Powered By Blogger

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (IX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

II. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI: TRẠNG THÁI CƠ BẢN CỦA DASEIN

12. Phác thảo về Hữu-thể-trong-Thế-giới

[Tr.82] Trước tiên, chỉ cần thấy sự khác biệt bản thể luận giữa Hữu-thể-trong như một existentiale yếu tố hiện sinh [Chen ngang: existentiale của Martin Heidegger đề cập đến một đặc điểm cấu trúc cơ bản, phổ quát của sự tồn tại của con người. Không giống như các đặc điểm thực nghiệm, yếu tố hiện sinh là những điều kiện cốt lõi, tiên nghiệm tạo nên ý nghĩa của Dasein, chẳng hạn như thời tính hay Hữu-thể-trong-thế-giới. Heidegger phân biệt giữa existentiale yếu tố hiện sinh – có tính bản thể luận và existentiell yếu tố thực hữu ontic để làm rõ bản chất con người: Yếu tố hiện sinh là những đặc điểm cấu trúc của đời sống Dasein con người áp dụng cho mọi hiện hữu người trong suốt lịch sử. Chúng đề cập đến ‘cách thức’ chúng ta tồn tại. Còn existentiell yếu tố thực hữu đề cập đến những lựa chọn cụ thể, cá nhân và hàng ngày mà một cá nhân đưa ra. Chúng đề cập đến ‘những gì’ tôi đang làm, tin tưởng hoặc cảm nhận. Nói một cách đơn giản, existentiale yếu tố hiện sinh là bản thiết kế phổ quát của sự tồn tại người, trong khi existentiell yếu tố thực hữu là cách thức cụ thể, được trải nghiệm mà tôi chọn để xây dựng cuộc sống của mình trong bản thiết kế đó. Ví dụ điển hình về existentiale yếu tố hiện sinh là In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới là một khái niệm nền tảng của Martin Heidegger. Nó mô tả Hữu thể của con người như một nhất tính năng động, không thể tách rời, chứ không phải là một tâm trí tách biệt quan sát vũ trụ vật chất từ ​​bên ngoài. Heidegger sử dụng cụm từ đơn này để phá vỡ sự phân chia triết học truyền thống giữa ‘chủ thể’ con người và ‘khách thể’ thế giới. Để thực sự nắm bắt được In-der-Welt-sein, cần phải phân tích nó thành các thành phần cốt lõi: i) ‘In’ ‘trong’ mang ý nghĩa của sự cư ngụ - trong ngôn ngữ hàng ngày, ‘trong’ thường có nghĩa là sự chứa đựng vật lý, giống như nước trong cốc. Heidegger bác bỏ định nghĩa ‘không gian’ này, thay vào đó, ông sử dụng nghĩa bản thể học của từ tiếng Đức cổ innan ‘trong’, có nghĩa là cư trú hoặc sống, hàm nghĩa thân thuộc và gắn kết. Tôi ‘ở trong’ thế giới bởi vì tôi nhập thân vào nó - sử dụng công cụ, tương tác với mọi người và thực hiện các công việc hàng ngày; ii) ‘Welt’ thế giới của Heidegger không đề cập đến quả địa cầu vật lý hay một tập hợp các vật thể tự nhiên; thay vào đó, ông muốn nói đến mạng lưới có ý nghĩa của các mối quan hệ, thiết bị và thực tiễn mà tôi đang sống trong đó; chẳng hạn ‘thế giới’ của một người thợ mộc không chỉ là những cây cối và gỗ vật lý, mà còn là xưởng, búa, thước đo và nghề nghiệp - tất cả đều chỉ có ý nghĩa khi liên quan đến mục tiêu của con người; iii) ‘Sein’Dasein - Heidegger gọi phương thức hiện hữu của con người là Dasein, nghĩa đen là ‘Có đó’. Bởi vì bản chất của Dasein là tồn tại và tồn tại của nó về mặt cấu trúc không thể tách rời khỏi việc Hữu-thể-trong-thế-giới. Tôi không thể tách một con người ra khỏi bối cảnh của họ mà vẫn có một con người; con người được định nghĩa bởi môi trường của họ và dự án hiểu biết thực tại của họ; iv) Geworfenheit Đặc điểm chính của Hữu-thể-trong-thế-giới là tình trạng bị ném vào: Tôi không lựa chọn để bước vào thế giới; đơn giản là tôi bị ‘ném’ vào một thời điểm, nền văn hóa và hoàn cảnh cụ thể mà tôi phải tự xoay xở; v) Verstehen Hiểu biết - tôi tạo ra ý nghĩa cho thế giới không chỉ bằng tư duy lý thuyết, mà còn bằng thực hành các cách thức hoạt động trong đó; tôi hiểu bản thân bằng cách hiểu những khả tính của mình trong thế giới; vi) Sorge Quan tâm/Chăm sóc - chúng ta không bao giờ thờ ơ với thế giới; chúng ta luôn gắn bó, quan tâm và hướng đến mọi thứ và mọi người; vi). Zeitlichkeit Thời tính - Hiện sinh nhấn mạnh rằng sự tồn tại của chúng ta về cơ bản hướng tới thời gian; chúng ta tồn tại trong hiện tại, tự phóng chiếu mình vào tương lai - các khả tính của chúng ta, và bị neo giữ bởi quá khứ - những gì chúng ta đã bị ném vào; vii) Mitsein Being-with Hữu-thể-chung: Chân lý cấu trúc chính là Dasein con người vốn dĩ chia sẻ với kẻ khác; ngay cả khi sống cô lập, chúng ta vẫn sống trong mối quan hệ với thế giới xã hội. Điều đó mang tính cốt lõi đối với Heidegger trong việc đưa triết học thoát khỏi những khái niệm trừu tượng về bản chất con người; thay vì hỏi ‘Con người là gì?’ như một đối tượng cố định hoặc thực thể sinh học, ông muốn khám phá những cấu trúc năng động định hình sự tham gia tích cực, liên tục của chúng ta vào thực tại.HHN] và phạm trù Inwendigkeit ‘tính bên trong’ mà các sự vật Vorhandenem vô tri có thể có đối với nhau. Bằng cách phân định Hữu-thể-trong như vậy, chúng ta không phủ nhận mọi loại Räumlichkeit ‘không gian tính’ đối với Dasein. Ngược lại, bản thân Dasein có một ‘Hữu-thể-trong-không-gian’ riêng; nhưng điều này đến lượt nó chỉ có thể xảy ra trên cơ sở ‘Hữu-thể-trong- thế-giới nói chung. Do đó, Hữu-thể-trong không thể được lý giải về phương diện bản thể luận bằng một số đặc điểm ontische thực hữu, như thể người ta nói, chẳng hạn, Hữu-thể-trong trong một thế giới là một thuộc tính tinh thần, và ‘không gian tính’ con người là kết quả bản chất thể xác của anh ta (đồng thời, luôn được ‘xây dựng’ trên tính thân xác).

