Powered By Blogger

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXIV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

[Tr.231] Theo đó, khi một điều gì đó đe dọa tiến lại gần, nỗi lo âu không ‘nhìn thấy’ bất kỳ vị trí ‘ở đây’ hay ‘đằng kia’ cụ thể nào mà từ đó mối đe dọa xuất phát. Đối tượng gây lo âu có đặc điểm là: cái đe dọa đó không nằm ở đâu cả. Nỗi lo âu ‘không biết’ đối tượng gây lo âu là gì. Tuy nhiên, ‘không đâu cả’ không có nghĩa là hư vô: đó là nơi trú ngụ của mọi vùng không gian, và cũng là nơi diễn ra sự hiển lộ của thế giới đối với loại Hữu-thể-trong vốn mang bản chất không gian. Do đó, tác nhân đe dọa không thể tiến lại gần từ một hướng cụ thể nào đó trong phạm vi lân cận; nó đã ‘ở đó’ rồi, nhưng lại chẳng ở đâu cả; nó gần gũi đến mức gây ngột ngạt và làm ta khó thở, nhưng đồng thời nó lại chẳng ở đâu cả. Chính trong cái mà ta cảm thấy lo âu khi đối diện, thì cái ‘không là gì và chẳng ở đâu cả’ ấy mới bộc lộ rõ ​​rệt. Tính dai dẳng của cái ‘không là gì và chẳng ở đâu cả’ ngay trong lòng thế giới này, theo đúng nghĩa một hiện tượng, chính là thế giới — với tư cách là thế giới — mới là cái mà ta cảm thấy lo âu khi đối diện. Tình trạng vô nghĩa tuyệt đối bộc lộ qua cái ‘không là gì và chẳng ở đâu cả’ ấy không có nghĩa là thế giới vắng mặt; trái lại, nó biểu thị các thực thể trong thế giới tự thân chẳng có mấy ý nghĩa, đến mức chính trên nền tảng vô nghĩa của những gì ở trong-thế-giới ấy, chỉ còn lại thế giới — với tính chất là thế gian của nó — là thứ vẫn cứ áp đặt hiện diện lên ta.

Điều gây cho ta cảm giác ngột ngạt không phải là cái này hay cái kia, cũng chẳng phải là tổng hòa của mọi sự vật hiện-diện-vô-tri; mà đó chính là khả tính của những gì sẵn-có-để-dùng nói chung — hay nói cách khác, đó chính là bản thân thế giới. Khi cơn lo âu đã lắng xuống, theo thói quen ngôn ngữ thường nhật, ta quen miệng nói rằng ‘thực ra chẳng có gì cả’. Và quả thực, cách nói ấy đã chạm đúng vào bản chất của sự vật về phương diện thực hữu. Các diễn ngôn thường ngày có xu hướng tập trung vào những gì sẵn-có-để-dùng và bàn luận về chúng. Cái mà ta cảm thấy lo âu khi đối diện không phải là bất kỳ vật thể nào sẵn-có-để-dùng trong thế giới. Tuy nhiên, [tr.232] cái ‘không-gì-sẵn-có-để-dùng’ này — thứ mà chỉ lối diễn ngôn thường ngày với cái nhìn bao quát cẩn trọng mới hiểu được — lại không hoàn toàn là hư vô.1 Cái ‘không-gì’ của tình trạng-sẵn-có-để-dùng ấy lại bắt rễ từ một ‘cái gì đó’ bản nguyên nhất — trong thế giới. Tuy nhiên, về phương diện hữu thể luận, thế giới thuộc về Hữu thể của Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. Do đó, nếu cái ‘không-có-gì’ ấy — tức là thế giới the đúng nghĩa — tự bộc lộ mình như là cái ngay trước mặt đối tượng lo âu, thì điều này có nghĩa là chính Hữu-thể-trong-thế-giới mới là cái mà ta cảm thấy lo âu khi đối diện. Hữu-thể- lo-âu bộc lộ thế giới — với tư cách là thế giới — một cách bản nguyên và trực tiếp. Đó không phải là thế giới được hình dung trước tiên thông qua việc suy tư về nó một cách tách biệt—không màng đến các hiện hữu bên-trong-thế-giới —rồi sau đó nỗi lo âu mới nảy sinh khi đối diện với thế giới ấy; trái lại, thế giới với tư cách là thế giới được bộc lộ trước hết và chủ yếu thông qua nỗi lo âu, như một phương thức của tâm thế. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là trong nỗi lo âu, cái thế gian của thế giới mới được khái niệm hóa.

Lo âu không chỉ là lo âu khi đối mặt với điều gì đó, mà, với tư cách là một tâm thế, nó còn là lo âu về điều gì đó. Điều mà lo âu vô cùng quan tâm không phải là một loại Hữu thể nhất định nào đó cho Dasein hay một khả tính nhất định nào đó cho nó. Thật vậy, bản thân mối đe dọa là không xác định, và do đó không thể xâm nhập một cách đe dọa vào tiềm-năng-cho-Hữu-thể cụ thể nào đó. Điều mà nỗi lo âu quan tâm chính là Hữu-thể-trong-thế-giới. Trong nỗi lo âu, những gì sẵn-có-để-dùng trong môi trường sẽ biến mất, và nói chung, các thực thể trong-thế-giới cũng vậy. ‘Thế giới’ không thể cung cấp thêm gì nữa, và cái Dasein-với của những Kẻ Khác cũng vậy. Do đó, lo âu tước đoạt khỏi Dasein khả tính tự thấu hiểu chính mình, khi nó sa ngã, trong khuôn khổ của ‘thế giới’ và cách thức mà mọi thứ đã được diễn giải công khai. Lo âu đẩy Dasein trở lại với điều là nó lo lắng - tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới đích thực của nó. Lo âu cá nhân hóa Dasein thành Hữu-thể-trong-thế-giới tối thượng của chính nó, mà với tư cách là một thứ có khả năng thấu hiểu, nó tự phóng chiếu một cách cơ bản vào các khả tính. Do đó, cùng với điều làm nó lo âu, thì chính lo âu lại bộc lộ Dasein như là Hữu-thể-khả-thể, và thực sự là loại sự vật duy nhất mà nó có thể tự mình trở thành như một thứ vereinzeltes in der Vereinzelung được cá nhân hóa bằng cá nhân hóa.

Nỗi lo âu làm hiển lộ ở Dasein cái Hữu-thể hướng về tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính nó—tức là cái Hữu-thể-tự-do cho tự do của nó để chọn lựa và nắm bắt chính mình. Nỗi lo âu đặt Dasein đối diện với cái Hữu-thể-tự-do cho (propensio in…hướng đến…) tính đích thực Hữu thể của nó, và hướng tới tính đích thực này như một khả tính luôn luôn là chính nó.2 Tuy nhiên, đồng thời, đây cũng chính là [tr.233] cái Hữu thể mà Dasein—với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới —đã được chuyển giao cho nó. Cái làm nên lo âu lại tự bộc lộ chính là cái đối diện với nó là lo âu—cụ thể là Hữu-thể-trong-thế-giới. Tính tự đồng nhất giữa cái làm ta lo âu và cái mà ta lo âu về nó còn mở rộng đến cả chính trạng thái lo âu ấy. Bởi lẽ, với tư cách là một tâm thế, trạng thái lo âu chính là một loại cơ bản của Hữu-thể-trong-thế-giới.  Ở đây, cuộc khai mở và cái được khai mở đồng nhất với nhau về phương diện hữu thể theo cách mà trong đó, thế giới được khai mở với tư cách thế giới, và Hữu-thể-trong được khai mở như một tiềm-năng-cho-Hữu-thể mang tính cá biệt hóa, thuần túy và bị-ném-vào; điều này cho thấy rõ rằng với hiện tượng lo âu, một trạng thái tâm thức đặc thù đã trở thành chủ đề cho phép tường giải. Nỗi lo âu cá biệt hóa Dasein và vì vậy mà khai mở nó như là ‘solus ipse’ chỉ có bản thân mình. Nhưng cái ‘thuyết duy ngã’ mang tính hữu thể này hoàn toàn khác biệt với việc tách biệt một chủ thể-Vật thể đơn độc và đặt nó vào khoảng trống vô hại của một sự kiện diễn ra không-có-thế-giới; trái lại, theo một nghĩa cực đoan, điều mà nó thực hiện chính là đặt Dasein đối diện với cái thế giới của nó với tư cách là thế giới, và qua đó đặt nó đối diện với chính mình như là Hữu-thể-trong-thế-giới.

Một lần nữa, lối diễn ngôn thường nhật và phép tường giải thường nhật của Dasein cung cấp bằng chứng khách quan nhất cho thấy nỗi lo âu—với tư cách là một tâm thế cơ bản—có tính chất khai mở theo cách thức mà chúng ta đã trình bày. [Chen ngang: Heidegger sử dụng thuật ngữ Befindlichkeit/state-of-mind ‘tâm thế’ nghĩa đen là - tình trạng của bản thân, hay ‘cách thức thấy mình đang hiện hữu’, nhằm mô tả sự hòa điệu mang tính cảm xúc và nền tảng của chúng ta với thế giới. Các khía cạnh chính của tâm thế: i) Không phải là trạng thái tinh thần nội tại - nó không phải là cảm giác riêng tư bị giam hãm trong tâm trí, mà là điều kiện mang tính hữu thể của phương thức Hữu-thể-trong-thế-giới, nơi ta luôn thấy mình đã bị ném vào một tình huống cụ thể; ii) Trạng thái bộc lộ thông qua các Stimmung tâm trạng hay tính cảm xúc có trước tư duy khách quan: các tâm trạng như lo âu, vui sướng hay chán nản bộc lộ cho ta thấy ý nghĩa của sự vật đối với bản thân ngay cả trước khi ta kịp suy ngẫm về chúng; iii) Trạng thái thụ động và tình trạng ‘bị ném vào’ - ta không chọn tâm trạng của mình; thay vào đó, tâm trạng ập đến và bộc lộ thực tính của ta—tức thực tế hiện hữu đầy gánh nặng và đã được định sẵn mà ta buộc phải đối diện và xoay xở; iv) Khả năng định hình thế giới - tâm thế quyết định tầm nhìn hay cách ta cảm nhận về vạn vật xung quanh: một thiết bị hay một căn phòng sẽ mang lại vẻ ngoài và cảm giác hoàn toàn khác biệt tùy thuộc vào việc ta đang vui vẻ, bình thản, hay sợ hãi.- HHN] Như đã nói trước đó, một tâm thế làm hiển lộ ‘tình trạng của chủ thể’. Trong nỗi lo âu, người ta cảm thấy ‘xa lạ/bất an’.3 Ở đây, tính bất định đặc thù của cái mà Dasein thấy mình đang trong nỗi lo âu bắt đầu được diễn tả: đó là das Nichts ‘cái hư vô’ và das Nirgends ‘chốn hư vô’. 

Nhưng ở đây, ‘tính chất lạ lẫm’ [uncanniness] cũng có nghĩa là ‘trạng thái không-ở-nhà’ [das Nichtzuhause-sein]. [Chen ngang: 1) das Nichts/Nothing của Martin Heidegger không phải là một khoảng trống rỗng hay sự vắng mặt đơn thuần của các sự vật, mà chính là nền tảng cho phép các hiện hữu xuất hiện và được thấu hiểu. Các ý nghĩa then chốt của ‘Cái hư vô’: I) Không phải là một khách thể hay sự vật trong vũ trụ; nếu cố coi nó như một ‘sự vật’, ta sẽ bỏ lỡ bản chất của nó, bởi nó là sự phủ định hoàn toàn đối với mọi hiện hữu; ii) Bộc lộ các Hữu thể - Heidegger cho rằng ta thậm chí không thể nắm bắt được các ‘sự vật’ hay các ‘hiện hữu’ là gì nếu không có cái tương phản với cái hư vô; nó định hình thực tại của chúng ta, mang lại hình hài và ý nghĩa cho thế giới thông qua việc đóng vai trò là mặt đối lập của thế giới ấy; iii) Được chạn trán trong lo âu - ta không trải nghiệm cái hư vô thông qua quan sát khoa học hay tư duy logic thông thường; thay vào đó, ta bắt gặp nó trong những khoảnh khắc lo âu hiện sinh sâu sắc—chẳng hạn khi những ý nghĩa quen thuộc về thế giới dần tan biến, để lại ta đối diện với sự thật trần trụi là mọi thứ đang tồn tại; iv) Không thể tách rời khỏi Hữu thể - cái hư vô không chỉ nằm bên ngoài tồn tại như một khái niệm đối lập; nó còn thuộc về chính bản chất của tự thân Hữu thể, định hình cách thức mà Dasein tồn tại người thấu hiểu vị thế hữu hạn của chính mình trong vũ trụ. 2) das Nirgends/Nowhere/ Không ở đâu cả của Martin Heidegger dùng để mô tả sự sụp đổ gây mất phương hướng của thế giới quen thuộc trong trạng thái lo âu mang tính hữu thể. Thay vì ‘hư vô’ hay sự thiếu vắng không gian theo nghĩa đen, Không ở đâu cả biểu thị bối cảnh đầy ý nghĩa của cuộc sống thường nhật đã hoàn toàn tuột mất. Các ý nghĩa chính của Không ở đâu cả bao gồm: i) Mất đi ý nghĩa thế gian - trong đời sống thường nhật, vạn vật đều có vị trí xác định dựa trên tính hữu dụng của chúng ví dụ vị trí của cây bút là ở trên mặt bàn; khi rơi vào trạng thái lo âu, các vật thể này mất đi ý nghĩa và sự liên quan của chúng; ii) Cảm giác lo âu đầy đe dọa không ập đến từ một hướng cụ thể nào; nó hiện diện ở khắp mọi nơi nhưng cũng chẳng ở đâu cả; iii) Trạng thái Unheimlichkeit Không như ở nhà - Heidegger gắn kết khái niệm Nirgends  với Unheimlichkeit theo nghĩa đen là ‘không-giống-như-ở-nhà’; khi thế giới mất đi ý nghĩa, Dasein hiện hữu người nhận ra rằng nó không thực sự ‘ở nhà’ theo những khuôn mẫu xã hội thường nhật; iv) Sự phơi bày của Không gian - Heidegger lưu ý rằng Không ở đâu cả không có nghĩa là hư vô; trái lại, chính ‘vùng’ hay ‘miền’ nói chung lại nằm trong đó. Khi các khách thể cụ thể mất đi tầm quan trọng gắn liền với vị trí của chúng, thì cái nền tảng nguyên sơ, chưa được phân định của không gian và toàn bộ thế giới sẽ khải lộ; v) Khái niệm Holzwege - theo nghĩa đen là đường vận chuyển gỗ hoặc lối mòn khai thác gỗ trong rừng, nhưng lại đột ngột kết thúc giữa bụi rậm; trong thành ngữ tiếng Đức, cụm từ ‘auf dem Holzweg sein’ có nghĩa là ‘đi sai đường’ hoặc ‘lầm lạc’; Heidegger sử dụng thuật ngữ này để chỉ những con đường dường như ‘dẫn đến hư vô’ - không tới đâu cả, nhưng thực chất lại đưa người tư duy đi sâu vào trung tâm của ‘khu rừng’ - bí ẩn của sự Hiện hữu. -HHN]. Khi đầu tiên chỉ ra đặc tính hiện tượng trạng thái cơ bản của Dasein, cũng như khi làm rõ ý nghĩa mang tính hữu thể của Hữu-thể-trong – để phân biệt với ý nghĩa phạm trù của ‘trạng thái bên trong’ – thì Hữu-thể-trong đã được định nghĩa là ‘cư trú bên cạnh…’, ‘Hữu-thể-quen-thuộc với…’ii. Đặc tính này của ‘Hữu-thể-trong’ sau đó được làm sáng tỏ qua tính công cộng thường nhật của cái ‘họ’; vốn mang lại sự tự tin an nhiên – tức ‘Hữu-thể-ở-nhà’ với tất cả tính hiển nhiên của nó – vào trong đời sống thường nhật của Dasein.iii

Mặt khác, khi Dasein rơi vào trạng thái sa ngã, nỗi lo âu kéo nó trở lại khỏi tình trạng đắm chìm vào ‘thế giới’. Tính quen thuộc thường nhật sụp đổ. Dasein bị cá biệt hóa, nhưng là cá biệt hóa với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. Hữu-thể-trong bước vào ‘phương thức’ mang tính hữu thể của tình trạng ‘không-ở-nhà’. Cái ‘trạng thái lạ lẫm’ của chúng ta không mang ý nghĩa nào khác ngoài điều đó ra. Đến lúc này, xét về mặt hiện tượng, ta có thể thấy rõ thứ mà cú sa ngã – với tư cách là sự trốn chạy – đang cố tránh phải đối mặt với nó. Nó không trốn tránh các thực thể nằm-trong-thế-giới; trái lại, đó chính là những thứ mà nó hướng tới với tư cách là các thực thể bên cạnh mà mối bận tâm của ta, [tr.234] vốn đã lạc lối trong cái ‘họ’, có thể trú ngụ trong sự quen thuộc đầy an nhiên. Chính khi sa đà và trốn chạy vào trạng thái ‘ở-nhà’ của tính chất công cộng, ta lại đang trốn chạy khỏi trạng thái ‘không-ở-nhà’; nghĩa là, ta trốn chạy khỏi tính chất lạ lẫm vốn nằm ngay trong Dasein – trong Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới bị ném vào, kẻ đã bị phó mặc cho chính mình trong Hữu thể của nó. Tính chất lạ lẫm này liên tục đeo bám Dasein và đe dọa sự lạc lối thường nhật của nó trong cái ‘họ’, mặc dù mối đe dọa này không lộ diện một cách tường minh. Trên thực tế, mối đe dọa này có thể song hành cùng sự tự tin và cảm giác tự tại hoàn toàn trong những bận tâm thường nhật của ai đó. Nỗi lo âu có thể nảy sinh ngay cả trong những tình huống vô hại nhất. Nó cũng chẳng cần đến bóng tối – nơi mà người ta thường dễ cảm thấy càng lạ lẫm hơn. Trong bóng tối, quả thực là ‘không có gì’ để nhìn thấy, mặc dù chính thế giới vẫn ‘ở đó’, và hiện diện ở đó một cách đầy áp đảo.

Nếu ta diễn giải tính chất xa lạ của Dasein từ quan điểm hữu thể-bản thể luận như một mối đe dọa tác động trực tiếp lên chính Dasein và khởi phát từ chính Dasein, thì điều đó không có nghĩa là trong trạng thái lo âu xác thực, nó luôn được hiểu theo nghĩa này. Khi Dasein ‘hiểu’ về tính chất xa lạ theo cách thức thường nhật, thì nó thực hiện điều đó bằng cách quay lưng lại với nó trong sa ngã; trong sự quay lưng này, cảm giác ‘không-ở-nhà’ bị làm cho mờ nhạt đi. Tuy nhiên, tính chất thường nhật của sự lẩn tránh này, về phương diện hiện tượng cho thấy lo âu, với tư cách là một tâm thế cơ bản, thuộc về trạng thái cốt yếu Hữu-thể-trong-thế-giới của Dasein; vốn với tư cách là một cấu trúc mang tính hữu thể, không bao giờ hiện-diện-vô-tri mà tự nó luôn ở trong phương thức của một Hữu-thể-ở-đó thực tính4—tức là, trong phương thức của một tâm thế. Loại Hữu-thể-trong-thế-giới vốn an tịnh và thân thuộc thực chất là một phương thức biểu hiện trạng thái xa lạ nơi Dasein, chứ không phải ngược lại. [Chen ngang: Unheimlichkeit trạng thái xa lạ/Không phải ở nhà của Heidegger là tình cảnh không thuộc về nơi chốn nà trong thế giới; đó là khi thực tại quen thuộc thường ngày bị phá vỡ, để lộ ra bản chất kỳ lạ và thiếu vắng nền tảng vững chắc của Dasein hiện hữu người. Un-heimlich - theo nghĩa đen là ‘không mang tính nhà cửa’ hay ‘không giống như ở nhà’. Nó mô tả cảm giác sâu sắc về việc không thuộc về nơi chốn nào hoặc cảm thấy như một kẻ xa lạ ngay tại nơi mà lẽ ra ta phải cảm thấy an toàn và thoải mái. Không chỉ là một cảm xúc: Khác với Sigmund Freud – coi tình trạng không-nhà là một tâm thế hoặc phản ứng rợn ngợp trước sự trở lại của những điều quen thuộc – Heidegger lập luận rằng đây là một trạng thái mang tính bản thể luận; nó mô tả chính bản chất hiện hữu của chúng ta. Đối diện với nỗi lo âu, tâm thế ‘không-nhà’ trỗi dậy mạnh mẽ trong trạng thái lo âu sâu sắc; đó là khi những ý nghĩa thực tiễn của thế giới thường nhật sụp đổ, khiến Dasein hiện hữu người rơi vào trạng thái bàng hoàng và mất phương hướng. Đối với Heidegger, việc gắn liền với nỗi lo âu và sự đứt gãy trong trạng thái đắm mình vào các hoạt động thường nhật, qua đó phơi bày tính chất ‘bị ném vào’ và tính hữu tử của con người. Về sau ông mở rộng thành một đặc tính cơ bản thuộc về bản chất con người; điều này được thể hiện rõ nét qua cách ông diễn giải vở kịch Antigone của Sophocles. Dasein hiện hữu người mang tính ‘không-nhà’ bởi nó tồn tại ngay ở ranh giới giữa che giấu và bộc lộ—tức là đưa sự vật bước ra từ trạng thái vắng mặt tiềm tàng để hiện diện minh nhiên.-HHN] Từ quan điểm hữu thể-bản thể luận, trạng thái ‘không-như-ở-nhà’ cần được xem là hiện tượng mang tính bản nguyên hơn. Chỉ vì nỗi lo âu luôn tiềm ẩn trong Hữu-thể-trong-thế-giới, nên Hữu-thể-trong-thế-giới ấy—với tư cách là một Hữu thể hiện diện bên cạnh ‘thế giới’ và mang tính quan tâm trong tâm thế, nên mới nảy sinh sợ hãi. Sợ hãi chính là lo âu đã sa ngã vào ‘thế giới’, trở nên không-chân-thực, và do đó, tự che giấu chính mình. 

Suy cho cùng, xét về mặt thực tính, tâm thế về cái Unheimlichkeit trạng thái xa lạ/không như ở nhà vẫn là điều mà phần lớn chúng ta không có sự thấu hiểu ở cấp độ existentiell thực hữu-cụ thể. [Chen ngang: Heidegger dùng thuật ngữ existentiell thực hữu-cụ thể thuộc về những cách thức cụ thể, mang tính cá nhân và thực tiễn mà một người thực sự sống, lựa chọn và trải nghiệm sự tồn tại của chính mình. Các ý nghĩa và sự phân biệt chính: Thực hữu Ontic (thuộc về thực thể/sự kiện cụ thể) so với Ontological (thuộc về bản thể luận) - existentiell thực hữu-cụ thể là một vấn đề thuộc phạm vi ontic thực hữu: i) Nó đề cập đến các sự kiện thực tế, cụ thể và những lựa chọn thường ngày của các Dasein hiện hữu người —chẳng hạn như cảm thấy hạnh phúc, lựa chọn nghề nghiệp hay đối mặt với một cuộc khủng hoảng cá nhân; ii) Cái ‘Cái gì’ của Cuộc sống - mô tả thực tại cụ thể, sống động của một cuộc đời cá nhân, thay vì các quy tắc trừu tượng; iii) Sự khác biệt với existential/mang tính hữu thể - trong khi tính thực hữu-cụ thể đề cập đến những lựa chọn cá nhân mà tôi thực hiện, thì existential/ existenzial mang tính hữu thể là việc nghiên cứu mang tính bản thể luận về các cấu trúc phổ quát, nền tảng tạo nên khả năng hiện hữu của con người như bản chất cơ bản của thời gian, sự quan tâm/lo âu, hay tính hữu tử; iv) Cách chúng tương tác – existentiell thực hữu-cụ thể với tư cách một ví dụ cụ thể hoặc hành động thực tế, còn existential/mang tính hữu thể là quy luật tổng quát nằm bên dưới nó. Ví dụ, cảm giác lo âu hay vui vẻ vào một ngày thứ Ba là một trải nghiệm thực hữu-cụ thể, trong khi khả năng phổ quát của con người trong việc bị chi phối hoặc ảnh hưởng bởi các tâm thế lại là một cấu trúc mang tính hữu thể. Tôi không cần phải là một triết gia mới có thể hiểu được cuộc đời mình theo nghĩa thực hữu-cụ thể, nhưng tôi phải cần đến phép phân tích mang tính hữu thể để nghiên cứu triết học về nó.- HHN]. Hơn nữa, dưới sự chi phối của tình trạng sự ngã và tính công cộng, nỗi lo âu ‘đích thực’ là điều hiếm gặp. Lo âu thường bị quy định bởi các yếu tố ‘sinh lý học’. Sự kiện này, trong thực tính của nó, đặt ra một vấn đề mang tính bản thể luận, chứ không chỉ đơn thuần là vấn đề về nguyên nhân và quá trình phát triển ở cấp độ thực hữu. 

Chỉ vì Dasein mang nỗi lo âu ngay trong chiều sâu Hữu thể của mình, nên mới có khả năng nỗi lo âu đó được khơi dậy thông qua các yếu tố sinh lý. Hiếm gặp hơn cả cái Sự thật thực hữu-cụ thể về nỗi lo âu ‘hiện thực’ là những nỗ lực [tr.235] diễn giải hiện tượng này dựa trên các nguyên tắc về Cấu thành và chức năng hữu thể-bản thể luận của nó. Các nguyên do cho vấn đề này một phần nằm ở sự thờ ơ chung đối với việc phân tích hữu thể về Dasein, nhưng cụ thể hơn là do thất bại trong việc nhận diện hiện tượng ‘tâm thế’.iv Tuy nhiên, tình trạng hiếm gặp thực tế của lo âu với tư cách một hiện tượng không thể tước bỏ khả năng đảm nhận một chức năng phương pháp luận mang tính nguyên tắc của nó đối với phép phân tích hữu thể. Trái lại, tình trạng hiếm gặp của hiện tượng này lại là dấu hiệu cho thấy Dasein—vốn phần lớn vẫn bị che giấu khỏi chính mình trong tính chân thực do cách thức sự vật được diễn giải công khai bởi das Man cái ‘họ’—lại có thể được bộc lộ theo nghĩa bản nguyên trong tâm thế cơ bản này. Tất nhiên, yếu tố cốt yếu của mọi tâm thế là việc Hữu-thể-trong-thế-giới luôn được bộc lộ trọn vẹn trong tất cả các thành tố cấu thành nên nó: thế giới, Hữu-thể-trong, và Tự ngã. Nhưng trong lo âu lại tiềm ẩn khả tính bộc lộ một cách vô cùng đặc biệt; bởi lẽ lo âu trở nên cá nhân hóa. Cái cá nhân hóa này đưa Dasein trở về từ trạng thái sa ngã, đồng thời làm hiển lộ cho nó thấy rằng tính chân thực và tính không chân thực đều là những khả tính thuộc về Hữu thể của nó. Những khả tính cơ bản này của Dasein (và Dasein trong mỗi trường hợp đều là của tôi) tự bộc lộ trong nỗi lo âu đúng như bản chất tự thân của chúng—không bị che đậy bởi các thực thể trong-thế-giới, những thứ mà thoạt đầu và phần lớn, Dasein thường bám víu vào. Liệu cách diễn giải hữu thể về nỗi lo âu này đã đạt đến mức độ nào trong việc thiết lập một cơ sở hiện tượng học để trả lời câu hỏi chủ đạo về Hữu thể của tổng thể cấu trúc Dasein?

41. Hữu thể của Dasein với tư cách Quan tâm

Vì mục tiêu của chúng ta là nắm bắt toàn bộ cấu trúc này dưới góc độ bản thể luận, nên trước hết ta phải tự hỏi liệu hiện tượng lo âu và những gì được bộc lộ trong đó có thể mang lại cho ta cái tổng thể về Dasein theo một cách thức có tính chất đồng bản nguyên về phương diện hiện tượng hay không [Chen ngang: gleichursprünglich/equiprimordial Heidegger sử dụng thuật ngữ ‘đồng bản nguyên’ - có ‘cùng nguồn gốc ban đầu/ hoặc ‘đồng khởi thủy’ để mô tả hai hay nhiều hiện tượng, cấu trúc hoặc khái niệm có tính chất nền tảng ngang nhau, phụ thuộc lẫn nhau, và không cái nào có thể được suy ra hay quy giản về cái kia. Các ý nghĩa cốt lõi bao gồm: i) Tính đồng bản nguyên - cùng xuất hiện ở cùng một cấp độ nền tảng, không có sự phân cấp về mặt thời gian hay logic giữa chúng; ii) Tính phụ thuộc lẫn nhau - chúng cần có nhau để tồn tại và mang lại ý nghĩa; nếu loại bỏ một yếu tố, tính toàn vẹn cấu trúc của toàn bộ hệ thống sẽ sụp đổ; iii) Tính bất khả quy giản - không thể giải thích một yếu tố bằng cách quy giản nó thành sản phẩm phụ của yếu tố kia. Heidegger thường sử dụng khái niệm này để bác bỏ các cách giải thích mang tính tuyến tính hoặc quy giản về Dasein hiện hữu người: i) Các cấu trúc cốt lõi của Hữu-thể-trong-thế-giới: theo Heidegger befindlichkeit tâm thế/tâm trạng, verstehen thấu hiểu, và rede diễn ngôn/lời nói là đồng bản nguyên; ii) Tâm thế luôn đi kèm sự thấu hiểu, và sự thấu hiểu luôn được cảm nhận trong một tâm trạng; không yếu tố nào cơ bản hơn yếu tố kia; ii) Sự sa ngã, tình trạng bị ném vào thế giới, và sự phóng chiếu – cuộc dấn thân của Dasein vào thế giới, trạng thái ‘bị ném vào’ (quá khứ) và sự phóng chiếu (hướng về tương lai) của nó là những đặc điểm đồng bản nguyên của tồn tại mang tính thời gian của nó.-HHN]; và liệu chúng có thể thực hiện điều đó theo cách mà khi ta khảo sát kỹ lưỡng toàn thể này, cái nhìn của ta về nó sẽ được lấp đầy bởi những gì đã được hiển lộ hay không. Toàn bộ nội dung hàm chứa trong đó có thể được liệt kê và ghi nhận một cách hình thức như sau: trạng thái lo âu với tư cách một tâm thế là một cách thức của Hữu-thể-trong-thế-giới; đối tượng khiến ta lo âu chính là Hữu-thể-trong-thế-giới trong tính chất ‘bị ném vào’; và điều mà ta lo âu hướng tới chính là cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới của bản thân ta. Như vậy, toàn bộ hiện tượng lo âu cho thấy Dasein là một Hữu-thể-trong-thế-giới đang hiện hữu một cách thực sự; các đặc tính bản thể luận cơ bản của nó là tính hữu thể, thực tính và Hữu thể-sa ngã. Những đặc tính hữu thể này không phải là các mảnh ghép rời rạc của một chỉnh thể tổng hợp—nơi mà đôi khi một mảnh có thể bị thiếu hụt—mà thay vào đó, chúng đan kết với nhau tạo thành một mối liên hệ bản nguyên, cấu thành nên [tr.236] tổng thể cấu trúc mà ta đang tìm kiếm. Trong cái nhất tính các đặc tính thuộc về Hữu thể của Dasein mà ta đã đề cập, thì Hữu thể này trở thành một cái gì đó mà ta có thể nắm bắt được dưới góc độ bản thể luận. Vậy, bản thân nhất tính này cần được đặc tả như thế nào?

Dasein là một hiện hữu mà đối với nó, ngay trong chính Hữu thể của mình, thì Hữu thể ấy cũng là một vấn đề. Cụm từ ‘là một vấn đề’ đã được làm sáng tỏ qua trạng-thái-Hữu-thể của sự thấu hiểu về thấu hiểu với tư cách là Hữu thể tự-phóng-chiếu hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính mình. Tiềm năng này chính là thứ vì-mục-đích-của-cái-mà bất kỳ Dasein nào cũng hiện hữu như cách nó vốn vậy. Trong mỗi trường hợp, Dasein đã tự so sánh chính mình—trong Hữu thể của nó—với một khả tính của chính mình. Hữu thể-tự do hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính mình —và qua đó hướng tới cái khả tính đích thực và không đích thực—được bộc lộ một cách cụ thể, nguyên thủy và căn bản trong trạng thái lo âu. Tuy nhiên, về phương diện bản thể luận, việc Hữu thể hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính mình có nghĩa là trong mỗi trường hợp, Dasein luôn ‘đi trước chính mình’ ngay trong Hữu thể của nó. Dasein luôn ‘vượt ra ngoài chính mình’—không phải theo cách ứng xử với các hiện hữu khác không phải là nó, mà là Hữu thể hướng tới chính tiềm-năng-cho-Hữu-thể vốn là bản thân nó. Chúng ta sẽ gọi cấu trúc Hữu thể này—vốn thuộc về cái bản chất ‘là một vấn đề’ nêu trên—với tư cách ‘Being-ahead-of-itself’ ‘Hữu-thể-đi-trước-chính-mình’ của Dasein.

Song, cấu trúc này gắn liền với tổng thể cấu thành của Dasein. ‘Hữu thể-đi-trước-chính-mình’ không biểu nghĩa bất kỳ một khuynh hướng biệt lập nào ở một ‘chủ thể’ phi thế giới, mà nó đặc trưng cho chính Hữu-thể-trong-thế-giới. Tuy nhiên, thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới lại là sự thật ở chỗ Dasein đã bị phó mặc cho chính mình—và trong mỗi trường hợp, nó đã ‘bị ném’ vào một thế giới. Sự phó mặc của Dasein cho chính nó được bộc lộ một cách cụ thể và nguyên thủy trong trạng thái lo âu. Nếu hiểu một cách trọn vẹn hơn, ‘Hữu-thể-đi-trước-chính-mình’ có nghĩa là ‘đi-trước-chính-mình trong-khi-đã-hiện-hữu-trong-thế-giới’. Ngay khi cấu trúc về bản chất là đơn nhất này được nhìn nhận như một hiện tượng, thì những gì chúng ta đã trình bày trước đó trong phần phân tích về thế gian tính cũng trở nên sáng tỏ. Kết quả của sự phân tích đó là: tổng thể tính quy chiếu về ý nghĩa (vốn đúng nghĩa cấu thành nên tính-thế-gian) đã được ‘gắn kết’ với một cái vì-mục-đích-của-cái-mà’, cái Sự thật mà tổng thể tính quy chiếu này— bao gồm đa tạp các mối quan hệ ‘để-mà’—đã gắn liền với cái vốn là một vấn đề đối với Dasein, không có nghĩa là một ‘thế giới’ các Đối tượng, vốn hiện-diện-vô-tri đã bị gắn kết với một chủ thể. Thay vào đó, đây là sự biểu hiện mang tính hiện tượng cho thấy cái cấu thành của Dasein—vốn được làm sáng tỏ một cách tường minh qua đặc tính ‘vượt-trước-chính-mình-trong-Hữu-thể-đã-hiện-hữu-trong...’—về căn bản là một chỉnh thể bản nguyên. Nói cách khác, tồn tại luôn mang là thực tính. Existentiality Hữu thể tính về bản chất được quy định bởi thực tính. Hơn nữa, hiện hữu thực tính của Dasein không chỉ đơn thuần là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới trong trạng thái bị ném vào; nó còn [tr.237] luôn đắm mình trong thế giới của những mối quan tâm. Trong trạng thái Hữu-thể-bên-cạnh sa ngã này, việc trốn chạy khỏi tình trạng xa lạ không như ở nhà (vốn thường bị che giấu bởi nỗi lo âu tiềm tàng do tính công khai của cái ‘họ’ luôn kìm hãm mọi thứ xa lạ—sẽ tự bộc lộ, bất kể có tường minh hay không, và bất kể có được thấu hiểu hay không.

Cái Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình-trong-khi-đã-hiện-hữu-trong-thế-giới về bản chất bao hàm cả tình trạng sa ngã và cái Hữu-thể-bên-cạnh những sự vật sẵn-có-để-dùng trong-thế-giới mà ta bận tâm đến. Do đó, cái tổng thể tính mang tính hữu thể về mặt hình thức thuộc chỉnh thể cấu trúc bản thể luận của Dasein cần được nắm bắt qua cấu trúc sau: cái Hữu thể của Dasein có nghĩa là vượt-trước-chính-mình-Hữu-thể-trong-khi-đã-ở-trong-(thế-giới) với tư cách là Hữu-thể-bên-cạnh (các thực thể bắt gặp trong-thế-giới). Hữu thể này thay thế ý nghĩa của thuật ngữ ‘quan tâm’—vốn được sử dụng hoàn toàn theo ontologicoexistential manner cung cách thuần túy  hữu thể-bản thể luận. Từ ý nghĩa này, mọi khuynh hướng Hữu thể vốn có thể được hình dung theo nghĩa thực hữu—chẳng hạn như nỗi lo lắng hay sự vô tư lự—đều bị loại trừ. Vì Hữu-thể-trong-thế-giới về bản chất là ‘quan tâm’, nên cái Hữu-thể-bên-cạnh các sự vật sẵn-có-để-dùng có thể được hiểu trong các phân tích trước đây của chúng ta với tư cách quan tâm, và Hữu thể với cái Dasein-với của những Kẻ Khác—khi ta bắt gặp nó trong-thế-giới có thể được hiểu là ‘ân cần’5. Hữu-thể-bên-cạnh một sự vật chính là quan tâm, bởi vì nó được xác định như một cách thức của Hữu-thể-trong thông qua cấu trúc cơ bản của nó—tức là chăm lo. Chăm lo không chỉ đặc trưng cho tính hữu thể—như khi tách biệt khỏi tính hành động và trạng thái sa ngã—mà trái lại, còn bao nhất tính của các cách thức mà qua đó Hữu thể được đặc trưng hóa.

Do đó, ‘chăm lo’ không đại diện chủ yếu và duy nhất cho một thái độ biệt lập của cái ‘Tôi’ đối với chính nó. Nếu ta tạo ra cụm từ Selbst-Sorge ‘chăm lo cho bản thân’ theo lối tương tự như Besorgen ‘quan tâm’ và Fürsorge ‘ân cần’, thì đó sẽ là một sự lặp thừa. ‘Chăm lo’ không thể đại diện cho một thái độ đặc biệt nào đó đối với cái Tự ngã; bởi vì Tự ngã đã được đặc trưng hóa về mặt bản thể luận bởi cái Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình—một đặc tính mà trong đó hai yếu tố còn lại của cấu trúc ‘chăm lo’—là Hữu-thể-đã-ở-trong...và Hữu-thể-bên-cạnh...—đã cùng được đặt định. Trong cái Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình—với tư cách là Hữu thể hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính mình—chính là điều kiện hữu thể-bảnthể luận cho khả tính của Hữu thể-tự do lựa chọn các khả tính thực hữu-cụ thể đích thực. Vì lợi ích của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của mình, bất kỳ Dasein nào cũng tồn tại đúng như thực tế mà nó đang tồn tại. Tuy nhiên, chừng nào cái Hữu thể hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể này còn được đặc trưng bởi sự tự do, thì Dasein vẫn có thể định hướng bản thân tới các khả tính của mình, ngay cả khi không tự nguyện; nó có thể hiện hữu một cách không-đích-thực; và trên thực tế, phần lớn thời gian và ngay từ bước đầu, nó hiện hữu một cách không-đích-thực. Cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ mang tính đích thực vẫn chưa được [tr.238] nắm bắt; sự phóng chiếu của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình đã bị phó mặc cho sự định đoạt của das Man cái ‘họ’. Do đó, khi nói đến Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình, thì cái ‘chính-mình’ mà ta đang nghĩ đến, trong mỗi trường hợp, chính là cái Tự ngã theo nghĩa cái Tự ngã của Cái họ. Ngay cả trong trạng thái không-đích-thực, Dasein về bản chất vẫn luôn vượt trước chính mình; cũng như việc trốn chạy khỏi chính mình khi sa ngã vẫn cho thấy nó mang trạng thái-Hữu-thể của một thực thể mà Hữu thể của nó vẫn là một vấn đề.

Chăm lo, với tư cách là một chỉnh thể cấu trúc bản nguyên, nằm ‘trước’ mọi ‘thái độ’ và ‘tình huống’ thực tế của Dasein, và nó hiện hữu mang tính hữu thể tiên nghiệm; điều này có nghĩa là nó luôn hiện diện trong chính những thái độ và tình huống đó. Vì vậy, hiện tượng này hoàn toàn không biểu thị sự ưu tiên của thái độ ‘thực tiễn’ so với thái độ lý thuyết. Khi ta xác định một sự vật hiện-diện-vô-tri chỉ bằng cách quan sát nó, thì hoạt động này cũng mang tính chất chăm lo y hệt như một ‘hành động chính trị’ hay việc nghỉ ngơi và tận hưởng thú vui vậy. ‘Lý thuyết’ và ‘thực hành’ là những khả tính của Hữu thể cho một thực thể mà Hữu thể của nó phải được định nghĩa là ‘chăm lo’. Hiện tượng chăm lo xét trong tổng thể tính của nó về bản chất là một điều không thể bị chia cắt; do đó, mọi nỗ lực quy nó về các hành động hay thúc đẩy đặc biệt—như ý chí và ước muốn, hay sự thôi thúc và thói nghiện ngập6—hoặc xây dựng nó từ những yếu tố này, đều sẽ thất bại. Ý chí và ước muốn bắt rễ—với tính tất yếu về mặt bản thể luận—nơi Dasein với tư cách chăm lo; chúng không chỉ đơn thuần là những Trải nghiệm chưa được phân biệt về mặt bản thể luận, diễn ra trong một ‘dòng chảy’ hoàn toàn bất định về ý nghĩa Hữu thể của nó. Điều này cũng đúng với sự thôi thúc và thói nghiện ngập. Chúng cũng có nền tảng là chăm lo, chừng nào chúng còn có thể biểu hiện ở Dasein. Điều này không ngăn cản chúng đóng vai trò cấu thành về mặt bản thể luận, ngay cả đối với những hiện hữu chỉ đơn thuần ‘sống’. Tuy nhiên, trạng thái bản thể luận cơ bản của hành động ‘sống’ là một vấn đề tự thân và chỉ có thể được giải quyết theo hướng quy giản và xác định dù còn thiểu khuyết dựa trên nền tảng bản thể luận về Dasein. Chăm lo có vị thế bản thể luận ‘sớm hơn’ các hiện tượng vừa nêu—mà ta vốn thừa nhận là có thể, trong những giới hạn nhất định, luôn được ‘mô tả’ một cách thỏa đáng mà không cần phải nhìn thấy toàn bộ chân trời bản thể luận, hay thậm chí không cần phải thân thuộc với nó. Từ quan điểm của cuộc khảo sát hiện tại về bản thể luận nền tảng — vốn không đặt mục tiêu xây dựng một bản thể luận trọn vẹn về phương diện chủ đề đối của Dasein thậm chí cũng không phải là một nhân học cụ thể — thì phải chỉ ra được cách thức mà các hiện tượng này được đặt nền tảng về phương diện hữu thể trong Sorge ‘chăm lo’.

Chính cái Seinkönnen tiềm năng-cho-Hữu thể —vì mục đích của cái mà Dasein hiện hữu — lại có Hữu-thể-trong-thế-giới với tư cách là loại Hữu thể của nó. Do đó, về mặt bản thể luận, nó hàm ý một mối liên hệ với các thực thể ở-trong-thế-giới. Chăm lo luôn bao hàm cả Besorgen quan tâm Fürsorge ân cần, [tr.239] ngay cả khi còn thiểu khuyết. Trong ý chí, một thực thể đã được thấu hiểu — tức là nó đã được phóng chiếu vào khả tính của chính nó — sẽ được nắm bắt; nó được nắm bắt hoặc như một đối tượng để ta quan tâm, hoặc như một đối tượng cần được đưa vào Hữu thể của nó thông qua thái độ ân cần. Vì thế, bất kỳ ý chí nào cũng gắn liền với một đối tượng được mong muốn; đối tượng này đã được xác định rõ ràng trong khuôn khổ yếu tố ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’. Nếu ý chí là khả thể về phương diện bản thể luận, thì các yếu tố sau đây đóng vai trò cấu thành: (1) Trạng thái được bộc lộ trước của cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ nói chung (Hữu-thể-đi-trước-chính-mình’); (2) Trạng thái được bộc lộ của một điều gì đó mà ta có thể quan tâm đến (thế giới với tư cách là ‘nơi-mà-trong-đó’ của Hữu- thể-đã); 7 (3) Sự phóng chiếu tự thấu hiểu của Dasein —lên một tiềm-năng-cho-Hữu-thể hướng tới một khả tính của cái thực thể ‘được ý chí cấu thành’. Trong hiện tượng ‘ý chí’, tổng thể tính nền tảng của ‘chăm lo’ được bộc lộ rõ ràng.

_______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 'Allein dieses Nichts von Zuhandenem, das die alltiigliche umsichtige Rede einzig versteht, ist kein totales Nichts.' This sentence is grammatically ambiguous.

2 'Die Angst bringt das Dasein vor sein Freiseinfür…(propensio in…) die Eigentlichkeit seines Seins als Maglichkeit, die es immer schon ist.

3 'Befindlichkeit, so wurdefriiher gesagt, macht offenbar, "wie einem ist". In der Angst ist einem "unheimlich".' The reference is presumably to H. 134 above. While 'unheimlich' is here translated as 'uncanny', it means more literally'unhomelike', as the author proceeds to point out.

4 Here we follow the earlier editions in reading 'Da-seins'. In the later editions the hyphen appears ambiguously at the end of a line.

5 Cf. H. 121 and 131 above.

6 …besondereAkte oder Triebe wie Wollen und Wiinschen oder Drang und Hang…’ cf. H. 182.

7 ‘…(Welt als das Worin des Schon-seins)…’

 

 

 

 

   

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

A. Cấu thành Hiện sinh của cái ‘Ở-đó’

[Tr. 221] Bằng cách làm sáng tỏ về mặt bản thể luận loại Hữu thể thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới thường nhật khi nó hiển lộ qua các hiện tượng này, trước hết chúng ta xác định được một cách thỏa đáng về phương diện hiện sinh đối với trạng thái cơ bản của Dasein. Cái  gì là cấu trúc cho thấy ‘vận động’ sa ngã? Phiếm đàm và cách thức sự vật được diễn giải công khai (bao gồm cả bản thân phiếm đàm) tự cấu thành trong Hữu-thể-với-nhau. Phiếm đàm không phải là một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri vì tự thân trong thế giới, như một sản phẩm tách rời khỏi Hữu-thể-với-nhau. Nó cũng không hề biến thành một cái gì đó ‘phổ quát’ – thứ vốn không thuộc về ai cả nên ‘thực sự’ chẳng là gì, và chỉ xuất hiện như là ‘Thực’ ở cá nhân Dasein đang nói. Phiếm đàm là loại Hữu thể thuộc về tự thân Hữu-thể-với-nhau; nó không nảy sinh từ những hoàn cảnh nhất định tác động lên Dasein ‘từ bên ngoài’. Tuy nhiên, nếu chính Dasein – trong phiếm đàm và trong cách thức sự vật được diễn giải công khai – tự hiện diện trước cái khả tính đánh mất bản thân vào trong das Man cái ‘họ’ và Absturz in die Bodenlosigkeit ‘sa ngã vào tình trạng vô sở cứ’, thì điều này cho thấy Dasein tự tạo ra cho mình một sự cám dỗ thường trực hướng tới sa ngã. [Chen ngang: Heidegger dùng cụm từ Absturz in die Bodenlosigkeit để mô tả một chuyển động cốt lõi của Dasein hiện hữu người khi nó đánh mất bản ngã đích thực và bị cuốn vào đời sống xã hội thường nhật. Để hiểu tại sao Dasein lại sa ngã vào tình trạng vô sở cứ, cần xem xét các khái niệm của Heidegger về Sa ngã và cái ‘Họ’: i) Cái bẫy của đời sống thường nhật thiếu tính đích thực. Tôi làm những gì ‘họ’ làm, phiếm đàm những gì ‘họ’ phiếm đàm, và chạy theo các trào lưu xã hội. Heidegger gọi quá trình này là Verfallen ‘Sa ngã’. Dasein bị cuốn vào vòng xoáy xã hội, hoàn toàn xao nhãng khỏi khả tính đích thực của chính mình; ii) Bản chất của Absturz cú lao xuống - sự trôi dạt này không phải là một trạng thái tĩnh tại; nó là một chuyển động dữ dội, tự thúc đẩy. Heidegger viết rằng Dasein ‘lao từ chính mình vào chính mình, vào Bodenlosigkeit tình trạng vô sở cứ và tình trạng hư vô của đời sống thường nhật thiếu tính đích thực’. Dasein tưởng rằng mình đang ‘vươn lên’ hoặc sống một cuộc đời trọn vẹn vì đạt được thành công theo các chuẩn mực xã hội, nhưng thực ra nó đang lao xa khỏi bản ngã đích thực của mình; iii) Bodenlosigkeit tình trạng vô sở cứ - đó là sống hoàn toàn dựa vào dư luận xã hội đồng nghĩa với việc các giá trị, bản sắc và lựa chọn của Dasein không có một ‘nền tảng’ đích thực nào; nó không có điểm tựa vững chắc vì luôn trôi nổi theo bất cứ điều gì mà xã hội coi trọng tại thời điểm đó; Dasein trải nghiệm sự mất mát hoàn toàn về cội rễ hay nền tảng vững chắc; iv) Bước ngoặt tích cực - Sự lo âu: mặc dù cú rơi tự do này nghe có vẻ hoàn toàn tiêu cực, nhưng nó lại đóng vai trò then chốt; khi Dasein nhận ra mình đang rơi vào trạng thái Bodenlosigkeit vô sở cứ, điều đó khơi dậy một tâm cảm sâu sắc lo âu mang tính hữu thể. Chính sự đối diện kinh hoàng với tình trạng thiếu vắng nền tảng ấy đã đánh thức Dasein khỏi cơn mê trong đời sống xã hội, buộc nó phải giành lại tự do, đối diện với tính hữu hạn của kiếp người và sống một cuộc đời đích thực.- HHN]. Tự thân Hữu-thể-trong-thế-giới mang tính cám dỗ.

[Tr. 222] Vì cách thức sự vật được diễn giải công khai đã tự trở thành một sự cám dỗ theo cách này, nên nó giữ chặt Dasein trong trạng thái sa ngã của nó. Phiếm đàm và tình trạng mơ hồ –đã thấy mọi thứ, hiểu hết mọi sự – tạo ra giả định rằng trạng thái bộc lộ của Dasein, vốn rất sẵn có và phổ biến, có thể đảm bảo cho Dasein về mọi khả tính Hữu thể của nó đều sẽ được an toàn, chân thực và trọn vẹn. Thông qua cái die Selbstgewissheit tự xác tính và tính quyết đoán của cái ‘họ’, một quan niệm ngày càng lan rộng cho rằng chẳng cần đến sự thấu hiểu đích thực hay tâm thế đi kèm với nó. Giả định của cái ‘họ’ cho rằng người ta đang sống và duy trì một ‘cuộc đời’ trọn vẹn và đích thực – mang lại cho Dasein một tâm trạng an tịnh, nơi mọi thứ đều ‘ổn thỏa nhất’ và mọi cánh cửa đều rộng mở. Trạng thái sa ngã của Hữu-thể-trong-thế-giới — vốn tự lôi cuốn chính nó — đồng thời cũng mang lại tâm trạng an tịnh. Tuy nhiên, tâm thế ấy trong cái Hữu thể không đích thực này không cám dỗ con người rơi vào trạng thái trì trệ hay thụ động, mà trái lại, thúc đẩy họ lao vào guồng quay hối hả, tất bật. Việc sa ngã vào ‘thế giới’ không hề dẫn đến tĩnh tại hay nghỉ ngơi thực sự; trái lại, sự an tâm đầy cám dỗ ấy càng làm trầm trọng thêm trạng thái sa ngã. Liên quan đến việc diễn giải về Dasein, có thể nảy sinh quan điểm cho rằng việc thấu hiểu những nền văn hóa xa lạ nhất và ‘tổng hòa’ chúng với văn hóa của chính mình sẽ giúp Dasein lần đầu tiên đạt được sự giác ngộ trọn vẹn và đích thực về bản thân.

Tính tò mò đa năng cùng thói ham hiểu biết không ngừng nghỉ thường khoác lên mình vẻ ngoài của một sự thấu hiểu phổ quát về Dasein. Song, xét đến cùng, điều thực sự cần được thấu hiểu vẫn là một ẩn số, thậm chí câu hỏi về điều đó còn chưa từng được đặt ra. Người ta cũng chưa hiểu rằng bản thân sự thấu hiểu là một Seinkönnen ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể’ cần được giải phóng ngay trong chính Dasein của mỗi cá nhân. [Chen ngang: Heidegger dùng thuật ngữ Seinkönnen/ ability-to-be/ potentiality-for-Being để biểu thị tồn tại người không được định nghĩa bởi một bản chất cố định, mà bởi khả tính không ngừng phóng chiếu bản thân hướng tới những khả tính trong tương lai. Ý nghĩa cốt lõi của Seinkönnen bao gồm: i) Không có bản chất cố định: Khác với các vật thể vô tri hay công cụ vốn có mục đích định sẵn, Dasein hiện hữu người  mang tính linh hoạt và kết-mở. Về cơ bản, chúng ta được định nghĩa bởi những gì chúng ta có thể trở thành; ii) Tự phóng chiếu - To exist tồn tại nghĩa là thấu hiểu hoàn cảnh của mình và ‘phóng chiếu’ bản thân vào những lựa chọn cũng như các lối sống tiềm năng khác nhau; iii). Tính chân thực - nhận thức được Seinkönnen của mình đồng nghĩa với việc làm chủ các lựa chọn thay vì mù quáng chạy theo những kỳ vọng của xã hội (das Man cái ‘họ’ – một khái niệm phi cá nhân); iv) Vai trò của Tính hữu hạn và Cái chết - Khả tính Tối hậu: Heidegger liên kết trực tiếp tiềm năng này với tính khả tử của con người; v) Sein-zum-Tode Hữu-thể-hướng-tới-cái-chết: Cái chết là khả tính tột cùng và chắc chắn nhất của chúng ta; việc nhận ra thời gian có hạn giúp ta tỉnh thức khỏi những xao nhãng thường nhật và thôi thúc ta sử dụng Seinkönnen của mình một cách chân thực. -HHN]. Khi Dasein, trong trạng thái an tâm và tưởng chừng ‘thấu hiểu’ mọi sự, vì vậy mà đem bản thân so sánh với vạn vật, thì nó dần trôi dạt vào Entfremdung tha hóa, nơi mà ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể’ cốt lõi nhất của chính nó bị che khuất. Trạng thái sa ngã của Hữu-thể-trong-thế-giới không chỉ mang tính cám dỗ và an tâm trấn tĩnh, mà đồng thời còn gây ra sự tha hóa.

Tuy nhiên, tình trạng tha hóa này không có nghĩa là Dasein bị tách rời khỏi chính mình trên bình diện thực tế. Trái lại, sự tha hóa ấy đẩy Dasein vào một loại Hữu thể tiệm cận với sự ‘mổ xẻ bản thân’ thái quá; nó tự cám dỗ mình bằng vô vàn khả tính lý giải, đến mức chính những hệ thống ‘phân loại tính cách’ hay các ‘loại hình học’ do nó tạo ra1 cũng trở nên quá phức tạp, không thể bao quát được trong một cái nhìn. Sự tha hóa này ngăn trở Dasein tiếp cận tính đích thực và khả tính của chính mình — dù đó chỉ là khả tính thất bại một cách đích thực. Dẫu vậy, nó không phó mặc Dasein cho một thực thể xa lạ nào khác, mà ép buộc Dasein phải dấn thân vào [tr.223] tính không-đích-thực của chính mình — một loại Hữu thể khả dĩ của chính nó. Sự tha hóa của trạng thái ‘sa ngã’ — vừa đầy cám dỗ vừa mang lại cảm giác an tĩnh — tự thân nó dẫn đến việc Dasein bị vướng mắc vào chính mình.  

Các hiện tượng mà chúng tôi đã chỉ ra—cám dỗ, yên ổn hóa, tình trạng tha hóa và tự vướng mắc—đặc trưng cho loại Hữu thể cụ thể thuộc về sự sa ngã. Chúng tôi gọi ‘vận động’ này của Dasein trong chính Hữu thể của nó là Absturz ‘cú lao xuống’. Dasein lao từ chính mình vào trong chính  mình, vào tình trạng vô sở cứ và tính hư vô của đời sống thường nhật không đích thực. Tuy nhiên, cú lao này vẫn bị che giấu khỏi Dasein bởi ‘cách thức sự vật được diễn giải công khai’, đến mức nó thậm chí còn được diễn giải như một cách ‘vươn lên’ và ‘sống một cách cụ thể’. Cú lao vào và ở bên trong tình trạng vô sở cứ của trạng thái Hiện hữu không đích thực thuộc về das Man cái ‘họ’ này mang một kiểu chuyển  động liên tục giật tung cái thấu hiểu ra khỏi việc phóng chiếu các khả tính đích thực, để đẩy nó vào niềm tin yên ổn rằng nó sở hữu mọi thứ, hoặc mọi thứ đều nằm trong tầm với. Vì hiểu biết liên tục bị giật ra khỏi tính đích thực và bị kéo về phía das Man cái ‘họ’ (dù luôn khoác lên vẻ ngoài giả tạo của tính đích thực), nên chuyển động sa ngã mang đặc tính của Wirbel cơn lốc xoáy. Sa ngã không chỉ mang tính quyết định về mặt hữu thể đối với Hữu-thể-trong-thế-giới. Đồng thời, Wirbel cơn lốc xoáy bộc lộ tình trạng bị ném vào—thứ có thể áp đặt lên Dasein trong tâm thế của nó—mang đặc tính của hành động ném vào và của chuyển động. Tình trạng bị ném vào không phải là một ‘sự kiện đã hoàn tất’ hay Sự kiện đã an bài.2  Thực tính của Dasein có đặc điểm là chừng nào Dasein còn là chính nó, thì nó vẫn ở trong cú ném đó và bị hút vào vòng xoáy của tính không đích thực thuộc về das Man cái ‘họ’. Tình trạng bị ném vào—trạng thái mà qua đó thực tính tự bộc lộ dưới dạng hiện tượng—thuộc về Dasein, đối với nó vốn ngay trong Hữu-thể của mình, chính Hữu-thể đó lại là một vấn đề. Dasein thực sự tồn tại. Nhưng giờ đây, khi sa ngã đã phơi bày, chẳng phải đã trình bày một hiện tượng trực tiếp ngược lại với định nghĩa đã từng dùng để chỉ ra ý niệm hình thức về sự tồn tại hay sao?

Liệu có thể quan niệm Dasein như một thực thể mà đối với nó, ngay trong Hữu thể của mình, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của nó là một vấn đề, nếu thực thể này—ngay trong đời sống thường nhật—đã đánh mất chính mình, và trong trạng thái sa ngã, lại ‘sống’ xa rời chính bản thân mình sao? Tuy nhiên, tình trạng ‘sa ngã vào thế giới’ chỉ được coi là ‘bằng chứng’ mang tính hiện tượng chống lại tính hiện sinh của Dasein nếu Dasein được xem như một cái ‘Tôi’ hay một chủ thể biệt lập, một Selbstpunkt điểm tựa của bản ngã mà từ đó nó tách rời ra. [Chen ngang: Heidegger dùng Selbstpunkt nhằm bác bỏ các quan niệm truyền thống và biệt lập về bản sắc con người, chẳng hạn cái tôi (ego) kiểu Descartes hay một ‘chủ thể’ tách biệt. Theo  Heidegger Dasein hiện hữu người  không phải là một điểm ý thức tĩnh tại, biệt lập bị giam hãm bên trong cơ thể. Triết học truyền thống với cái ‘Tôi’ kiểu Descartes coi ‘bản ngã’ là một Ichpunkt Ngã-điểm hoặc Selbstpunkt Tự ngã điểm - một tọa độ cố định, nằm bên trong, từ đó nhìn ra thế giới bên ngoài của các sự vật. Heidegger gọi đây là một sự trừu tượng hóa khiên cưỡng. Vị thế tự ngã [Selbstheit một phương thức tồn tại năng động] với tư cách là ‘Hữu-thể-trong-thế-giới: Đối với Heidegger, cái Selbsterkenntnis tự tri đích thực không phải là vấn đề quay vào bên trong để nhìn chằm chằm vào một Ichpunkt Ngã-điểm hoặc Selbstpunkt Tự ngã điểm đơn độc. Thay vào đó, Tự ngã là một quá trình mang tính quan hệ và diễn tiến không ngừng của ‘Hữu-thể-trong-thế-giới. Tự ngã mang tính động - tôi không thể chỉ vào một ‘chấm’ duy nhất trong không gian hay tâm trí và nói ‘đó chính là tôi’. Tôi tồn tại trải dài theo thời gian, đan xen với những công cụ tôi sử dụng, nền văn hóa tôi sống trong đó và những dự phóng tôi theo đuổi.-HHN] Trong trường hợp đó, thế giới sẽ là một Khách thể. Khi ấy, tình trạng sa ngã vào thế giới sẽ phải được tái diễn giải theo bình diện bản thể luận như là Hiện-diện-vô-tri theo kiểu một thực thể bên-trong-thế-giới. Tuy nhiên, nếu ta lưu tâm rằng Hữu thể của Dasein là trạng thái Hữu-thể-trong-thế-giới – như đã chỉ ra trước đó – thì sẽ thấy rõ rằng sa ngã, với tư cách là một loại Hữu thể của cái Hữu-thể-trong này, lại mang đến cho ta bằng chứng căn bản nhất về hiện sinh tính của Dasein.

Trong sa ngã, vấn đề cốt lõi không gì khác ngoài cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới của chúng ta, ngay cả khi nó diễn ra dưới phương thức thiếu tính đích thực. Dasein chỉ có thể sa ngã vì Hữu-thể-trong-thế-giới –thấu hiểu với một tâm thế – là một vấn đề đối với nó. Mặt khác, tồn tại đích thực không phải là thứ gì đó lơ lửng bên trên cái thường nhật đầy sa ngã kia; xét về mặt hiện sinh, nó chỉ là một cách thức biến đổi mà qua đó cái thường nhật ấy được nắm bắt. Hiện tượng sa ngã không mang lại cho ta cái gì đó giống như một ‘góc nhìn đêm’ của Dasein – một thuộc tính xuất hiện ở bình diện ontic thực hữu và chỉ đóng vai trò bổ sung cho những khía cạnh vô hại của thực thể này. Sa ngã bộc lộ một cấu trúc bản thể luận cốt yếu của chính Dasein. Thay vì chỉ định mặt về đêm của nó, sa ngã lại cấu thành nên toàn bộ các ‘ban ngày’ của Dasein trong cái thường nhật của chúng. Theo đó, phép diễn giải mang tính hiện sinh-bản thể luận của chúng ta không đưa ra bất kỳ khẳng định ontic thực hữu nào về ‘tình trạng sụp đổ của Bản tính con người’, không phải vì thiếu bằng chứng cần thiết, mà bởi vì vấn đề trọng tâm của phép diễn giải này đi trước mọi khẳng định về tình trạng sụp đổ hay vẹn nguyên. Sa ngã được quan niệm về phương diện bản thể luận như một loại chuyển động. Ở bình diện ontic thực hữu, chúng ta chưa xác định liệu con người đang ‘say trong tội lỗi’ và ở trong status corruptionis trạng thái sa đọa, hay đang bước đi trong status integritatis trạng thái trong sạch, hay đang ở một giai đoạn trung gian là status gratiae trạng thái ân sủng. [Chen ngang: Trong tiếng Latin, cụm từ ‘status corruptionis’ có nghĩa là ‘trạng thái tội lỗi’ hoặc ‘tình trạng sa ngã/ đồi bại’. Trong thần học Kitô giáo - đặc biệt là thần học Cải chính, cụm từ này dùng để chỉ tình trạng sa ngã của nhân loại sau khi Adam và Eva phạm tội. Nó mô tả bốn trạng thái của con người: Status integritatis - Trạng thái trong sạch; Status corruptionis - Trạng thái sa ngã, bị tội lỗi làm hoen ố, mất đi sự công chính nguyên thủy; Status gratiae - Trạng thái được ban ơn - được cứu chuộc nhờ Đấng Christ; Status gloriae - Trạng thái vinh hiển trên thiên đàng.-HHN]

Tuy nhiên, bất cứ khi nào một đức tin hay một ‘thế giới quan’ nào đó đưa ra những khẳng định như vậy—và nếu nó khẳng định bất cứ điều gì về Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới —thì nó buộc phải quy chiếu về các cấu trúc hữu thể mà chúng ta đã trình bày, với điều kiện là những khẳng định đó phải mang tham vọng đạt tới sự hiểu biết mang tính khái niệm. Câu hỏi chủ đạo của chương này xoay quanh Hữu thể của cái ‘ở đó’. Chủ đề của chúng ta là Cấu thành bản thể luận của trạng thái ‘được-bộc-lộ’—bản chất vốn thuộc về  Dasein. Hữu thể của trạng thái ‘được-bộc-lộ’ đó cấu thành nên bởi các tâm thế, thấu hiểu và diễn ngôn. Loại Hữu thể thường nhật của nó mang đặc trưng phiếm đàm, tò mò và tình trạng mơ hồ. Những điều này cho thấy vận động của trạng thái sa ngã, với các đặc tính cốt yếu là cám dỗ, an lòng giả tạo, tha hóa và vướng mắc. Song bằng phân tích này, toàn bộ cấu thành hữu thể của Dasein đã được phơi bày ở những đặc trưng mang tính nguyên tắc, và đã có được cơ sở hiện tượng cho một phép diễn giải ‘toàn diện’ về Hữu thể của Dasein là chăm sóc.

VI. CHĂM SÓC LÀ BẢN THỂ CỦA DASEIN

39. Câu hỏi về Tổng thể tính Bản nguyên của Cấu trúc Dasein

[Tr.225] Hữu-thể-trong-thế-giới là một cấu trúc mang tính tổng thể bản nguyên và thường trực. Trong các chương trước (Phần Một, Chương 2-5), cấu trúc này đã được làm sáng tỏ về phương diện hiện tượng như một chỉnh thể, cũng như trong khuôn khổ các yếu tố cấu thành của nó, mặc dù luôn dựa trên cơ sở đó. Cái nhìn sơ bộ về toàn bộ hiện tượng này giờ đây đã thoát khỏi sự trống rỗng của phác thảo khái quát ban đầu. Quả thực, cấu thành của chỉnh thể cấu trúc này và loại Hữu thể thường nhật của nó đa dạng đến mức có thể dễ dàng cản trở việc ta quan sát chỉnh thể ấy theo một cách thống nhất dưới góc độ hiện tượng học. Tuy nhiên, có thể quan sát nó một cách tự do hơn và duy trì cái nhìn thống nhất ấy một cách vững chắc hơn nếu đặt ra câu hỏi mà ta đã hướng tới trong quá trình phân tích nền tảng mang tính chuẩn bị về Dasein nói chung: “Tổng thể tính của chỉnh thể cấu trúc mà ta đã chỉ ra đó cần được định nghĩa như thế nào theo phương diện hữu thể-bản thể luận?”

Dasein hiện hữu một cách thực tại. Ta sẽ xem xét liệu hữu thể tính và thực tính có một nhất tính bản thể luận hay không, hoặc liệu thực tính có thuộc về hữu thể tính một cách cốt yếu hay không. Vì cốt yếu có một tâm thế thuộc về nó, nên Dasein có một loại Hữu thể mà trong đó nó được đưa ra trước chính mình và tự bộc lộ với chính mình trong tình trạng bị ném vào của nó. Nhưng tình trạng bị ném vào, với tư cách là một loại Hữu thể, thuộc về một thực thể mà trong mỗi trường hợp đều là các khả tính của chính nó, và là thực thể theo cách mà nó tự thấu hiểu các khả tính trong và thông qua các khả tính ấy, đồng thời phóng chiếu chính mình lên chúng. Hữu thể bên cạnh cái sẵn-có-để-dùng cũng thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới một cách bản nguyên như Hữu-thể-với những Kẻ Khác; và Hữu-thể-trong-thế-giới, trong mỗi trường hợp, đều là vì chính nó. Tuy nhiên, Cái Tự ngã, xét về mặt trực tiếp và phần lớn thời gian, lại không đích thực, tức là cái Tự ngã-họ. Hữu-thể-trong-thế-giới luôn ở trạng thái sa ngã. Theo đó, ‘tính thường nhật trung bình’ của Dasein có thể định nghĩa là “Hữu-thể-trong-thế-giới vừa sa ngã vừa được bộc lộ, vừa bị ném vào vừa phóng chiếu, và là trạng thái mà chính cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể tối hậu lại là một vấn đề, cả trong Hữu-thể-bên cạnh ‘thế giới’ lẫn trong cái Hữu-thể-với-Kẻ-khác của nó.”

[Tr.226] Liệu chúng ta có thể nắm bắt trọn vẹn toàn bộ cấu trúc của tính thường nhật của Dasein hay không? Liệu Hữu thể của Dasein có thể được bộc lộ theo một cách thức đơn nhất, mà bằng những khuôn khổ của nó, ta đã chỉ ra được tính đồng bản nguyên cốt yếu của các cấu trúc, cũng như các khả tính hữu thể của biến đổi sẽ trở nên khả tri? Liệu cách tiếp cận hiện tại của chúng ta—thông qua phép phân tích hữu thể—có mở ra một con đường để đến được thứ Hữu thể này về phương diện hiện tượng học hay không? Nói theo hướng phủ định, chắc chắn rằng ta không thể đạt tới toàn bộ cấu trúc này bằng cách lắp ghép nó từ các thành phần riêng lẻ; làm vậy sẽ đòi hỏi một bản thiết kế của kiến ​​trúc sư. Hữu thể của Dasein—nền tảng bản thể luận cho toàn bộ cấu trúc ấy—chỉ trở nên có thể tiếp cận được khi ta nhìn xuyên suốt toàn bộ cấu trúc đó để thấy một hiện tượng đơn nhất mang tính bản nguyên, vốn đã hiện diện trong tổng thể ấy và đóng vai trò là nền tảng bản thể luận cho từng yếu tố cấu trúc trong khả tính cấu trúc của nó. Do đó, ta không thể diễn giải điều này một cách ‘toàn diện’ chỉ bằng một quá trình tập hợp những gì đã thu thập được từ trước đến nay và gom chúng lại với nhau. Vấn đề về đặc tính hữu thể cơ bản của Dasein khác biệt về bản chất so với vấn đề về loại Hữu thể của một sự vật hiện-diện-vô-tri. Trải nghiệm thường nhật của chúng ta về môi trường xung quanh—vốn luôn hướng về các thực thể bên-trong-thế-giới cả trên bình diện ontic thực hữu lẫn bản thể luận—không phải là thứ có thể phơi bày Dasein theo phương thức bản nguyên về phương diện ontic thực hữu để phục vụ cho phép phân tích bản thể luận. Tương tự, tri giác nội tại về các trải nghiệm của chúng ta cũng không cung cấp được manh mối nào thỏa đáng về phương diện bản thể luận. Mặt khác, Hữu thể của Dasein không thể được suy diễn từ một ý niệm trừu tượng về con người. Liệu sự diễn giải về Dasein mà chúng ta đã thực hiện từ trước đến nay có cho phép ta suy ra điều mà chính Dasein—từ quan điểm của bản thân nó—đòi hỏi như là phương thức tiếp cận thực hữu-bản thể luận duy nhất thích hợp để thấu hiểu chính nó hay không?

Sự thấu hiểu về Hữu thể thuộc về cấu trúc bản thể luận của Dasein. Với tư cách là một cái gì đó hiện hữu, Dasein tự bộc lộ chính mình trong Hữu thể của nó. Loại Hữu thể thuộc về trạng thái tự bộc lộ này được cấu thành bởi tâm thế và thấu hiểu. Liệu có tồn tại ở Dasein một tâm thế thấu hiểu, trong đó Dasein tự bộc lộ với chính mình theo một cách thức đặc thù nào đó hay không? Nếu phép phân tích hữu thể về Dasein muốn duy trì tính minh xác về nguyên tắc đối với chức năng của nó trong bản thể luận nền tảng, thì để hoàn thành nhiệm vụ tạm thời phơi bày Hữu thể của Dasein, nó cần phải tìm kiếm một trong những khả tính bộc lộ sâu xa và bản nguyên nhất—một khả tính nằm ngay trong chính Dasein. Phương thức bộc lộ mà qua đó Dasein tự đặt mình trước chính mình phải là phương thức cho phép Dasein trở nên có thể tiếp cận dưới một hình thức được đơn giản hóa theo một cách nhất định. Với những gì được bộc lộ như vậy, tổng thể cấu trúc của cái Hữu thể mà chúng ta tìm kiếm ắt sẽ lộ diện theo một cách thức mang cơ bản.

[Tr. 227] Là một tâm thế thỏa mãn các yêu cầu về mặt phương pháp luận này, hiện tượng lo âu3 sẽ được lấy làm cơ sở cho việc phân tích của chúng ta. Khi làm rõ trạng thái tâm thức cơ bản này và đặc trưng hóa về mặt bản thể luận những gì được bộc lộ trong đó theo đúng nghĩa, chúng ta sẽ lấy hiện tượng sa ngã làm điểm xuất phát, đồng thời phân biệt tâm trạng lo âu với hiện tượng có tính chất tương đồng là nỗi sợ, mà chúng ta đã phân tích trước đó. Là một trong những khả tính Hữu thể của Dasein, tâm trạng lo âu — cùng với chính Dasein được bộc lộ trong đó — cung cấp cơ sở hiện tượng học để nắm bắt một cách tường minh tổng thể tính bản nguyên Hữu thể của Dasein. Hữu thể của Dasein tự bộc lộ như là trạng thái quan tâm. Để làm rõ hiện tượng hữu thể cơ bản này, chúng ta cần phân biệt nó với các hiện tượng có thể dễ đồng nhất hóa với sự quan tâm, chẳng hạn như ý chí, ước muốn, thói nghiện ngập và sự thôi thúc.4 Quan tâm không thể được suy ra từ những điều này, bởi vì chính chúng lại được tạo lập dựa trên bản thân nó.

Giống như mọi phân tích bản thể luận, việc diễn giải bản thể luận về Dasein như là sự quan tâm — cùng với bất kỳ điều gì ta thu nhận được từ một cách diễn giải như vậy đều rất xa so với những gì có thể tiếp cận được thông qua sự hiểu biết tiền-bản thể luận về Hữu thể, hay thậm chí là với sự quen thuộc mang tính ontic thực hữu của chúng ta đối với các thực thể. Không có gì ngạc nhiên khi hiểu biết thông thường — vốn chỉ có tính thân thuộc với các thực thể ở cấp độ thực hữu vốn được biết ở cấp độ bản thể luận lại có vẻ khá xa lạ với nó. Dẫu vậy, ngay cả cách tiếp cận ontic thực hữu mà chúng ta đã dùng để diễn giải Dasein như là sự quan tâm về phương diện hữu thể luận cũng có thể bị coi là khiên cưỡng và mang tính dàn dựng lý thuyết; đó là chưa kể đến hành vi bạo lực mà người ta có thể thấy trong việc chúng ta gạt bỏ định nghĩa truyền thống đã được công nhận về ‘con người’. Theo đó, phép diễn giải hữu thể về Dasein của chúng ta như là sự quan tâm đòi hỏi phải có sự xác nhận ở cấp độ tiền-bản thể luận. Sự xác nhận này nằm ở việc chứng minh rằng ngay khi Dasein tự bộc lộ điều gì đó về chính mình với chính mình, thì nó đã tự diễn giải bản thân như là sự quan tâm rồi, mặc dù nó chỉ thực hiện điều đó ở cấp độ tiền-bản thể luận mà thôi.

Phép phân tích về Dasein — vốn đang hướng tới hiện tượng quan tâm — nhằm mục đích dọn đường cho vấn đề cốt lõi của bản thể luận nền tảng: câu hỏi về ý nghĩa của Hiện hữu nói chung. Để có thể trực tiếp hướng cái nhìn vào vấn đề này một cách minh nhiên dưới ánh sáng của những gì đã đạt được, và vượt ra khỏi nhiệm vụ chuyên biệt của một nền nhân học mang tính a priori tiên nghiệm về phương diện hữu thể, chúng ta cần nhìn lại và nắm bắt sâu sắc hơn các hiện tượng có mối liên hệ mật thiết nhất với câu hỏi chủ đạo của chúng ta—câu hỏi về Hữu thể. Các hiện tượng này chính là những phương thức Hữu thể mà chúng ta đã và đang lý giải: tình-trạng-sẵn-có-để-dùng và sự hiện-diện-vô-tri—vốn là các thuộc tính [tr.228] của các thực thể bên-trong-thế-giới mà tính chất của nó không phải là tính chất của Dasein. Vì vấn đề bản thể luận về Hữu thể từ trước đến nay chủ yếu được hiểu theo nghĩa hiện-diện-vô-tri (‘Thực tại’, ‘hiện-thực-tính-thế giới’), trong khi bản chất Hữu thể của Dasein lại vẫn chưa được xác định về mặt bản thể luận, nên chúng ta cần thảo luận về các mối liên hệ bản thể luận của sự quan tâm, thế gian tính, trạng-thái-sẵn-có-để-dùng và sự hiện-diện-vô-tri (Thực tại). Điều này sẽ dẫn đến việc xác định chính xác hơn khái niệm Thực tại trong bối cảnh thảo luận về các vấn đề nhận thức luận—được định hướng bởi ý niệm này, vốn đã được đặt ra trong chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa duy tâm.

Các thực thể có trải nghiệm hoàn toàn độc lập mà chúng tự bộc lộ bằng trải nghiệm đó, chính là việc làm quen giúp khám phá chúng, và việc nắm bắt giúp xác định bản chất của chúng. Tuy nhiên, Hữu thể chỉ ‘có được/cấu thành nên’ trong sự thấu hiểu của các thực thể mà một cái gì đó giống như một sự thấu hiểu về Hữu thể thuộc về Hữu thể của các thực thể đó. Vì vậy, Hữu thể có thể là một cái gì đó chưa được khái niệm hóa, nhưng nó không bao giờ hoàn toàn thiếu vắng sự thấu hiểu. Trong các vấn đề bản thể luận, từ xưa đến nay, Hữu thể và chân lý luôn được đặt cạnh nhau, nếu không muốn nói là được đồng nhất hoàn toàn [LƯU Ý: CHÂN LÝ VỚI HEIDEGGER LÀ ΑΛΗΘΕΙΑ ALETHEIA – BỘC LỘ/KHÔNG CHE GIẤU-HHN] Điều này chứng tỏ có một mối liên hệ tất yếu giữa Hữu thể và thấu hiểu, ngay cả khi mối liên hệ ấy có thể đang ẩn giấu ở những nền tảng bản nguyên của nó. Nếu muốn chuẩn bị đầy đủ cho câu hỏi về Hữu thể, ta cần làm sáng tỏ hiện tượng chân lý về mặt bản thể luận. Việc này trước hết sẽ được thực hiện dựa trên những gì chúng ta đã đạt được trong phần Diễn giải trước đó, gắn liền với các hiện tượng về trạng thái bộc lộ và được khám phá, phép diễn giải và khẳng định. Như vậy, phép phân tích nền tảng mang tính chuẩn bị về Dasein của chúng ta sẽ kết thúc với các chủ đề sau: i) Tâm thế cơ bản là nỗi lo âu như một phương thức đặc thù mà qua đó Dasein được bộc lộ (Mục 40); ii) Hữu thể của Dasein với tư cách là sự quan tâm (Mục 41); iii) Việc xác nhận phép Diễn giải hữu thể về Dasein như là Sorge quan tâm theo phương thức tự diễn giải mang tính tiền-bản thể luận của Dasein (Mục 42); iv) Dasein, cái Thế gian và Thực tại (Mục 43); v) Dasein, trạng thái bộc lộ và chân lý (Mục 44).

40. Tâm thế Cơ bản của Lo âu – Cách thức Đặc thù để Dasein Bộc lộ

Một trong những khả tính Hữu thể của Dasein là cung cấp cho chúng ta những ‘thông tin’ ontic thực hữu về chính Dasein với tư cách một thực thể. Những thông tin như vậy chỉ có thể có được trong trạng thái bộc lộ vốn thuộc về Dasein và được đặt nền tảng trên tâm thế và thấu hiểu. Nỗi lo âu là một tâm thế đặc thù đến mức nào? Làm thế nào mà trong nỗi lo âu, Dasein lại được đưa đến đối diện với chính mình thông qua Hữu thể của chính nó, để chúng ta có thể xác định về phương diện hiện tượng học cái đặc tính của thực thể được bộc lộ trong nỗi lo âu, và xác định nó đúng như trong Hữu thể của nó, hoặc chuẩn bị đầy đủ để thực hiện điều đó? [Tr.229] Vì mục tiêu của chúng ta là tiến tới Hữu thể của tổng thể tính chỉnh thể cấu trúc, nên chúng ta sẽ lấy các phân tích cụ thể về trạng thái sa ngã mà chúng ta vừa thực hiện làm điểm xuất phát. Tình trạng đắm chìm của Dasein vào das Man cái ‘họ’ và vào ‘thế giới’ của những mối bận tâm đã hiển hiện một điều gì đó giống như cuộc trốn chạy của Dasein trước chính mình—trước chính mình với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã đích thực của nó.5 Hiện tượng Dasein trốn chạy trước chính mình và trước tính đích thực của mình dường như là một cơ sở mang tính hiện tượng thích hợp cho cuộc khảo sát tiếp theo. Tuy nhiên, việc đưa mình đối diện với chính mình lại chính là điều mà Dasein không làm khi nó trốn chạy như vậy. Nó quay lưng lại với chính mình theo đúng quán tính của sự sa ngã. Dù vậy, khi khảo sát các hiện tượng này, chúng ta phải cẩn trọng để không nhầm lẫn giữa việc mô tả đặc tính mang tính ontico-existentiell thực hữu-cụ thể với phép Diễn giải mang tính bản thể luận-hữu thể, cũng như không được bỏ qua các cơ sở hiện tượng tích cực mà việc mô tả đặc tính đó mang lại cho phép diễn giải này.

Từ quan điểm thực hữu cụ thể, tính đích thực của Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó tất nhiên đã bị che khuất và gạt sang bên trong trạng thái sa ngã; nhưng việc bị che khuất như vậy chỉ đơn thuần là tình trạng thiếu vắng một trạng thái bộc lộ vốn tự hiển hiện về phương diện hiện tượng qua thực tế là cuộc trốn chạy của Dasein là trốn chạy trước chính mình. Cái trước mặt khiến Dasein trốn chạy lại chính là cái mà Dasein bắt gặp ở ‘phía sau’ mình.6 Chỉ khi Dasein được đưa về đối diện với chính mình theo một cách thức cốt yếu về phương diện bản thể luận—thông qua bất kỳ trạng thái bộc lộ nào thuộc về nó—thì nó mới có thể trốn chạy cái trước mặt khiến nó trốn chạy. Quả thực, cái trước mặt khiến nó trốn chạy lại không được nắm bắt trong hành động quay lưng khi sa ngã; cũng không được trải nghiệm ngay cả khi quay về phía ấy. Thay vào đó, chính trong hành động quay lưng lại với nó, điều đó lại được bộc lộ ‘ở đó’. Cú quay lưng mang tính thực hữu-cụ thể này, nhờ vào bản chất bộc lộ của nó, về phương diện hiện tượng, tạo ra khả năng nắm bắt—theo nghĩa hữu thể-bản thể luận—cái trước mặt khiến Dasein trốn chạy, và nắm bắt nó theo đúng nghĩa. Trong cuộc ‘lánh mặt’ mang tính thực hữu mà hành động quay lưng như vậy hàm ý, thì cái trước mặt khiến Dasein trốn chạy lại có thể được thấu hiểu và khái niệm hóa thông qua việc ‘quay về phía đó’ theo một cách thức mang tính diễn giải hiện tượng học. Như vậy, khi định hướng phép phân tích dựa trên hiện tượng sa ngã, về nguyên tắc, chúng ta không hề bị tước mất cơ hội tìm hiểu những khía cạnh bản thể luận về Dasein—vốn được bộc lộ trong chính hiện tượng đó. Trái lại, ở đây, phép Diễn giải của chúng ta hoàn toàn không bị lệ thuộc vào cách thức giả tạo mà Dasein tự nắm bắt chính mình; nó chỉ đơn thuần thực hiện [tr.230] việc làm sáng tỏ những gì mà bản thân Dasein bộc lộ trên bình diện ontic thực hữu. Khả tính hướng đến cái Hữu thể của Dasein—bằng cách đồng hành và dõi theo nó thông qua Diễn giải, cùng thấu hiểu và tâm thế đi kèm—sẽ càng lớn hơn khi hiện tượng đóng vai trò phương pháp luận như một trạng thái tâm thế bộc lộ càng mang tính bản nguyên. Có thể lập luận rằng chính nỗi lo âu thực hiện một chức năng nào đó như vậy. Chúng ta không hoàn toàn thiếu sự chuẩn bị cho phép phân tích tâm trạng lo âu. Tất nhiên, mối liên hệ bản thể luận giữa nó và nỗi sợ hãi vẫn còn mờ mịt. Nhưng rõ ràng đây là những hiện tượng có họ hàng với nhau. Điều này được minh chứng qua thực tế là phần lớn chúng không được phân biệt rạch ròi với nhau: cái vốn là nỗi sợ hãi lại bị gọi là ‘lo âu’, trong khi cái mang bản chất của lo âu lại bị gọi là ‘sợ hãi’. Chúng ta sẽ cố gắng tiếp cận hiện tượng lo âu theo từng bước một.

Việc Dasein sa ngã vào das Man cái ‘họ’ và ‘thế giới’ của những mối bận tâm chính là điều mà chúng ta gọi là cuộc ‘trốn chạy’ khi đối diện với chính bản thân mình. Tuy nhiên, không phải cứ khi nào ta lùi lại trước một điều gì đó hay quay lưng lại với nó thì đều là đang trốn chạy khỏi nó. Hành động lùi lại trước điều mà nỗi sợ phơi bày—tức là trước một cái gì đó mang tính đe dọa—được khởi phát từ chính nỗi sợ; và hành động lùi lại này có tính chất trốn chạy. Cách lý giải của chúng ta về nỗi sợ như một tâm thế đã chỉ ra rằng, trong mọi trường hợp, cái trước mặt khiến ta sợ hãi là một thực thể gây hại nằm-trong-thế-giới nó vốn đến từ một vùng xác định nào đó nhưng lại đang kề bên, đang sát gần lại, song cũng có thể vẫn giữ khoảng cách. Trong trạng thái sa ngã, Dasein quay lưng lại với chính mình. Cái trước mặt khiến nó lùi lại, trong mọi trường hợp, ắt hẳn phải là một thực thể mang tính đe dọa; tuy nhiên, thực thể này lại có cùng một loại Hữu thể với chính chủ thể đang lùi lại: đó chính là Dasein. Vì vậy cái trước mặt khiến nó lùi lại trước đó không thể bị coi là một thứ gì đó ‘đáng sợ’, bởi lẽ bất cứ thứ gì ‘đáng sợ’ cũng luôn được bắt gặp như một thực thể bên-trong-thế-giới. Chỉ những mối đe dọa nào mang tính ‘đáng sợ’ và được phát hiện trong nỗi sợ hãi mới luôn bắt nguồn từ các thực thể bên-trong-thế-giới. Do đó, hành động quay lưng của trạng thái sa ngã không phải là một sự trốn chạy bắt nguồn từ nỗi sợ hãi của các thực thể bên-trong-thế-giới. Cuộc trốn chạy có cơ sở như vậy càng không phải là đặc tính của hành động quay lưng này, khi mà hành động quay lưng ấy thực chất lại hướng về phía các thực thể bên-trong-thế-giới bằng cách đắm mình vào chúng. Thay vào đó, hành động quay lưng trong trạng thái sa ngã bắt nguồn từ nỗi lo âu—thứ vốn là điều kiện tiên quyết để nỗi sợ hãi có thể nảy sinh.

Để hiểu được những gì được nói đến ở đây về việc Dasein trốn chạy cái trước mặt chính mình trong trạng thái sa ngã, ta cần nhớ lại rằng Hữu-thể-trong-thế-giới là một trạng thái cơ bản của Dasein. Đối tượng mà trước nó ta cảm thấy lo âu [das Wovor der Angst] chính là Hữu-thể-trong-thế-giới theo đúng nghĩa của nó. Vậy đâu là sự khác biệt về mặt hiện tượng giữa cái mà trước nó ta cảm thấy lo âu và cái mà trước nó ta cảm thấy sợ hãi? Cái mà trước nó ta cảm thấy lo âu không phải là một thực thể bên-trong-thế-giới. Do đó, về bản chất, nó không thể có bất kỳ mối can dự nào. Hành động đe dọa này không mang tính chất của một tác hại cụ thể nào đó nhắm vào đối tượng bị đe dọa, hay nhắm vào nó với việc liên quan nhất định đến một tiềm-năng-cho-Hữu-thể xác thực đặc biệt. Cái mà trước nó ta cảm thấy lo âu là hoàn toàn bất định. Trạng thái bất định này không chỉ để lại câu hỏi về việc thực thể nào bên-trong-thế-giới đang đe dọa ta, mà còn cho thấy rằng các thực thể trong-thế-giới hoàn toàn không ‘liên quan’ gì đến sự lo âu này cả. Không có bất cứ thứ gì sẵn-có-để-dùng hay hiện-diện-vô-tri trong thế giới lại có chức năng là cái trước mặt gây ra nỗi lo âu. Ở đây, tổng thể tính các mối can dự của cái sẵn-có-để-dùng và cái hiện-diện-vô-tri được khám phá bên-trong-thế-giới theo đúng nghĩa đều không có gì quan trọng; chúng sụp đổ vào chính mình; thế giới mang đặc tính hoàn toàn thiếu vắng ý nghĩa. Trong trạng thái lo âu, ta không bắt gặp sự vật này hay sự vật kia—những thứ vốn dĩ phải có một mối can dự nào đó—như là tác nhân gây đe dọa.

____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘…die von ihr gezeitigten…’ Chúng tôi theo dõi những bài viết khó hiểu của những lần xuất bản trước. Các phiên bản mới hơn có ‘…die von ihr gezeigten…’ (‘...mà nó đã cho thấy...’). Xem H. 304 bên dưới và ghi chú ad loc của chúng tôi.

2 “Die Geworfenheit ist nicht nur nicht eine ‘fertige Tatsache’, sondem auch nicht ein abgeschlossenes Faktum.”

3 ‘Tức giận’. Trong khi từ này thường được dịch là ‘lo lắng’ trong văn học tâm lý học hậu Freud, nó lại xuất hiện dưới dạng ‘sợ hãi’ trong các bản dịch của Kierkegaard và trong một số cuộc thảo luận của Heidegger. Ở một khía cạnh nào đó, ‘khó chịu’ hay ‘bất an’ vẫn có thể thích hợp hơn.

4 ‘Wille, Wunsch, Hang und Drang.’ Để thảo luận thêm, xem H.194 ff. ở dưới.'

5 ‘…tội phạm nên etwas wie eine Flucht des Daseins vor ihm selbst als eigentlichem Selbst-sein-konnen.' Ý của đoạn này là nếu chúng ta muốn nghiên cứu tổng thể của Dasein, thì Dasein phải được đưa ra ‘trước chính nó’ hoặc ‘mặt đối mặt với chính nó’ ('vor es selbst'); và sự thật là Dasein chạy trốn 'khỏi chính nó' hay 'đối mặt với chính nó' ('vor ihm selbst'), mà lúc đầu có vẻ như khiến chúng ta lạc lối, nhưng thực ra lại rất phù hợp với yêu cầu của mình.

6 “I’m Wovor der Flucht kommt das Dasein gerade ‘hinter’ ihm her.”