Powered By Blogger

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (XIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI

B. Tương phản giữa Phân tích Thế gian của chúng ta và Diễn giải Thế giới của Descartes

Chỉ có từng bước một, khái niệm về thế gian và các cấu trúc mà hiện tượng này bao hàm mới có thể được xác định chắc chắn trong quá trình nghiên cứu của chúng ta. Diễn giải thế giới bắt đầu, trước hết, với một thực thể nào đó nằm-trong-thế-giới, do đó hiện tượng thế giới nói chung không còn được xem xét; vậy là chúng ta sẽ cố gắng làm rõ cách tiếp cận này về mặt bản thể luận bằng cách xem xét hình thức có lẽ là cực đoan nhất mà nó đã được thực hiện. Chúng ta không chỉ trình bày ngắn gọn các đặc điểm cơ bản bản thể luận ‘thế giới’ của Descartes, mà còn tìm hiểu các tiền đề của nó và cố gắng mô tả chúng dưới ánh sáng những gì cho đến nay chúng ta đã đạt được. Phần trình bày về những vấn đề này sẽ cho phép chúng ta biết được những ‘nền tảng’ bản thể luận cơ bản nào chưa được thảo luận mà các Diễn giải thế giới sau Descartes - và thậm chí còn hơn thế nữa là những giải thích trước ông - đã vận hành. Descartes coi cái extensio [Chen: Trong tiếng Latin, extensio từ động từ extendere, nghĩa là ‘xoãi ra’ là đặc điểm xác định của thực tại vật chất trong triết học của Descartes. Nó biểu thị quảng tính không gian—thuộc tính sở hữu chiều dài, chiều rộng và chiều sâu. Descartes đã thiết lập quảng tính/sự mở rộng như là bản chất tuyệt đối của res extensa các vật thể vật lý trong tác phẩm Principia Philosophiae (1644). Khái niệm này đã hình thành nên nền tảng nhị nguyên luận triệt để của ông, chia vũ trụ thành hai thực thể loại trừ lẫn nhau: Res extensa - Vật thể có quảng tính - thực thể vật chất. Nó hoàn toàn mang tính cơ học, có thể chia thành các phần và chiếm không gian. Res cogitans - Thực thể tư duy - thực thể phi vật chất. Nó bao gồm tâm trí hoặc linh hồn, vốn không mở rộng và không thể chia tách. Bởi vì sự mở rộng không gian là bản chất duy nhất thực sự của vật chất vật lý, Descartes cho rằng không có chân không vật lý. Đối với ông, spatium ‘không gian’ và corpus ‘thân xác’ là đồng nhất; ở đâu có quảng tính/sự mở rộng, ở đó có vật chất. HHN] sự mở rộng về cơ bản là mang tính bản thể học xác định đối với thế giới. Trong chừng mực mà sự mở rộng là một trong những thành phần cấu tạo nên tính không gian (theo Descartes, nó thậm chí còn đồng nhất với tính không gian), trong khi ở một nghĩa nào đó, tính không gian vẫn mang tính cấu thành đối với thế giới, một cuộc thảo luận về bản thể luận Cartesian [tr.123] về ‘thế giới’ cũng sẽ cung cấp cho chúng ta một sự hỗ trợ phủ định cho một giải thích khẳng định về tính không gian của môi trường và của tự thân Dasein. Liên quan đến bản thể luận của Descartes, có ba chủ đề mà chúng ta sẽ đề cập đến: 1. Định nghĩa về ‘thế giới’ như là res extensa (Mục 19); 2. Các nền tảng của định nghĩa bản thể luận này (Mục 20); 3. Thảo luận hermeneutical discussion mang tính tường giải bản thể luận Cartesian về ‘thế giới’ (Mục 21). Những cân nhắc tiếp theo sẽ không được trình bày đầy đủ chi tiết cho đến khi ‘cogito sum’ cái ‘Tôi tư duy nên tôi tồn tại’ bị phá hủy về mặt hiện tượng luận. (Xem Phần Hai, Mục 2.) 1