[Chen ngang Đức văn để so sánh bản Anh văn: Zunächst gilt es nur, den ontologischen Unterschied zwischen dem In-Sein als Existenzial und der »Inwendigkeit« von Vorhandenem untereinander als Kategorie zu sehen. Wenn wir so das InSein abgrenzen, dann wird damit nicht jede Art von »Räumlichkeit« dem Dasein abgesprochen. Im Gegenteil: Das Dasein hat selbst ein eigenes »Im-Raum-sein«, das aber seinerseits nur möglich ist auf dem Grunde des In-der-Welt-seins überhaupt. Das InSein kann daher ontologisch auch nicht durch eine ontische Charakteristik verdeutlicht werden, daß man etwa sagt: Das In-Sein in einer Welt ist eine geistige Eigenschaft, und die »Räumlichkeit« des Menschen ist eine Beschaffenheit seiner Leiblichkeit, die immer zugleich durch Körperlichkeit »fundiert« wird. Damit steht man wieder bei einem Zusammen-vorhanden-sein eines so beschaffenen Geistdinges mit einem Körperding, und das Sein des so zusammengesetzten Seienden als solches bleibt erst recht dunkel. Das Verständnis des In-der-Welt-seins als Wesensstruktur des Daseins ermöglicht erst die Einsicht in die existenziale Räumlichkeit des Daseins. Sie bewahrt vor einem Nichtsehen bzw. vorgängigen Wegstreichen dieser Struktur, welches Wegstreichen nicht ontologisch, wohl aber »metaphysisch« motiviert ist in der naiven Meinung, der Mensch sei zunächst ein geistiges Ding, das dann nachträglich »in« einen Raum versetzt wird. Tạm dịch nghĩa: Ban đầu, chỉ cần nhận thấy sự khác biệt về mặt bản thể học giữa Hữu-thể-trong như là hiện sinh [Chen: existentiale, số nhiều existentialia là một đặc điểm cấu trúc cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người. Đó là những cấu trúc phổ quát, tiên nghiệm tạo nên cuộc sống con người và định hình cách chúng ta trải nghiệm thế giới, chẳng hạn như sự hữu hạn, sự hiểu biết và tâm trạng - HHN] và ‘tính nội tại’ của các sự vật tồn tại giữa chúng như một phạm trù. Nếu chúng ta giới hạn Hữu-thể-trong như vậy, thì không phải mọi loại “không gian” đều bị phủ nhận đối với Dasein. Ngược lại: Bản thân Dasein có ‘Hữu-thể-trong-không- gian’ riêng, tuy nhiên, điều này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở Hữu-thể-trong-thế-giới nói chung. Do đó, Hữu-thể-trong không thể được làm rõ về mặt bản thể luận bằng việc đặc trưng hóa ontic thực hữu, chẳng hạn như nói rằng: Hữu-thể-trong-thế-giới là một thuộc tính tinh thần, và ‘tính không gian’ của con người là một đặc điểm của tính vật chất của họ, vốn luôn đồng thời được ‘tạo dựng’ bằng tính vật chất. Điều này dẫn chúng ta trở lại sự cùng tồn tại của một sự vật tinh thần như vậy với một sự vật vật chất, và Hữu thể của một hiện hữu phức hợp này thậm chí còn mơ hồ hơn. Chỉ khi hiểu Hữu-thể-trong-thế-giới như là cấu trúc thiết yếu của Dasein thì mới có thể thấu hiểu tính không gian hiện sinh của Dasein. Nó ngăn cản bỏ qua hoặc bác bỏ cấu trúc này, không phải về mặt bản thể luận, mà là về mặt ‘siêu hình học’, được thúc đẩy bởi niềm tin ngây thơ rằng con người ban đầu là một thực thể tinh thần sau đó được đặt ‘vào’ một không gian. - HHN]

Ở đây, chúng ta lại đối mặt với Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri đồng thời của một Sự vật tinh thần nào đó cùng với một Sự vật vật chất, trong khi Hữu thể của cái hiện hữu được kết hợp như vậy vẫn còn mơ hồ hơn bao giờ hết [tr.83]. Chỉ khi nào chúng ta hiểu được Hữu-thể-trong-thế-giới như một cấu trúc thiết yếu của Dasein, thì chúng ta mới có thể hiểu được không gian tính hiện sinh của Dasein. Cách thấu hiểu như vậy sẽ giúp chúng ta không bỏ qua cấu trúc này hoặc không loại bỏ nó trước đó - một quá trình được thúc đẩy không phải về phương diện bản thể luận mà là về phương diện ‘siêu hình học’ dựa trên giả định ngây thơ cho rằng con người, trước hết, là một Vật thể tinh thần, sau đó bị đặt sai ‘vào’ một không gian. Thực tính của Dasein là Hữu-thể-trong-thế-giới của nó luôn tự phân tán [zerstreut] hoặc thậm chí tự chia tách thành những cách thức nhất định của Hữu-thể-trong. Đa tính của những cách thức này được thể hiện qua các ví dụ sau: liên quan đến điều gì đó, sản sinh ra cái gì đó, chú ý đến cái gì đó và chăm sóc nó, sử dụng cái gì đó, từ bỏ cái gì đó và xa rời nó, đảm nhận, hoàn thành, chứng minh, cật vấn, xem xét, thảo luận, quyết định… Tất cả những cách thức Hữu-thể-trong này đều có mối quan tâm1 như một loại Hữu thể - một loại Hữu thể mà chúng ta vẫn chưa mô tả chi tiết. Bỏ dở, lơ là, từ bỏ, xả hơi - đây cũng là những cách thể hiện mối quan tâm; nhưng tất cả đều là những phương thức thiếu sót, trong đó các khả tính quan tâm được giữ ở mức ‘tối thiểu’.2

Thuật ngữ ‘quan tâm’, trước hết, có nghĩa vorwissenschaftliche tiền-khoa học, và có thể có nghĩa thực hiện điều gì đó, hoàn thành nó [erledigen], ‘giải quyết nó một cách ổn thỏa’. Nó cũng có thể có nghĩa là ‘tự cung cấp cho mình cái gì đó’.3 Chúng ta sử dụng cách diễn đạt này với một cách diễn đạt đặc trưng khác khi nói ‘Tôi quan tâm đến sự thành công của công việc.’4 Ở đây, ‘quan tâm’ có một ý nghĩa nào đó giống như trạng thái lo lắng. Trái ngược với những ý nghĩa ontische thực hữu thông thường ấy, thuật ngữ ‘quan tâm’ sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này như một thuật ngữ bản thể luận cho một existentiale yếu tố hiện sinh, và sẽ chỉ định Hữu thể của một cách thức khả thể của Hữu-thể-trong-thế-giới. Thuật ngữ này được chọn không phải vì Dasein tình cờ gần gũi và ở mức độ lớn là ‘thực tiễn’ và kinh tế, mà vì Hữu thể của chính Dasein [tr.84] sẽ được trình hiện với tư cách là sự quan tâm.5 Cách biểu đạt này cũng được coi là một khái niệm cấu trúc bản thể luận. (Xem Chương 6 của Phần này.) Nó không liên quan gì đến ‘khổ não’, ‘u sầu’, hay ‘những lo toan của cuộc sống’, mặc dù về phương diện ontische thực hữu người ta có thể bắt gặp những bận tâm này trong mọi Dasein. Các mối quan tâm này - giống như những điều trái ngược của chúng, ‘vui vẻ’ và ‘thoát khỏi lo lắng’ - chỉ có thể tồn tại về phương diện ontische thực hữu bởi vì Dasein, khi được hiểu theo phương diện bản thể luận, lại chính là quan tâm. Bởi vì Hữu-thể-trong-thế-giới về bản chất thuộc về Dasein, nên cái Sein zur Welt Hữu thể hướng đến thế giới của nó về bản chất là sự quan tâm. Từ những gì chúng ta đã nói, có thể thấy rằng Hữu-thể-trong không phải là một ‘thuộc tính’ mà Dasein đôi khi có và đôi khi không có, và nếu không có nó thì Dasein vẫn có thể tồn tại ổn thỏa như khi có nó. Không phải là con người ‘tồn tại’ rồi sau đó, như một yếu tố bổ sung, có một mối quan hệ-Bản-thể đối với ‘thế giới’ - một thế giới mà anh ta thỉnh thoảng tự tạo ra cho mình.6 Dasein không bao giờ là một hiện hữu ‘gần gũi’, nói cách khác, là kẻ tự do khỏi Bản-thể-trong, nhưng đôi khi lại có khuynh hướng thiết lập một ‘mối quan hệ’ đối với thế giới. Việc thiết lập các mối quan hệ đối với thế giới chỉ có thể xảy ra bởi vì Dasein, với tư cách là Hữu-thể- trong-thế-giới, tồn tại như chính nó. Trạng thái Hữu thể này không phát sinh chỉ vì một hiện hữu khác hiện-diện-vô-tri bên ngoài Dasein và gặp gỡ nó. Một hiện hữu như vậy chỉ có thể ‘gặp gỡ’ Dasein khi nó có thể tự bộc lộ mình trong một thế giới.   

Ngày nay người ta nói nhiều về việc ‘con người’ có một Umwelt môi trường’; nhưng điều này không nói lên điều gì về mặt bản thể luận chừng nào khái niệm ‘có’ này còn chưa được định nghĩa rõ ràng. Trong khả tính của nó, ‘việc có’ này được xây dựng trên trạng thái hiện sinh của Hữu-thể-trong. Bởi vì Dasein về bản chất là một hiện hữu có Hữu-thể-trong, nó có thể khám phá một cách rõ ràng những hiện hữu mà nó gặp phải trong môi trường, nó có thể biết chúng, nó có thể tận dụng chúng, nó có thể có ‘thế giới’. Nói về việc ‘có một môi trường’ thì về phương diện ontische thực hữu thì quá bình thường, nhưng về mặt bản thể luận, nó lại đặt ra một vấn đề. Để giải quyết vấn đề này, không cần gì khác ngoài việc định nghĩa Hữu thể của Dasein, và làm như vậy theo cách phù hợp về mặt bản thể luận. Mặc dù trạng thái Hữu thể này đã được sử dụng trong sinh học, đặc biệt là từ thời K. von Baer (1792-1876), ​​người ta vẫn không nên kết luận rằng việc sử dụng về phương diện triết học của nó lại hàm ý ‘sinh học luận’. [Biologism hay sinh học luận, thuyết quyết định sinh học - là quan điểm cho rằng mọi khía cạnh của hành vi, năng lực và cấu trúc xã hội con người đều được giải thích, quyết định hoặc bắt nguồn từ các yếu tố sinh học thuần túy như gen, bản năng hoặc quá trình tiến hóa. HHN] Bởi vì môi trường là một cấu trúc mà ngay cả sinh học với tư cách là một khoa học thực chứng cũng không bao giờ có thể tìm thấy và không bao giờ có thể định nghĩa được, mà phải giả định và liên tục sử dụng. Tuy nhiên, ngay cả khi là điều kiện tiên nghiệm cho các khách thể mà sinh học lấy làm chủ đề, thì cấu trúc này tự nó vẫn chỉ có thể được giải thích về mặt triết học nếu nó được hình dung trước đó như một cấu trúc của Dasein. Chỉ trong định hướng [tr.85] đối với cấu trúc bản thể luận được hình dung như vậy thì ‘sự sống’ như một trạng thái Hữu thể mới có thể được định nghĩa tiên nghiệm, và điều này phải được thực hiện theo cách phủ định.7 Về phương diện ontische thực hữu cũng như bản thể luận, ưu quyền thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới với tư cách quan tâm. Trong phân tích Dasein, cấu trúc này trải qua một Diễn giải cơ bản.            

Nhưng chẳng phải chúng ta đã tự giới hạn mình trong những xác quyết phủ định trong tất cả mọi nỗ lực xác định bản chất của trạng thái Hữu thể này sao? Mặc dù Hữu-thể-trong này được cho là rất cơ bản, chúng ta vẫn luôn nghe nói về những gì không phải là nó. Đúng vậy. Nhưng không có gì là ngẫu nhiên khi chúng ta mô tả nó chủ yếu theo cách phủ định như vậy. Khi thực hiện điều đó, chúng ta đã làm sáng tỏ những đặc điểm riêng biệt của hiện tượng này, và do đó, sự mô tả của chúng ta mang tính tích cực theo đúng nghĩa - một nghĩa phù hợp với chính hiện tượng đó. Khi Hữu-thể-trong-thế-giới được thể hiện về phương diện hiện tượng học, thì những thứ ngụy trang và che giấu bị lột bỏ bởi vì chính hiện tượng này luôn được ‘nhìn thấy’ theo một cách nhất định trong mọi Dasein. Và nó được ‘nhìn thấy’ như vậy bởi vì nó tạo nên một trạng thái cơ bản của Dasein, và trong mọi trường hợp đã được bộc lộ cho sự hiểu biết của Dasein về Hữu thể, và được bộc lộ cùng với chính Hữu thể đó. Nhưng phần lớn hiện tượng này đã được giải thích theo cách thức sai, hoặc được diễn giải không đầy đủ về phương diện bản thể luận. Mặt khác, việc ‘nhìn thấy theo một cách nhất định nhưng phần lớn là giải thích sai’ này lại không dựa trên điều gì khác ngoài chính trạng thái Hữu thể này của Dasein, trạng thái mà chính Dasein - và điều này cũng có nghĩa là Hữu-thể-trong-thế-giới của nó - có được hiểu biết bản thể luận về chính nó trước hết từ những hiện hữu vốn không phải là bản thân nó nhưng nó gặp ‘bên trong’ thế giới của nó, và từ Hữu thể mà chúng sở hữu.

Cả trong Dasein và đối với nó, trạng thái Hữu thể này luôn luôn bekannt thân thuộc theo một cách nào đó. Giờ đây, nếu nó cũng bắt đầu erkannt được biết đến, thì cái cách biết đến mà nhiệm vụ đó hiển nhiên hàm chứa sẽ tự coi mình (như một Welterkennen hiểu biết về thế giới) với tư cách là minh họa chính yếu cho mối quan hệ của linh hồn với thế giới. Việc hiểu biết thế giới (νοεῖν) - hay đúng hơn là hướng đến ‘thế giới’ và thảo luận về nó (λóγos) - do đó hoạt động như là phương thức chính của Hữu-thể-trong-thế-giới, mặc dù Hữu-thể-trong-thế-giới tự thân không được hình thành theo đúng nghĩa. Nhưng bởi vì cấu trúc này của Hữu thể vẫn không thể tiếp cận được về mặt bản thể luận, nhưng lại được trải nghiệm về phương diện ontische thực hữu như một ‘mối quan hệ’ giữa một hiện hữu (thế giới) và một hiện hữu khác (linh hồn), và bởi vì người ta hiểu Hữu thể một cách gần gũi bằng cách coi các hiện hữu là các hiện hữu bên-trong-thế-giới làm điểm tựa bản thể luận của mình, nên người ta cố gắng hình dung mối quan hệ giữa thế giới và linh hồn như được đặt nền tảng trong chính hai hiện hữu này [tr.86] và trong ý nghĩa Hữu thể của chúng - cụ thể là, hình dung nó như là Hữu thể present-at-hand hiện-diện-vô-tri. Và mặc dù Hữu-thể-trong-thế-giới là một cái gì đó mà người ta có kinh nghiệm và sự quen thuộc tiền-hiện tượng học [erfahren und gekannt], nhưng nó trở nên vô hình nếu người ta diễn giải nó theo cách không phù hợp về mặt bản thể luận. Trạng thái Hữu thể của Dasein này giờ đây là cái trạng thái mà người ta chỉ mới quen thuộc (và thực sự là một cái gì đó hiển nhiên), mang dấu ấn của một cách diễn giải không phù hợp. Vì vậy, theo cách này, nó trở thành xuất phát điểm ‘hiển nhiên’ cho các vấn đề về nhận thức luận hoặc ‘siêu hình học về tri thức’.

Còn gì hiển nhiên hơn việc một ‘chủ thể’ có mối quan hệ với một ‘khách thể’ và ngược lại? Mối quan hệ ‘chủ thể-khách thể’ này phải được giả định trước. Nhưng trong khi giả định này không thể bị bác bỏ về thực tính của nó, thì điều đó lại khiến nó trở nên tai hại nếu sự cần thiết về mặt bản thể luận và đặc biệt là ý nghĩa bản thể luận của nó bị bỏ ngỏ. Do đó, hiện tượng Hữu-thể-trong phần lớn được thể hiện độc quyền bởi một ví dụ duy nhất – nhận biết thế giới. Điều này không chỉ đúng trong lĩnh vực nhận thức luận; bởi vì ngay cả hành vi thực tiễn cũng được hiểu là hành vi ‘vô-lý thuyết’ và ‘phi lý thuyết’. Bởi vì tri thức có được ưu quyền như vậy, nên hiểu biết của chúng ta về loại Hữu thể cơ bản nhất của nó bị dẫn dắt lạc lối, và do đó Hữu-thể-trong-thế-giới phải được thể hiện chính xác hơn nữa liên quan đến việc nhận biết thế giới, và bản thân nó phải trở nên hiển hiện như một ‘phương thức’ yếu tố hiện sinh của Hữu-thể-trong.

13. Phương thức Minh họa Hữu-thể-trong.8 Nhận biết Thế giới.

Nếu Hữu-thể-trong-thế-giới là một trạng thái cơ bản của Dasein, và là trạng thái mà Dasein hoạt động không chỉ nói chung mà còn nổi bật trong phương thức thường nhật, thì nó cũng phải là một điều gì đó luôn được trải nghiệm về phương diện ontische thực hữu. Thật khó hiểu nếu Hữu-thể-trong-thế-giới lại hoàn toàn bị che khuất khỏi tầm nhìn, đặc biệt là khi Dasein có sẵn hiểu biết về chính Hữu thể của nó, cho dù hiểu biết này có vận hành mơ hồ đến mức nào. Nhưng ngay khi ‘hiện tượng nhận biết thế giới’ được nắm bắt, nó đã được diễn giải một cách ‘hời hợt’, [tr.87] hình thức. Bằng chứng cho điều này là quy trình (ngày nay vẫn còn phổ biến) xác lập tri thức như một ‘mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể’ - một quy trình trong đó ẩn chứa cả ‘chân lý’ lẫn tính trống rỗng. Nhưng chủ thể và khách thể không trùng khớp với Dasein và thế giới.              

Ngay cả khi có thể đưa ra một định nghĩa bản thể luận về Hữu-thể-trong  chủ yếu theo khuôn khổ của một Hữu-thể-trong-thế-giới vốn hiểu biết, thì nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta vẫn là chứng minh rằng hiểu biết có đặc tính hiện tượng của một Hữu thể vốn ở trong và hướng tới thế giới. Nếu suy ngẫm về mối quan hệ này của Hữu thể, thì một hiện hữu được gọi là ‘Tự nhiên’ được đưa ra gần gũi như là cái bắt đầu được biết đến. Hiểu biết, tự thân nó, không thể bắt gặp trong hiện hữu này. Nếu hiểu biết ‘tồn tại’ thì nó chỉ thuộc về các hiện hữu hiểu biết được. Nhưng ngay cả trong những hiện hữu đó, những Sự vật-con người, thì hiểu biết cũng không Vorhanden/present-at-hand hiện diện vô tri. Trong bất kỳ trường hợp nào, nó cũng không thể xác định được từ bên ngoài, chẳng hạn, như các thuộc tính của cơ thể.9 Giờ đây, vì hiểu biết thuộc về các hiện hữu này và không phải là một đặc điểm bên ngoài nào đó, nên nó phải ở ‘bên trong’. 

Giờ đây, càng khẳng định một cách rõ ràng rằng hiểu biết ở gần, thực sự ở ‘bên trong’ và không hề có cùng loại Hữu thể như những hiện hữu vừa vật chất vừa tâm linh, thì người ta càng ít giả định khi tin rằng mình đang đạt được tiến bộ trong vấn đề bản chất của tri thức và trong việc làm rõ mối quan hệ giữa chủ thể và Khách thể. Chỉ khi đó vấn đề nảy sinh là làm thế nào chủ thể nhận thức này thoát ra khỏi ‘phạm vi’ bên trong của nó để bước vào một phạm vi ‘khác và bên ngoài’, làm thế nào mà hiểu biết có thể có bất kỳ khách thể nào, và làm thế nào người ta phải suy nghĩ về chính khác thể đó để cuối cùng chủ thể nhận thức được nó mà không cần phải mạo hiểm nhảy vọt vào một phạm vi khác. Nhưng trong bất kỳ biến thể nào của cách tiếp cận này, thì câu hỏi về loại Hữu thể nào thuộc về chủ thể nhận thức này hoàn toàn không được đặt ra, mặc dù bất cứ khi nào hiểu biết của nó được xử lý, con đường Hữu thể của nó đã được ngấm ngầm bao gồm trong chủ đề của người ta. Tất nhiên, đôi khi chúng ta được đảm bảo rằng chắc chắn chúng ta không nên nghĩ về ‘bên trong’ [Innen] của chủ thể và ‘phạm vi bên trong’ của nó như một loại ‘hộp’ hoặc ‘tủ’. Nhưng khi người ta hỏi về ý nghĩa tích cực của cái ‘bên trong’ nội tại này mà nhận thức được bao hàm một cách gần gũi, hoặc khi người ta hỏi làm thế nào mà cái Innenseins ‘Hữu thể bên trong’ này mà việc hiểu biết có được lại mang cái đặc tính riêng của Hữu thể dựa trên loại Hữu thể thuộc về chủ thể, thì lại ngự trị sự im lặng. Và bất kể phạm vi bên trong này được diễn giải như thế nào, nếu chỉ hỏi làm thế nào hiểu biết mở đường ‘thoát ra’ khỏi nó và đạt được ‘siêu việt’, thì rõ ràng cái hiểu biết, vốn trình hiện những bí ẩn như vậy, sẽ vẫn còn nhiều vấn đề trừ khi đã minh định trước được bản thân nó là gì và cách thức mà nó tồn tại.

[Tr.88] Với loại tiếp cận này, người ta vẫn mù mịt trước những gì đã được ngầm hiểu ngay cả khi ta lấy hiện tượng hiểu biết làm chủ đề theo cách tạm thời nhất: đó là, hiểu biết là một phương thức Hữu thể của Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, và được tạo dựng về phương diện ontische thực hữu trên cơ sở trạng thái Hữu thể này. Nhưng nếu, như đã đề xuất, về phương diện hiện tượng chúng tôi nhận thấy rằng hiểu biết là một loại Hữu thể thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới, thì người ta có thể phản đối rằng với cách Diễn giải hiểu biết như vậy, thì vấn đề tri thức bị vô hiệu hóa; vì còn gì để hỏi nếu người ta giả định rằng hiểu biết đã ‘song hành’ với thế giới của nó, khi nó không được cho là đạt đến thế giới đó ngoại trừ trong sự siêu việt của chủ thể? Trong câu hỏi này, ‘quan điểm’ kiến ​​ tạo, vốn chưa được chứng minh về hiện tượng, lại trở nên nổi bật; nhưng hoàn toàn tách biệt với điều này, tòa án cấp cao nào sẽ quyết định liệu và theo nghĩa nào để có bất kỳ vấn đề tri thức nào khác ngoài hiện tượng tri thức theo đúng nghĩa và loại Hữu thể thuộc về kẻ hữu tri?

Nếu bây giờ chúng ta hỏi điều gì thể hiện trong những phát hiện hiện tượng về tri thức, chúng ta phải ghi nhớ rằng tri thức được đặt nền tảng từ trước trong một Hữu-thể-đã-song-hành-cùng-thế-giới, mà về bản chất là cấu thành nên Hữu thể của Dasein.10 Gần gũi hơn, Hữu-thể-đã-song-hành này không chỉ là việc nhìn chằm chằm vào một thứ gì đó thuần túy Vorhanden/present-at-hand hiện diện vô tri. Hữu-thể-trong-thế-giới, với tư cách là mối quan tâm, bị cuốn hút bởi thế giới mà nó quan tâm.11 Nếu tri thức trở nên khả thể như một cách để xác định bản chất của lối Vorhanden hiện-diện-vô-tri bằng cách quan sát nó,12 thì trước hết phải có một sự thiếu sót trong việc chúng ta dính-líu-đến thế giới bằng cách quan tâm. Khi mối quan tâm Sichenthalten ngăn cản khỏi bất kỳ loại sản xuất, thao túng, và những thứ tương tự nào, thì nó đặt mình vào cái mà giờ đây là phương thức duy nhất còn lại của Hữu-thể-trong, cái phương thức chỉ đơn thuần là nán lại bên cạnh….[das Nur-noch-verweilen bei…]

[Chen ngang: das Nur-noch-verweilen bei – ‘chỉ nán lại bên cạnh’, hoặc ‘chỉ lưu lại với’) đề cập đến một phương thức chiêm nghiệm không vụ lợi, trong đó chúng ta gạt bỏ các mục tiêu thực tiễn và chỉ đơn giản quan sát một khách thể đúng như bản chất của nó. Đối với Heidegger, con người chủ yếu tương tác với thế giới thông qua Besorgen - quan tâm - sử dụng các đối tượng như công cụ, chẳng hạn như cầm búa để đóng đinh. Chúng ta không chỉ nhìn thấy công cụ; chúng ta nhìn thấy mục đích của nó. Tuy nhiên, khi ngừng thao tác thực tiễn này, mối quan hệ của chúng ta với thế giới sẽ thay đổi - chúng ta cố tình lùi lại khỏi việc xây dựng, xử lý hoặc tương tác với thế giới. Việc ‘Chỉ lưu lại’ - Bằng cách này, mối quan tâm thực tiễn của chúng ta quy giản thành ‘chỉ nán lại bên cạnh’ khách thể. Kết quả là chúng ta không còn nhìn nhận khách thể chỉ đơn thuần là một thiết bị để sử dụng nữa. Thay vào đó, chúng ta để nó xuất hiện ‘thuần túy theo cách nó trông như thế nào’ - cái eidos bản chất của nó. Khái niệm này rất quan trọng vì nó giải thích nền tảng của tri thức lý thuyết - chẳng hạn như quan sát khoa học. Theo Heidegger, việc quan sát lý thuyết không tự nhiên mà có; nó trở nên khả thể chính xác là vì chúng ta rút lui khỏi các nhiệm vụ chủ động, thực hành và chuyển sang chế độ ‘chỉ đơn thuần lưu lại’, cho chúng ta không gian để quan sát và chiêm nghiệm. Về είδος eidos nghĩa là ‘cái nhìn’, ‘hình dạng’, hoặc ‘hình thức’ đề cập đến vẻ ngoài hoặc diện mạo bản chất của một thực thể khiến chúng ta nhận ra nó. Thay vì một khái niệm trừu tượng của Platon, Heidegger đặt nền tảng cho nó về phương diện hiện tượng luận theo cách thức mà một sự vật ‘tự thể hiện’ về mặt vật chất và khái niệm. Heidegger khám phá khái niệm είδος eidos theo khuôn khổ sau: i) Ông diễn giải lại bốn nguyên nhân của Aristotle không phải là các lực cơ học, mà là bốn ‘cách thức chịu trách nhiệm’ liên kết với nhau để tạo ra một cái gì đó. Ở đây, είδος eidos thay thế cho Nguyên Nhân Hình thức của Aristotle, ví dụ - Khi làm một chiếc chén bạc, είδος eidos là hình dạng hoặc vẻ ngoài cụ thể, được xác định trước mà bạc thành phẩm phải có; ii) Sự Chuyển dịch từ Hình thức đến ‘Ý Niệm’ Trừu tượng - Heidegger đã phê phán quá trình phát triển của sự hiểu biết phong phú, nguyên thủy của người Hy Lạp về είδος eidos thành siêu hình học hiện đại; iii) Ý nghĩa Nguồn cội - Đối với các nhà tư tưởng Hy Lạp thời kỳ đầu như Plato, είδος eidos có nghĩa là sự biểu hiện vật chất rạng rỡ hoặc ‘tỏa sáng’ của một thực thể; iv) Bước ngoặt Siêu hình học - Plato và các nhà triết học sau này bắt đầu coi είδος eidos ‘cái nhìn’ này như một thực tại riêng biệt, vô hình, phi vật chất – là Ý niệm. Heidegger lập luận rằng sự chuyển dịch này đã tách rời nhân loại khỏi kinh nghiệm trực tiếp, sống động về thế giới, neo giữ truyền thống trí tuệ phương Tây trong các khái niệm trừu tượng hơn là thực tại hiện diện; v) Bản chất Phi cảm giác - trong khi είδος eidos theo nghĩa đen biểu thị khía cạnh hữu hình của một thực thể, Heidegger thừa nhận rằng ý nghĩa triết học của nó mở rộng thành ‘bản chất’ bên trong hoặc khả năng hiểu biết về một sự vật. Nó nắm bắt được cái cho phép đối tượng hiện diện và được hiểu - bao gồm không chỉ những gì được nhìn thấy, mà còn là hiện diện tổng thể của nó trong thế giới của chúng ta.-HHN]

Kiểu Hữu thể hướng đến thế giới là kiểu cho phép chúng ta gặp gỡ các hiện hữu trong-thế-giới thuần túy theo cách mà chúng xuất hiện (εἶδoζ), chỉ vậy thôi; trên cơ sở kiểu Hữu thể này, và như một phương thức của nó, việc nhìn rõ ràng vào những gì chúng ta gặp là khả thể.13 Việc nhìn vào một thứ gì đó theo cách này đôi khi lại là một cách xác định để hướng tới một điều gì đó - để đặt tầm nhìn của bạn vào những gì Vorhanden hiện-diện-vô-tri. Nó tiếp nhận trước một ‘quan điểm’ từ hiện hữu mà nó bắt gặp. Việc nhìn-vào như vậy gia nhập [tr.89] phương thức cư ngụ tự chủ bên cạnh các hiện hữu trong-thế-giới.14 Trong kiểu ‘cư ngụ’ này, với tư cách là một cách kiềm-chế-bản-thân- khỏi bất kỳ sự thao túng hay sử dụng nào, thì tri giác về cái Vorhanden hiện-diện-vô-tri được hoàn thiện.15 Tri giác được hoàn thiện khi người ta hướng đến một cái gì đó với tư cách là một cái gì đó và thảo luận về nó theo đúng nghĩa.16 Điều này tương đương với việc diễn giải theo nghĩa rộng nhất; và trên cơ sở diễn giải đó, tri giác trở thành một hành động xác định.17 Những gì được tri giác và xác định như vậy có thể được diễn đạt bằng các mệnh đề, và có thể được giữ lại và bảo tồn như những gì đã được khẳng định. Việc lưu giữ mang tính tri giác này đối với một khẳng định18 về một cái gì đó tự nó là một cách thức của Hữu-thể-trong-thế-giới; nó không được Diễn giải như một ‘thủ tục’ mà qua đó một chủ thể tự cung cấp cho mình những Vorstellungen cách biểu đạt về một cái gì đó vẫn được lưu trữ ‘bên trong’ như đã được chiếm dụng như vậy, và liên quan đến cái mà câu hỏi về cách thức chúng ‘phù hợp’ với hiện thực tính đôi khi có thể nảy sinh.

Khi Dasein tự thân hướng tới một cái gì đó và nắm bắt nó, nó không thoát ra khỏi một phạm vi nội tại bằng cách nào đó mà nó đã được bao bọc gần gũi, nhưng loại Hữu thể cơ bản của nó lại luôn luôn ‘ở bên ngoài’ cùng với các hiện hữu mà nó chạm trán và thuộc về một thế giới đã được khám phá. Cũng không có phạm vi nội tại nào bị từ bỏ khi Dasein cư ngụ cùng với cái hiện hữu phải được biết đến và xác định đặc tính của nó; nhưng ngay cả trong cái ‘Hữu-thể-bên-ngoài’ này cùng với khách thể, thì Dasein vẫn ‘ở bên trong’, nếu ta hiểu điều này theo nghĩa chính xác; nghĩa là, chính nó ‘ở bên trong’ như một Hữu-thể-trong-thế-giới vốn biết rõ. Hơn nữa, việc tri giác cái được biết không phải là một quá trình quay trở lại ‘cái tủ’ của ý thức cùng với chiến lợi phẩm của mình sau khi đã đi ra ngoài và nắm bắt nó; ngay cả trong tri giác, giữ lại và bảo tồn, cái Dasein vốn hiểu biết đó vẫn ở bên ngoài, và nó làm như vậy với tư cách là Dasein. Nếu tôi ‘chỉ đơn thuần’ biết về một cách thức mà cái Hữu thể của các hiện hữu được kết nối, nếu tôi ‘chỉ’ tái hiện chúng, nếu tôi ‘không làm gì hơn’ ngoài việc ‘nghĩ’ về chúng, thì chẳng khác nào tôi [tr.90] ở bên cạnh các hiện hữu bên ngoài trong thế giới so với khi tôi nắm bắt chúng lần đầu tiên.19 Ngay cả việc quên đi một điều gì đó, trong đó mọi mối quan hệ của Hữu thể hướng đến những gì người ta từng biết dường như đã bị xóa bỏ, cũng phải được coi là một sự thay đổi của Hữu-thể-trong nguyên thủy; và điều này đúng với mọi ảo tưởng và mọi sai lầm.

Chúng ta vừa chỉ ra cách thức mà các phương thức của Hữu-thể-trong-thế-giới, vốn cấu thành nên hiểu biết về thế giới, được liên kết lại trong các nền tảng của chúng; điều này cho thấy rõ là trong nhận thức, Dasein đạt được một vị thế mới của Hữu thể hướng đến một thế giới đã được khám phá trong tự thân Dasein. Khả tính của Hữu thể mới này có thể tự chủ phát triển; nó có thể trở thành một nhiệm vụ cần phải hoàn thành, và với tư cách là tri thức khoa học, nó có thể đảm nhận vai trò hướng dẫn cho Hữu-thể-trong-thế-giới. Nhưng một commercium ‘giao thiệp’ giữa chủ thể với thế giới không được tạo ra lần đầu tiên bởi nhận thức, cũng không phát sinh từ một cách thức nào đó mà thế giới tác động lên chủ thể. Hiểu biết là một phương thức của Dasein được xây dựng trên Hữu-thể-trong-thế-giới. Do đó, Hữu-thể-trong-thế-giới, với tư cách là một trạng thái nền tảng, phải được Diễn giải trước.

_________________________________________
(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 'Besorgen'. Như Heidegger đã chỉ ra, ông sẽ sử dụng thuật ngữ này theo một nghĩa đặc biệt, khác với nhiều cách sử dụng thông thường của nó. Theo quy tắc, chúng ta sẽ dịch nó là 'concern', mặc dù đây không phải là một từ tương đương chính xác. Từ 'concern' trong tiếng Anh được sử dụng trong nhiều cách diễn đạt mà 'Besorgen' sẽ không phù hợp trong tiếng Đức, chẳng hạn như 'This concerns you', 'That is my concern', 'He has an interest in several banking concerns'. 'Besorgen' đúng hơn là đại diện cho loại 'concern' mà chúng ta 'quan tâm' đến các hoạt động mà chúng ta thực hiện hoặc những thứ mà chúng ta có được. [tr.83]

2 ….ale Modi des "Nur noch" in bezug auf Moglichkeiten des Besorgens.' Điểm mấu chốt là trong những trường hợp này, mối quan tâm chỉ được đề cập một cách rất sơ sài ('nur noch'). [tr.83]

3 ‘….sich etwas besorgen im Sinne von "sich etwas verschaffen".'[tr.83]

4 ‘….ich besorge, dass das Unternehmen misslingt.’ Ở đây không khó để tìm thấy cách sử dụng tương ứng của ‘concern’, như bản dịch của chúng tôi gợi ý. Nhưng sự tương đồng này không hoàn hảo. Mặc dù chúng ta có thể nói rằng chúng ta 'lo lắng cho sự thành công của doanh nghiệp' hoặc 'lo lắng sợ doanh nghiệp thất bại', nhưng người Đức cũng không diễn đạt 'Beaorgen' khi phát hiện ra rằng doanh nghiệp đã thất bại. [tr.83]

5 ‘Sorge’. Mối liên hệ từ nguyên quan trọng giữa ‘Besorgen’ (‘lo lắng’) và ‘Sorge’ (‘chăm sóc’) đã bị mất trong bản dịch của chúng tôi. Về ‘Sorge’, xem đặc biệt Mục 41 và 42 bên dưới. [tr.84]

6 “Der Mensch ‘ist’ nicht und hat tiberdies noch ein Seinsverhaltnis zur ‘Welt’, die er sich gelegentlich zulegt.” [tr.84]

7 ‘….auf dem Wege der Privation….’ Vấn đề là để hiểu cuộc sống đơn thuần như vậy, chúng ta phải trừu tượng hóa cuộc sống đầy đủ hơn của Dasein. Xem H. 50 ở trên. [tr.85]

8 ‘Die Exemplijizierung des ln-Seins an einemfundierten Modus.’ Quan niệm về các phương thức ‘sáng lập’ được lấy từ Husser!, người đưa ra khái niệm ‘sáng lập’ trong Logische Untersuchungen, tập. II, Phần I, chương 2 (ấn bản lần thứ hai, Halle, 1913, tr.261). Đoạn văn này đã được Marvin Farber diễn giải lại sát nghĩa như sau trong tác phẩm The Fourukztion of Phenomenology, Cambridge, Massachusetts, 1943, trang 297: 'Nếu theo quy luật bản chất, một a chỉ có thể tồn tại trong một sự thống nhất toàn diện kết nối nó với một μ, thì ta nói rằng, một a như vậy cần nền tảng thông qua một μ, hoặc cũng có thể nói rằng, một a như vậy cần được hoàn thiện bằng một μ. Nếu theo đó a₀, μ₀ là những trường hợp cụ thể xác định của các giống thuần túy a hoặc μ, có mối quan hệ được trích dẫn, và nếu chúng là thành viên của một tổng thể, thì ta nói rằng a₀ được thành lập bởi μ; và nó được thành lập độc quyền bởi μ nếu nhu cầu hoàn thiện của a₀ chỉ được đáp ứng bởi μ. Thuật ngữ này có thể được áp dụng cho chính các loài; sự mơ hồ này là vô hại.' Do đó, một phương thức Hiện hữu được thiết lập đơn giản là một phương thức chỉ có thể tồn tại khi được kết nối với một thứ khác. [tr.86]

9 'Trong jedem Faile ist est nicht so ausserlich feststellbar wie etwa leibliche Eigenschaften. Các phiên bản cũ hơn có ‘…nicht ist es…’ và đặt dấu phẩy sau 'feststellbar'. [tr.87]

10 ‘….dass das Erkennen selbst vorgangig g:riindet in einem Schon-sein-bei-der-Welt, als welches das Sein von Dasein wesenhaft konstituiert.’[tr.88]

11 ‘Das In-der-Welt-sein ist als Besorgen von der besorgten Welt benommen.’ Ở đây chúng ta theo dõi các ấn bản cũ hơn. Các phiên bản mới hơn có 'das Besorgen' thay vì 'als Besorgen'. [tr.88]

12 ‘Damit Erkennen als betrachtendes Bestimmen des Vorhandenen miiglich sei….’ Ở đây chúng tôi cũng theo dõi các ấn bản cũ hơn. Các phiên bản mới hơn lại có 'das' thay vì 'als'. [tr.88]

13 ‘Auf dem Grunde dieer Seinsart zur Welt, die das insideweltlich begegnende Seiende nur noch in seinem puren Aussehen (elaos) begegnen lasst, und als Modus dieer Seinsart ist ein ausdruckliches Hinsehen aufdas so Begenende miiglich.' [tr.88]

14 'Solches Hinsehen kommt selbst in den Modus eines eigenstiindigen Sichaufhaltens bei dem insideweltlichen Seienden.' [tr.89]

15 'In sogerateten "Aufenthalt"-als dem Sichenthalten von jeglicher Hantierung and Nutzung-vollzieht sich das Vemehmen des Vorhandenen.' Từ 'Aufenthalt' thường có nghĩa là dừng chân ở một nơi nào đó, tạm trú, cư trú, hoặc thậm chí là nơi ở. Ở đây, tác giả đang khai thác thực tế rằng nó bao gồm cả tiền tố 'auf-' và 'ent-', mà chúng ta tìm thấy trong các động từ 'aufhalten' và 'enthalten'. 'Aufhalten' có nghĩa là giữ một cái gì đó ở giai đoạn mà nó đã đạt được, bắt giữ nó, ngăn chặn nó; khi được sử dụng ở dạng phản thân, nó có thể có nghĩa là ở lại một nơi, cư trú ở đó. Trong khi 'enthalten' thường có nghĩa là chứa đựng, nó vẫn giữ nghĩa đen hơn là kìm hãm hoặc tránh né khi được sử dụng ở dạng phản thân. Tất cả những ý nghĩa này có lẽ được gói gọn trong từ 'Aufenthalt' như được sử dụng ở đây, và hầu như không được gợi ý bởi 'nơi ở' của chúng ta. [tr.89]

16 'Das Vernehmen hat die Vollzugsart des Ansprechens und Besprechens von etwas als etwas.' Về 'cái gì đó như cái gì đó', xem Phần 32 bên dưới (H. 149), trong đó 'sự diễn giải' cũng được thảo luận. [tr.89]

17 ‘…wird das Vernehmen zum Bestimmen.’ [tr.89]

18 'Aussage'. Để thảo luận thêm, xem Phần 33 bên dưới, [tr.89]

19 '...bei einem Originiiren Erfassen.'[tr.90]

 

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét