòn chính cái cội rễ của ông và làm cho ông bắt đầu già nua.

Bỗng ông rơi khỏi cõi trời Đao Lợi xuống đến đất. Ông rơi vào một vườn cây ăn trái đang vang động tiếng đấm đá. Khi những người làm trong vườn nhận thấy một nhà vua vĩ đại đã tới, một số người đã bắt đầu lên đường đi báo cho Hoàng cung còn những người khác thì tức tốc làm cho ông một chiếc ngai tạm thời để ông ngồi. Lúc đó nhà vua đã gần kề cái chết.  Hoàng gia đến, nhìn thấy và hỏi xem ông có trăng trối điều gì không. Nhà vua tuyên bố về sự vĩ đại của mình. Ông nói với họ về cái quyền lực vĩ đại và số của cải mà ông đã có trên trái đất, nhưng cuối cùng phải thừa nhận rằng khát vọng của ông vẫn không thành. Câu chuyện về Vua Mandhatu chỉ có như vậy. Nó cho thấy Phật giáo chia sẻ với kinh tế học quan điểm rằng nhu cầu của nhân loại là bất tận.

_________________________________________

Còn nữa...

Nguồn: Buddhist Economics – A Middle Way for the Market place by Ven. P.A. Payutto. Translated into English by Dhammavijaya and Bruce Evans; Compiled by Bruce Evans and Jourdan Arenson. http://www.buddhanet.net/cmdsg/payutto.htm.

Ghi chú của Tác giả:

Ghi chú: [*] Nhỏ là đẹp, Tầm vóc của kinh tế học trong con mắt công chúng, công trình của E.F. Schumacher, Blond và Briggs Ltd., xuất bản lần đầu tiên, London 1973.