19. Định nghĩa về ‘Thế giới’ như là res extensa

Descartes phân biệt ‘ego cogito’ cái Tôi tư duy với ‘res corporea’.[Chen: Đối với Descartes, res corporea nghĩa là ‘vật thể hữu hình’ hoặc ‘vật thể có thân xác’ đề cập đến vật lý, vật chất; về cơ bản ông coi nó tương đương với res extensa – ‘vật thể có kích thước’, định nghĩa bản chất cốt lõi của nó hoàn toàn là sự mở rộng trong không gian - có chiều dài, chiều rộng và chiều sâu - chứ không phải thông qua các thuộc tính cảm giác như màu sắc hay trọng lượng. Trong tác phẩm Meditationes de Prima Philosophia Trầm tư về Triết học đầu tiên, Descartes đã thiết lập một nhị nguyên luận bản thể học triệt để, đối lập res corporea với res cogitans ‘vật thể tư duy’ hay tâm trí/linh hồn phi vật chất. Trong khi res corporea có thể phân chia, chiếm lĩnh không gian và tuân theo các định luật cơ học của vật lý, thì res cogitans không thể phân chia và không có bất kỳ chiều kích vật lý nào. Descartes cho rằng vì ông có thể hình dung một cách rõ ràng và riêng biệt về tâm trí của mình như một thực thể tư duy không có kích thước mà không cần đến cơ thể, nên hai thực thể này phải thực sự khác biệt. HHN] Sự phân biệt này sau đó sẽ mang tính quyết định về mặt bản thể luận đối với sự phân biệt giữa ‘Tự nhiên’ và ‘tinh thần’. Cho dù sự đối lập giữa ‘Tự nhiên’ và ‘tinh thần’ có được thiết lập về mặt bản thể luận với bao nhiêu biến thể về nội dung đi nữa, thì nền tảng bản thể luận của nó, và thực sự là chính các cực của sự đối lập này, vẫn chưa được làm rõ; tính không rõ ràng này có nguồn gốc gần gũi từ sự phân biệt của Descartes. Ông hiểu gì về Bản thể khi định nghĩa Bản thể của những thực thể này? Thuật ngữ chỉ Bản thể của một thực thể tự nó là ‘substantia’. [Chen: Trong các tác phẩm triết học tiếng Latinh của René Descartes khái niệm ‘substantia’ bản chất được định nghĩa là bất kỳ thực thể nào tồn tại theo cách mà nó không cần bất cứ thứ gì khác để tồn tại. Descartes lập luận rằng, theo nghĩa đen nghiêm ngặt, chỉ có Thượng đế mới là một bản chất vô hạn, tự tồn tại. Tuy nhiên, ông cho phép hai loại bản chất được tạo ra chỉ cần sự đồng thuận của Thượng đế để tồn tại, hoàn toàn khác biệt và độc lập với nhau là: i) Res Cogitans Bản chất Tư duy - Tâm trí hoặc linh hồn, thuộc tính thiết yếu hoặc đặc tính chính của nó là tư duy. Nó phi vật chất, không thể phân chia và không có kích thước; ii) Res Extensa Bản chất Mở rộng - Thân thể vật chất, thuộc tính thiết yếu của nó là sự mở rộng - chiếm không gian theo chiều dài, chiều rộng và chiều sâu. Nó là vật chất, có thể phân chia vô hạn và hoàn toàn mang tính cơ học. Trong khuôn khổ của Descartes, mọi thứ khác chỉ là một hình thức - một thuộc tính, hình dạng hoặc trạng thái cụ thể - của một trong hai bản chất cơ bản này. Ví dụ, hình dạng cụ thể của một tảng đá hoặc chuyển động của một chi là những hình thức của vật chất có quảng tính, trong khi cảm giác buồn bã hoặc nghi ngờ là những hình thức của vật chất tư duy. HHN] Đôi khi biểu thức này có nghĩa là Bản thể của một thực thể như là chất, bản chất; những lúc khác nó có nghĩa là chính thực thể đó, một chất. Việc ‘substantia’ được sử dụng theo hai cách này không phải là ngẫu nhiên; Điều này đã đúng với quan niệm cổ xưa về οὐσία ousia. [Chen: Trong tiếng Hy Lạp cổ, οὐσία nghĩa đen là ‘TÍNH LÀ’ bản thể’ hoặc ‘cái thuộc về chính mình’. Từ οὐσία ousía có nguồn gốc οὖσα oûsa, phân từ hiện tại giống cái của εἰμί eimí, có nghĩa là ‘là’. Kết hợp với hậu tố -ία, nó có nghĩa đen là ‘hiện hữu’ hoặc ‘tồn tại’. Đây là một thuật ngữ triết học cốt lõi được dịch là bản chất, thực thể, hoặc sự tồn tại đích thực. Nó mô tả bản chất cơ bản của một sự vật—cái mà nó thực sự là/có ở cốt lõi. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi suốt lịch sử với hai bối cảnh chính: Triết học: Plato và chủ yếu là Aristotle đã sử dụng ousia để định nghĩa bản chất cơ bản của một thực thể—cái còn lại khi tất cả các thuộc tính ngẫu nhiên hoặc theo ngữ cảnh bị loại bỏ. Thần học Kitô giáo thời kỳ đầu đã sử dụng nó để định nghĩa bản chất của thần thánh, đặc biệt là trong Kinh Tin Kính Nicea mô tả Chúa Cha và Chúa Con là homoousios - cùng một bản thể. Nó cũng được sử dụng theo nghĩa vật chất để chỉ tài sản, của cải hoặc điền sản. HHN]

Để xác định bản chất của res corporea ‘vật thể hữu hình’ hoặc ‘vật thể có thân xác’ về mặt bản thể học, chúng ta phải làm rõ bản chất của thực thể này như một bản chất—nghĩa là, tính chất thực thể của nó. Điều gì tạo nên cái Hữu-thể-tự-thân đích thực [An-ihm-selbstsein] của res corporea? Làm thế nào có thể nắm bắt được một bản chất theo đúng nghĩa, nghĩa là, nắm bắt được tính thực thể của nó? “Et quidem ex quolibet attributo substantia cognoscitur; sed una tamen est cuiusque substantiae praecipua propetas, quae ipsius naturam essentiamque constituit, et ad quam aliae omnes rejeruntur.”iii “Các chất có thể tiếp cận được trong ‘đặc tính’ của chúng, và mọi chất đều có một số thuộc tính riêng biệt mà từ đó có thể đọc được bản chất của tính thực thể của bản chất xác định đó. Đây là thuộc tính nào trong trường hợp res corporea? “Nempe extensio in longum, latum et profundum, substantiae corporeae naturam constituit.”iv Quảng tính - cụ thể là về chiều dài, chiều rộng và chiều dày - tạo nên Hữu thể thực sự của chất vật chất/thân xác mà chúng ta gọi là ‘thế giới’. Điều gì mang lại cho quảng tính này vị thế đặc biệt? “Nam omne aliud quod corpori tribuipotest, extensionem praesupponit…”v Quảng tính là một trạng-thái-của-Hữu-thể cấu thành nên cái thực thể mà chúng ta đang nói đến; đó là [tr.124] cái phải ‘tồn tại’/‘là’ trước bất kỳ cách thức nào khác mà Hữu thể được xác định, để những cách thức này có thể ‘tồn tại’/‘là’ như chúng vốn có. Quảng tính phải được ‘gán’ chủ yếu cho Vật thể vật chất. Quảng tính và tính thực thể của ‘thế giới’ (bản thân nó được đặc trưng bởi quảng tính) do đó được chứng minh bằng cách thức tất cả các đặc điểm khác mà bản chất này chắc chắn sở hữu (đặc biệt là divisio/phân chia, figura/hình thể, motus/vận động), chỉ có thể hình dung là modi/phương thức extensio/quảng tính, mặt khác, extensio sine figura vel motu quảng tính không có hình thể vẫn hoàn toàn có thể hiểu được.

Do đó, một Vật thể hữu hình duy trì toàn bộ quảng tính của nó vẫn có thể trải qua nhiều thay đổi về các cách thức mà phần mở rộng đó được phân bổ theo các chiều kích khác nhau và có thể tự thể hiện dưới nhiều hình dạng khác nhau với tư cách là một và cùng một Vật thể. “…atque unum et idem corpus, retinerulo suam eandem quantitatem, pluribus diversis modis potest extendi: nunc scilicet magis secundum longitudinem, minusque secundum latitudinem vel profunditatem, ac Paulo post e contra magis secundum latitudinem, et minus secundum longitudinem.”vi “…và cùng một vật thể, trong khi vẫn giữ nguyên khối lượng, có thể được mở rộng theo nhiều cách khác nhau: giờ đây cụ thể là, chiều dài tăng lên, và chiều rộng hoặc chiều sâu giảm đi, và một thời gian sau, ngược lại, chiều rộng tăng lên, và chiều dài giảm đi.”vi Hình dạng là một modus phương thức của extension mở rộng, và motus chuyển động cũng vậy: vì motus chỉ được nắm bắt “si de nullo nisi locali cogitemus, ac de vi a qua excitatur… non inquiramus”.vii Nếu chúng ta chỉ nghĩ đến chuyển động vị trí mà không tìm hiểu lực nào gây ra nó… vii Nếu chuyển động là một thuộc tính của res corporea, và là một thuộc tính vẫn tồn tại, thì để nó có thể được trải nghiệm trong Hữu thể của nó, nó phải được hình dung trong khuôn khổ Hữu thể của chính thực thể này, trong khuôn khổ extensio mở rộng; điều này có nghĩa là nó phải được hình dung như là sự thay đổi vị trí đơn thuần. Vì vậy, không có gì giống như ‘lực’ có giá trị đến đâu trong việc xác định Hữu thể của thực thể này là gì. Vật chất có thể có những đặc điểm xác định như độ cứng, trọng lượng và màu sắc; nhưng tất cả những điều này có thể bị loại bỏ khỏi nó, và nó vẫn là chính nó. Những điều đó không tạo nên Hữu thể thực sự của nó; và trong chừng mực chúng tồn tại, chúng trở thành các phương thức của extensio mở rộng. Descartes cố gắng thể hiện điều này một cách chi tiết liên quan đến ‘độ cứng’: “Nam, quantum ad duritiem, nihil aliud de illa sensus nobis indicat, quam partes durorum corporum resistere motui manuum nostrarum, cum in illas incurrant. Si enim, quotiescunque manus nostrae versus aliquam partem moventur, corpora omnia ibi existentia recederent eadem celeritate qua illae accedunt, nullam unquam duritiem sentiremus. Nee ullo modo potest intelligi, corpora quae sic recederent, idcirco naturam corporis esse amissura; nee proinde ipsa in duritie consistit”.viii “Về độ cứng, giác quan không cho chúng ta biết gì khác ngoài việc các bộ phận của vật thể cứng chống lại sự chuyển động của tay chúng ta khi chạm vào chúng. Bởi vì nếu, bất cứ khi nào tay chúng ta di chuyển về phía một phần nào đó, thì tất cả các vật thể tồn tại ở đó đều lùi lại với cùng tốc độ như khi chúng tiến đến, chúng ta sẽ không bao giờ cảm thấy bất kỳ độ cứng nào. Cũng không thể hiểu theo bất kỳ cách nào ở chỗ là các vật thể lùi lại theo cách này sẽ mất đi bản chất của một vật thể; và do đó, nó cũng không cấu thành nên độ cứng.”viii

Độ cứng chắc được trải nghiệm khi người ta cảm nhận bằng xúc giác. Tri giác bằng xúc giác ‘bảo’ cho chúng ta điều gì về nó? Các bộ phận của Vật thể cứng chắc ‘chống lại’ chuyển động của bàn tay, chẳng hạn như nỗ lực đẩy nó ra. Tuy nhiên, nếu các vật thể cứng rắn, những vật thể không bị biến dạng, thay đổi vị trí với cùng vận tốc như bàn tay ‘chà’ vào chúng, thì sẽ không có gì bị chạm vào, và độ cứng chắc sẽ không được trải nghiệm và do đó sẽ không bao giờ tồn tại. Nhưng thật khó hiểu khi các vật thể chịu khuất phục với vận tốc như vậy lại đánh mất bất kỳ [tr. 125] Hữu thể vật chất nào của chúng. Nếu chúng vẫn giữ được trạng thái này ngay cả khi vận tốc thay đổi khiến cho bất cứ thứ gì giống như độ ‘cứng chắc’ không thể tồn tại, thì độ cứng chắc không thuộc về Bản thể của các thực thể thuộc loại này. “Eademque ratione ostendi potest, et pondus, et colorem, et alias omnes eiusmodi qualitates, quae in materia corporea sentiuntur, ex ea tolli posse, ipsa integra remanente: unde sequitur, a nulla ex illis eius (sc. extensionis) naturam dependere”.ix “Và bằng lý lẽ tương tự, người ta có thể chứng minh rằng trọng lượng, màu sắc và tất cả các thuộc tính khác thuộc loại này, được tri giác trong vật chất hữu hình, có thể bị loại bỏ khỏi nó, trong khi bản thân nó vẫn còn nguyên vẹn: từ đó suy ra rằng bản chất (về kích cỡ) của nó không phụ thuộc vào bất kỳ thuộc tính nào trong số đó.”ix Như vậy, cái cấu thành nên Hữu thể của vật thể hữu hình là sự mở rộng/kích cỡ: cái có thể omnimodo divisibile, figurabile et mobile tự biến đổi, phân chia, định hình hoặc di chuyển theo bất kỳ cách nào, cái capax mutationum có khả năng tự duy trì qua tất cả những thay đổi này. Trong bất kỳ Vật thể hữu hình nào, thực thể thực sự là cái phù hợp để duy trì sự bất biến như vậy, đến mức, thực sự đây là cách đặc trưng cho tính thực thể của một bản chất như vậy.

20. Nền tảng của Định nghĩa Bản thể học về ‘Thế giới’

Tính thực thể là ý niệm về Hữu thể mà đặc điểm bản thể học của res extensa gợi nhớ lại. “Per substantiam nihil aliud intelligere possumus, quam rem quae ita existit, ut nulla alia re indigeat ad existendum.” “Bằng bản chất, chúng ta không thể hiểu gì khác ngoài một thực thể tồn tại theo cách mà nó không cần bất kỳ thực thể nào khác để tồn tại.”x Cái Hữu thể của một ‘bản chất’ được đặc trưng bởi việc không cần bất cứ thứ gì. Thứ mà Hữu thể của nó không cần bất kỳ thực thể nào khác thì thỏa mãn ý niệm về bản chất theo nghĩa đích thực; thực thể này là ens perfectissimum thực thể hoàn hảo nhất. “…substantia quae nulla plane re indigeat, unica tantum potest intelligi, nempe Deus…xi “một thực thể rõ ràng không cần gì cả chỉ có thể được hiểu là một thứ duy nhất, đó chính là Thiên Chúa..”xi Ở đây ‘Thiên Chúa’ là một thuật ngữ thuần túy bản thể học, nếu nó được hiểu là ens perfectissimum thực thể hoàn hảo nhất. Đồng thời, ý nghĩa ‘hiển nhiên’ của khái niệm Thiên Chúa cho phép một cách diễn giải bản thể luận về đặc điểm không cần bất cứ thứ gì - một yếu tố cấu thành trong tính bản chất.      

“Alias ​​vero omnes (res), non nisi ope concursus Dei existere posse percipimus.”xii Nhưng chúng ta nhận thấy rằng mọi thứ khác chỉ có thể tồn tại nhờ sự đồng thuận của Thiên Chúa.xii Tất cả các thực thể khác ngoài Thượng đế đều cần được ‘sản sinh’ theo nghĩa rộng nhất và cũng cần được duy trì. ‘Hữu thể’ cần được hiểu trong một chân trời trải dài từ việc sản sinh ra những gì present-at-hand hiện-diện-vô-tri đến những thứ không cần được sản sinh. Mỗi thực thể không phải là Thiên Chúa đều là một ens creatum thực thể được tạo ra. Cái Hữu thể thuộc về một trong những thực thể này khác biệt ‘vô hạn’ với sự tồn tại thuộc về thực thể kia; tuy nhiên, chúng ta vẫn coi sự sáng tạo và đấng tạo hóa như nhau với tư cách là các thực thể. Do đó, chúng ta đang sử dụng ‘Hữu thể’ theo nghĩa rộng đến mức ý nghĩa của nó bao hàm một sự khác biệt ‘vô hạn’. Vì vậy, ngay cả các thực thể được tạo ra cũng có thể được gọi là ‘bản chất’ một cách chính đáng. Dĩ nhiên, so với Thiên Chúa, những thực thể này cần được tạo ra và duy trì; nhưng trong phạm vi các thực thể được tạo ra – ‘thế giới’ theo nghĩa của ens creatum thực thể được tạo ra - có những thứ ‘không cần đến bất kỳ thực thể nào khác’ [tr.126] so với sự tạo ra và duy trì của tạo vật mà chúng ta thấy, chẳng hạn, ở con người. Trong số các bản chất này có hai loại: res cogitans Thực thể tư duy và res extensa Thực thể có quảng tính.

Cái Hữu thể của bản chất mà thuộc tính đặc trưng của nó được thể hiện bởi extensio quảng tính do đó thành ra có thể định nghĩa được về nguyên tắc bản thể luận nếu chúng ta làm rõ ý nghĩa của Hữu thể ‘chung’ cho ba loại bản chất, mà một trong số đó là vô hạn, hai loại còn lại đều hữu hạn. Nhưng “…nomen substantiae non convenit Deo et illis univoce ut dici solet in Scholis, hoc est…quae Deo et creaturis sit communis.”xiii “…tên gọi của bản chất không thuộc về Thiên Chúa và chúng - theo cách duy nhất, như thường được nói trong các trường phái, tức là…cái có chung với Thiên Chúa và các tạo vật.xiii Ở đây Descartes đề cập đến một vấn đề mà bản thể học thời trung cổ thường bận tâm – câu hỏi về cách thức ý nghĩa của ‘Hữu thể’ biểu thị bất kỳ thực thể nào mà người ta có thể đang xem xét. Trong các khẳng định ‘Chúa là’ và ‘thế giới là’, chúng ta khẳng định Hữu thể. Tuy nhiên, từ ‘là’ này không thể được hiểu là áp dụng cho các thực thể này theo cùng một nghĩa (συνώνυμος, đồng nghĩa), khi giữa chúng có sự khác biệt vô hạn về Hữu thể; nếu ý nghĩa của ‘là’ mang tính đơn nghĩa, thì cái được tạo ra sẽ được xem như thể nó không được tạo ra, hoặc cái không được tạo ra sẽ được quy giản thành trạng thái của một cái gì đó được tạo ra. Nhưng ‘Hữu thể’ cũng không chỉ đơn thuần là một cái tên giống nhau trong cả hai trường hợp: trong cả hai trường hợp, ‘Hữu thể’ đều được hiểu. Ý nghĩa khẳng định mà ‘Hữu thể’ biểu thị là một ý nghĩa mà các triết gia trường phái Kinh viện coi là một ý nghĩa ‘tương tự’, khác với ý nghĩa đơn nghĩa hoặc chỉ đơn thuần là đồng âm. Xuất phát từ Aristotle, mà ở ông vấn đề này đã được báo trước dưới dạng nguyên mẫu ngay từ đầu của bản thể học Hy Lạp, họ đã thiết lập nhiều loại tương tự khác nhau, đến nỗi ngay cả các ‘Trường phái’ cũng có những cách khác nhau để hiểu chức năng biểu thị của ‘Hữu thể’. Trong việc giải quyết vấn đề bản thể học này, Descartes luôn đi sau các triết gia trường phái kinh viện;xiv thực tế ông đã né tránh câu hỏi. “…nulla eius (substantiae ) nominis significatio potest distincte intelligi, quae Deo et creaturis sit communis.”xv “…không thể hiểu rõ ràng ý nghĩa của cái tên (bản chất) đó, vốn là ý nghĩa chung cho cả Thiên Chúa và tạo vật.”xv Sự né tránh này tương đương với việc ông không thảo luận về ý nghĩa của Hữu thể mà ý niệm về tính thực thể bao hàm, hoặc đặc điểm của ‘tính phổ quát’ vốn thuộc về ý nghĩa này. Dĩ nhiên, ngay cả bản thể luận của thời trung cổ cũng không tiến xa hơn bản thể luận của thời cổ đại trong việc tìm hiểu ý nghĩa của ‘Hữu thể’ tự thân. Vì vậy, không hề ngạc nhiên nếu không có tiến triển nào với một câu hỏi như về cách thức mà trong đó ‘Hữu thể’ biểu thị, chừng nào điều này vẫn phải được thảo luận trên cơ sở của một ý nghĩa chưa được làm rõ về Hữu thể mà ý nghĩa này ‘thể hiện’. Cái ý nghĩa vẫn chưa được làm rõ bởi vì nó được coi là ‘hiển nhiên’.

Descartes không chỉ hoàn toàn né tránh câu hỏi bản thể luận về substantiality tính thực chất; ông còn nhấn mạnh một cách rõ ràng rằng bản chất theo đúng nghĩa - tức là tính thực chất của nó - tự thân nó là không thể tiếp cận được ngay từ đầu. “Verumtamen non potest substantia primum animadverti ex hoc solo, [tr.127] quod sit res existens, quia hoc solum per se nos non afficit…”.xvi “Tuy nhiên, bản chất không thể được quan sát lần đầu chỉ từ điều này, ở chỗ nó là một vật hiện tồn, bởi vì chỉ riêng điều này thôi thì không ảnh hưởng đến chúng ta…”xvi Bản thân ‘Hữu thể’ không ‘ảnh hưởng’ đến chúng ta, và do đó không thể được tri giác. ‘Hữu thể không phải là một vị ngữ Thực tại,’ Kant nói,2 ông chỉ đơn thuần lặp lại nguyên tắc của Descartes. Do đó, khả tính của một vấn đề thuần túy về Hữu thể theo nguyên tắc phải bị từ bỏ, và một cách thức được tìm kiếm để đạt được những đặc điểm xác định của bản chất mà chúng ta đã chỉ ra ở trên. Bởi vì ‘Hữu thể’ thực tế không thể tiếp cận được như một hiện hữu, nó được thể hiện thông qua các thuộc tính - những đặc điểm xác định của các thực thể đang được xem xét, những đặc điểm tạo nên bản thân chúng.3 Hữu thể không chỉ được thể hiện thông qua bất kỳ đặc điểm nào như vậy, mà còn thông qua những đặc điểm đáp ứng một cách thuần túy nhất ý nghĩa của ‘Hữu thể’ và ‘tính thực chất’, vốn vẫn được ngầm giả định. Đối với substantia finite thực thể hữu hạn với tư cách res corporea ‘vật thể hữu hình’, điều đầu tiên phải được ‘gán cho’ chính là the extensio cái quảng tính. “Quin et facilius intelligimus substantiam extensam, vel substantiam cogitantem, quam substantiam solam, omisso eo quod cogitet vel sit extensa” “Và chúng ta dễ dàng hiểu một thực thể có quảng tính, hay một thực thể có khả năng tư duy, hơn là một bản chất đơn thuần, bất kể thực thể đó có tư duy, có quảng tính không.”xvii vì tính thực chất với lý do ratione tantum có thể tách rời; realiter thực ra lại không thể tách rời, không thể bắt gặp nó theo cách chúng ta bắt gặp chính những thực thể đó vốn tồn tại về thực chất.           

Do đó, cơ sở bản thể luận để định nghĩa ‘thế giới’ là res extensa vật thể có quảng tính đã được làm rõ: chúng nằm ở ý niệm về tính thực chất, vốn không chỉ không được làm rõ về ý nghĩa Hữu thể của nó, mà còn được coi là thứ không thể làm rõ, và được thể hiện một cách gián tiếp thông qua bất kỳ thuộc tính bản chất nào thuộc về bản chất cụ thể đó một cách nổi bật nhất. Hơn nữa, theo cách định nghĩa một bản chất thông qua một thực thể thực chất nào đó, nằm ở lý do tại sao thuật ngữ ‘bản chất’ được sử dụng theo hai cách. Cái được đề cập ở đây là tính thực chất; và nó được hiểu theo nghĩa là một đặc tính của bản chất - một đặc tính vốn tự nó là một thực thể.4 Bởi vì một cái gì đó thuộc về ontic thực hữu được tạo ra để làm nền tảng cho cái gì đó thuộc về cái bản thể luận, nên thuật ngữ substantia ‘bản chất’ đôi khi lại vận hành với một ý nghĩa vốn mang tính bản thể luận, đôi khi với một ý nghĩa lại vốn thuộc về ontic thực hữu, nhưng chủ yếu là với một ý nghĩa mơ hồ vốn thuộc về thực hữu- bản thể luận. Tuy nhiên, đằng sau sự khác biệt nhỏ về ý nghĩa này, ẩn chứa một sự thất bại trong việc nắm vững vấn đề cơ bản của Hữu thể. Để xử lý vấn đề này một cách thỏa đáng, chúng ta phải ‘truy tìm’ các tính trạng mơ hồ theo đúng cách. Ai cố làm điều này thì không chỉ ‘bận rộn’ với ‘ý nghĩa đơn thuần bằng ngôn từ’, mà còn phải tiến tới vấn đề nguyên thủy nhất của ‘chính bản thân sự vật’ để làm sáng tỏ những ‘sắc thái’ như vậy.

21. Phép tường giải Bản thể luận của Descartes về ‘Thế giới’

[Tr.128] Vậy là nảy sinh câu hỏi có tính quyết định: liệu bản thể luận về ‘thế giới’ này có tìm kiếm hiện tượng của thế giới hay không, và nếu không, thì liệu ít nhất nó có định nghĩa một thực thể nào đó bên-trong-thế-giới một cách đầy đủ để liệu xem bản chất trần thế của thực thể này có thể được thể hiện rõ ràng trong đó không? Đối với cả hai câu hỏi, chúng ta phải trả lời ‘Không’. Cái thực thể mà Descartes đang cố gắng nắm bắt về mặt bản thể luận và nguyên tắc với cái ‘extensio’ quảng tính của ông, đúng hơn là một thực thể mà trước hết chỉ có thể được khám phá thông qua một thực thể bên- trong-thế-giới, một thực thể gần gũi và sẵn-có-để-dùng là Tự nhiên. Mặc dù vậy, và mặc dù bất kỳ đặc điểm bản thể luận nào của thực thể bên trong thế giới này có thể dẫn chúng ta đến sự mơ hồ, ngay cả khi chúng ta xem xét cả ý niệm về bản chất và ý nghĩa của cái nó ‘existit’ tồn tại và ‘ad existendum’ ‘để tồn tại’ vốn đã được đưa vào định nghĩa của ý niệm đó, vẫn có khả năng là thông qua một bản thể luận dựa trên sự phân tách triệt để giữa Chúa, cái ‘Tôi’ và ‘thế giới’, vấn đề bản thể luận của thế giới sẽ được hình thành và phát triển hơn nữa theo một nghĩa nào đó. Tuy nhiên, nếu điều này không thể, thì chúng ta phải chứng minh một cách rõ ràng không chỉ ở chỗ quan niệm của Descartes về thế giới là khiếm khuyết về mặt bản thể luận, mà còn về việc Diễn giải của ông và những nền tảng mà nó dựa vào đã khiến ông bỏ qua cả hai điều đó. Hiện tượng về thế giới và cái Hữu thể của những thực thể trong thế giới đó, những thực thể vốn luôn sẵn có và dễ tiếp cận.

Trong phần trình bày về vấn đề thế giới (Mục 14), chúng tôi đã gợi ý tầm quan trọng của việc tiếp cận đúng đắn hiện tượng này. Vì vậy, khi phê phán quan điểm xuất phát của Descartes, chúng ta phải hỏi loại Hữu thể nào thuộc về Dasein mà chúng ta nên tập trung vào để làm cơ sở cho việc tiếp cận những thực thể mà Descartes đồng nhất Hữu thể của ‘thế giới’ với Hữu thể của nó với tư cách là extensio quảng tính. Cách tiếp cận chân chính duy nhất đối với chúng nằm ở tri thức [Erkennen], intellectio trí lực, theo nghĩa của loại tri thức [Erkenntnis] mà chúng ta có được trong toán học và vật lý. Descartes coi tri thức toán học là cách duy nhất để nắm bắt các thực thể vốn luôn đảm bảo rằng Hữu thể của chúng đã được nắm bắt một cách chắc chắn. Nếu bất cứ điều gì có thể sánh ngang với Hữu thể có thể tiếp cận được trong tri thức toán học về mặt Hữu thể của chính nó, thì đó là theo nghĩa xác thực. Những thực thể như vậy là những thực thể luôn luôn là chính chúng. Theo đó, những gì có thể được chứng minh là có đặc tính của một cái gì đó luôn luôn tồn tại (như remanens capax mutationum vẫn còn năng lực biến đổi), tạo nên Hữu thể thực sự của các thực thể của thế giới được trải nghiệm. Cái gì tồn tại mãi mãi, thì thực sự là tồn tại. Đây là loại sự vật mà toán học biết rõ. Cái có thể tiếp cận được trong một thực thể thông qua toán học, thì tạo nên Hữu thể của nó. Do đó, Hữu thể của ‘thế giới’, như thể được quy định cho nó theo một ý niệm nhất định về Hữu thể vốn nằm ẩn giấu trong khái niệm về tính thực chất, [tr.129] và trong khuôn khổ ý niệm về một tri thức mà nhờ đó các thực thể như vậy được nhận thức. Loại Hữu thể thuộc về các thực thể bên-trong-thế-giới là thứ mà chính chúng có thể được phép trình bày; nhưng Descartes không cho phép chúng làm như vậy.5 Thay vào đó, ông quy định cho thế giới Hữu thể ‘thực’ của nó, như thể, trên cơ sở một ý niệm về Hữu thể mà nguồn gốc của nó chưa được hé lộ và chưa được chứng minh một cách đúng đắn - một ý niệm trong đó Hữu thể được đánh đồng với tình trạng constant presence-at-hand hằng hiện-vô-tri. Do đó, bản thể luận về thế giới của ông không chủ yếu được xác định bởi khuynh hướng của ông đối với toán học, một ngành khoa học mà ông tình cờ đánh giá rất cao, mà đúng hơn là bởi định hướng bản thể luận của ông về nguyên tắc hướng tới Hữu thể như một tình trạng constant presence-at-hand hằng hiện-vô-tri, điều mà tri ​​thức toán học đặc biệt phù hợp để nắm bắt. Bằng cách này, Descartes đã chuyển hướng một cách rõ ràng về mặt triết học từ sự phát triển của bản thể luận truyền thống sang vật lý toán học hiện đại và các nền tảng siêu nghiệm của nó.

Vấn đề làm thế nào để tiếp cận một cách thích hợp với các thực thể bên- trong-thế-giới là một vấn đề mà Descartes cảm thấy không cần phải nêu ra. Dưới sự thống trị không ngừng của bản thể luận truyền thống, cách thức để nắm bắt được một cách chân chính những gì thực sự tồn tại [des eigentlichen Seienden] đã được quyết định trước: nó nằm ở νοεῖν nhận thức – Anschauung trực giác ‘chiêm ngưỡng’ theo nghĩa rộng nhất; διάνοεῖν hay ‘tư duy’ chỉ là một hình thức hoàn thiện hơn của νοεῖν nhận thức và được xây dựng trên nền tảng của nó. Sensatio (αἴσθησις) tri giác, trái ngược với intellection trí lực, vẫn có thể là một cách tiếp cận các thực thể thông qua sự quan sát mang tính giác quan; nhưng Descartes đưa ra ‘phê phán’ của mình về điều này bởi vì ông được định hướng về mặt bản thể luận bởi những nguyên tắc này. Descartes biết rất rõ rằng các thực thể không tự biểu hiện một cách kề cận trong Hữu thể thực sự của chúng. Cái được cung cấp ‘kề cận’ là Vật thể bằng sáp này, có màu sắc, hương vị, độ cứng và độ lạnh theo những cách nhất định, và phát ra âm thanh đặc biệt của riêng nó khi gõ lên. Nhưng điều này không quan trọng về mặt bản thể học, cũng như bất cứ điều gì được cung cấp thông qua các giác quan, nói chung, đều không quan trọng. “Satis erit, si advertamus sensuum perceptiones non referri, nisi ad istam corporis humani cum mente coniunctionem, et nobis quidem ordinarie exhibere, quid ad illam externa corpora prodesse possint aut nocere…”xviii “Chỉ cần lưu ý rằng các tri giác giác quan không liên quan đến bất cứ điều gì khác ngoài sự kết hợp giữa thể xác và tâm trí con người, và thực tế, chúng thường cho chúng ta thấy những gì các yếu tố bên ngoài có thể làm cho nó tốt hơn hoặc gây hại cho nó...” xviii Các giác quan không cho phép chúng ta nhận thức bất kỳ thực thể nào trong Hữu thể của nó; chúng chỉ dùng để thông báo cách thức của các Sự vật ‘bên ngoài’ trong-thế-giới này là hữu ích hoặc có hại cho những hiện hữu người bị cản trở bởi cơ thể. “…non…nos docere, qualia [corpora] in seipsis existant”xix không phải…để dạy chúng ta biết loại [cơ thể] nào tồn tại trong chính nó; chúng không cho chúng ta biết gì về các thực thể trong Hữu thể của chúng. “Quod agentes, percipiemus naturam materiae, sive corporis in universum spectati, non consistere in eo quod sit res dura, vel ponderosa, vel colorata, [p.130] vel alio aliquo modo sensus afficiens : sed tantum in eo quod sit res extensa in longum, tatum et profundum.”xx “Qua hành động đó, chúng ta sẽ nhận thấy rằng bản chất của vật chất, hay của một vật thể được xem xét như một tổng thể, không nằm ở việc nó cứng, nặng, có màu sắc, [tr.130] hay tác động đến các giác quan theo bất kỳ cách nào khác: mà chỉ nằm ở việc nó là một vật thể quảng tính có chiều dài, chiều rộng và chiều sâu.”xx Nếu chúng ta phân tích một cách phê phán diễn giải của Descartes về trải nghiệm độ cứng chắc và sức cản, thì rõ ràng ông không thể để cho những gì thể hiện trong cảm giác tự hiện diện trong loại Hữu thể riêng của nó,6 hoặc thậm chí xác định được đặc tính của nó (Xem Phần 1 9).

Độ cứng được coi là sự kháng cự. Nhưng cả độ cứng lẫn sự kháng cự đều không được hiểu theo nghĩa hiện tượng học, như một thứ được trải nghiệm tự thân mà bản chất của nó có thể được xác định trong trải nghiệm đó. Đối với Descartes, sự kháng cự chỉ đơn thuần là không nhường chỗ - tức là không trải qua bất kỳ sự thay đổi vị trí nào. Vì vậy, nếu một Vật thể kháng cự, điều đó có nghĩa là nó vẫn ở một vị trí xác định so với một Vật thể khác đang thay đổi vị trí của nó, hoặc nó đang thay đổi vị trí của chính nó với một vận tốc cho phép Vật thể kia ‘bắt kịp’ nó. Nhưng khi trải nghiệm về độ cứng được diễn giải theo cách này, loại Hữu thể thuộc về tri giác giác quan bị xóa bỏ, và do đó, bất kỳ khả tính nào mà các thực thể gặp phải trong tri giác đó có thể được nắm bắt trong Hữu thể của chúng cũng bị xóa bỏ. Descartes lấy loại Hữu thể thuộc về tri giác về một cái gì đó, và chuyển nó thành loại duy nhất mà ông biết: tri giác về một cái gì đó trở thành một cách xác định của Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri-song song với hai vật thể có quảng tính hiện-diện-vô-tri; cách thức mà các vận động của chúng liên quan với nhau tự nó là một phương thức của quảng tính mà qua đó hiện-diện-vô-tri của Vật thể hữu hình được đặc trưng chủ yếu. Tất nhiên, không một hành vi nào mà người ta cảm nhận bằng xúc giác có thể được ‘hoàn thiện’ trừ khi cái có thể cảm nhận được có ‘tính gần gũi’ theo một cách rất đặc biệt. Nhưng điều này không có nghĩa là việc đụng chạm và độ cứng thể hiện ra khi chạm vào về mặt bản thể học bao gồm trong các vận tốc khác nhau của hai Vật thể hữu hình. Độ cứng và kháng cự không tự biểu lộ trừ khi một thực thể có loại Hữu thể mà Dasein - hoặc ít nhất là một thứ gì đó đang sống sở hữu.           

Do đó, thảo luận của Descartes về các loại tiếp cận khả thể đối với các thực thể trong-thế-giới bị chi phối bởi một ý niệm về Hữu thể được thu thập từ một lĩnh vực xác định của chính các thực thể này. Ý tưởng về Hữu thể với tư cách hiện-diện-vô-tri không chỉ mang lại cho Descartes động cơ để đồng nhất các thực thể bên-trong-thế-giới với thế giới nói chung, và để đưa ra định nghĩa cực đoan như vậy về Hữu thể của chúng; nó cũng ngăn cản ông đưa ra những cách hành xử của Dasein theo cách phù hợp về mặt bản thể luận. Nhưng do đó, con đường hoàn toàn bị khóa chặt [tr.131] không thể nhìn đặc trưng được tạo nền tảng của tất cả nhận thức giác quan và trí tuệ, và để hiểu chúng như những khả tính của Hữu thể trong-thế-giới.7 Ngược lại, ông coi Hữu thể của ‘Dasein’ (mà cái Hữu-thể- trong-thế-giới thuộc về cấu thành cơ bản của nó) theo cùng một cách như ông coi Hữu thể của res extensa Vật thể có quảng tính – với tư cách là bản chất. Nhưng với những lời phê bình này, chẳng phải chúng ta đã đẩy cho Descartes một nhiệm vụ hoàn toàn vượt quá tầm nhìn của ông, và sau đó tiếp tục ‘chứng minh’ rằng ông đã thất bại trong việc giải quyết nó hay sao? Nếu Descartes không biết hiện tượng của thế giới, và do đó không biết đến cái gọi là sự vật bên-trong-thế-giới-tính, thì làm sao ông có thể đồng nhất chính thế giới với những thực thể nhất định bên-trong-thế-giới và cái Hữu thể mà chúng sở hữu?

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1This portion ofBeing and Time has never been published.

2 Immanuel Kant, Critique ofPure &ason, Transcendental Dialectic, Book II, chapter III, Section 4· [p.127]

3. ‘…seiende Bestimmtheiten des betreffenden Seienden…’ [p.127]

4 ‘…aus einer seienden Beschaffenheit der Substanz.’ [p.127]

5 ‘Descartes liisst sich nicht die Seinsart des innerweltlichen Seienden von diesem vorgeben…’ [p.129]

6 ‘…das in der Sinnlichkeit sich Zeigende in seiner eigenen Seinsart sich vorgeben zu lassen…’ [p.130]

7 'Damit ist aber vollends dcr Weg dazu verlegt,gar auch noch den fundierten Charakter alles sinnlichen und verstandesmiissigen Vernehmens zu sehen und sie als eine Moglichkeit des ln-der-Welt-seins zu verstehen.' While we have construed the pronoun 'sie' as referring to the two kinds of awareness which have just been mentioned, it would be grammatically more plausible to interpret it as referring either to 'Dasein's ways of behaving' or to 'the idea of Being as permanent presence-at-hand'. [p.131]

 


 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét