Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần Thứ hai
Siêu hình học Nguyên tắc Lý tính - Nền tảng của Logic
b) Ý hướng tính và Siêu việt
[P.143] Một ý tưởng dễ hiểu trong Theaetetus (185a fr.) cho thấy Plato đã phát triển luận điểm của Parmenides về νοεῖν nhận thức và είναι tồn tại như là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và ψυχή linh hồn. Socrates giải thích với Theaetetus rằng “ta không thể nắm bắt được tồn tại, tha tính, đồng nhất tính và tính bình đẳng bằng thính giác hay thị giác. Tuy nhiên, ta vẫn nói ‘chúng tồn tại’, mặc dù ta không nhìn thấy cũng không nghe thấy chúng. Nếu nói ‘mặn’, ta biết mình phải dựa vào năng lực nào, cụ thể là vị giác. Ngược lại, đối với tồn tại, không có cơ quan nào trong cơ thể được tìm thấy, nhưng dường như đối với tôi, điều mà linh hồn của tự ngã xem xét mọi thứ mà chúng ta nói về mọi thứ trong chừng mực nó tồn tại.” Đoạn văn này cho thấy chúng ta không đạt được loại xác định tồn tại cơ bản qua các cơ quan trong cơ thể, mà chính linh hồn, thuần túy tự thân, với tự do nội tại của nó, liên hệ với tồn tại. Tự thân linh hồn khai triển khỏi chính nó hướng tới tồn tại, tức là, chính linh hồn, thuần túy tự thân bằng ἐπόρεξὶς [khai mở tới], thấu hiểu bất cứ điều gì giống như tồn tại.
Để hiểu được cách tiếp cận của Parmenides và sự phát triển của ông trong triết học Hy Lạp, chúng ta cần ghi nhớ hai điều: 1) Cái ὂν [bản thể/tồn tại] không bắt nguồn từ νοεῖν noein nhận thức hay λέγειν legein nói/phát biểu (Hơn nữa, hai cái đó là δηλοῦν dēloûn, sự biểu hiện/tiết lộ); 2) Chúng ta không bàn đến một luận điểm nhận thức luận liên quan đến sự đảo ngược tiêu chuẩn dùng để đo lường tri thức. Cả hai cách diễn giải sai này đều dựa trên mối quan hệ chủ thể-đối tượng về mặt siêu hình và xem nhẹ vấn đề. Như đoạn văn trong Theaetetus đã chỉ ra, vấn đề thực sự liên quan đến bản thể/tồn tại, dù chỉ mới ở giai đoạn sơ khai, và vấn đề này hướng đến ‘chủ thể’ như là ψυχή psyche linh hồn/tinh thần. Trong đó, cái được gọi là tính chủ quan vẫn còn mơ hồ. Do đó, chúng ta phải phân biệt [tr.144] những gì được nhận thức rõ ràng, có ý thức là chủ thể, trong các thuật ngữ như νοεῖν noein nhận thức, νοῦς nous tâm trí/trí tuệ, λόγος logos lý trí/trật tự/diễn ngôn, ψυχή psyche linh hồn/tinh thần, νόησις noesis hiểu biết, và ὄρεξις órexis thèm khát/khát vọng/thuộc về; nhưng chủ thể vẫn hoạt động hoàn toàn khác trong τέχνη tekhne nghệ thuật/kỹ năng/thủ công, điều này cũng được nhận ra, mặc dù không phải trong chức năng bản thể luận của nó. Kết quả tích cực đối với vấn đề tồn tại là có một mối liên hệ đặc biệt nào đó giữa bản thể/tồn tại và Dasein chủ thể tính.
Nhớ lại điều này, chúng ta có thể tiếp tục với những gợi ý liên quan đến mối liên hệ giữa thời gian và hiểu-biết-về-Hữu-thể. Trước tiên có một dấu hiệu bên ngoài hơn (a) và (b), chỉ dấu cho thấy trung tâm của vấn đề. a) Về mặt thời gian, Bản thể được chia thành các vùng tồn tại sau: 1) Cái tồn tại trong thời gian (tự nhiên và lịch sử); 2) Cái tồn tại ngoài thời gian; 3) Cái tồn tại trên thời gian, trong đó 2) và 3) là cái phi thời gian tính. Ở đây người ta có thể phản đối cho rằng đề xuất này càng chứng minh thêm là các tồn tại nằm ngoài và nằm trên thời gian là không có thời gian, do đó không phải tất cả các tồn tại đều nằm ‘trong thời gian’: Tất nhiên rồi! Nhưng câu hỏi là liệu điều này có bao hàm hết mối quan hệ mà các tồn tại có với thời gian hay không. Bởi vì điều quan trọng là phải thấy rằng câu hỏi này hoàn toàn khác; nó không hỏi là liệu các tồn tại có ở trong thời gian hay không; đúng hơn là liệu Bản/Hữu thể của các tồn tại/hiện hữu có được hiểu bằng cách quy chiếu đến thời gian hay không.
Và kết quả là, những gì nằm ngoài và trên thời gian được hiểu theo nghĩa bản thể luận là không ở trong thời gian, nhưng phẩm chất ‘phi-thời tính’ này lại chính xác là một phương thức dứt khoát quan hệ với thời gian, giống như trạng thái nghỉ bất động là một phương thức chuyển động, mặc dù mối quan hệ triệt để hơn vẫn tồn tại trong trường hợp trước. Ở đây chúng ta cần một lời giải thích về lý do và cách thức mà mối quan hệ này là khả thể, và với tính thiết yếu nội tại nào mà cách hiểu thông thường về Bản thể/Hữu thể của các tồn tại/hiện hữu có thể được truy ngược lại với thời gian. Hơn nữa, mối quan hệ thời gian được đề cập không bị vét kiệt, thậm chí không hề bị chạm đến, bởi thời gian theo nghĩa tồn tại trong bản thể. Chính hiểu-biết-về-Hữu-thể này cũng cần được làm rõ. Ngay cả những hiện hữu không nằm ‘trong thời gian’, và đặc biệt là những hiện hữu này, cũng có thể được hiểu, trong Hữu thể của chúng, dựa trên cơ sở thời gian; nhưng ở đây thời gian phải được hình dung một cách triệt để hơn. Hữu/Bản thể được hiểu thông qua mối quan hệ thời gian, nhưng vấn đề của mối quan hệ giữa Hữu thể và thời gian lại là chữ ‘và’:
b) Câu hỏi của chúng ta là, mối liên hệ giữa Bản/Hữu thể và Thời gian đã được nhìn nhận đến mức độ nào? Sau chỉ dẫn sơ lược đầu tiên, chúng ta sẽ theo đuổi chỉ dẫn thứ hai gồm hai phần (a và 13).6 a) Thuật ngữ chỉ Bản/Hữu thể của các tồn tại/hiện hữu, cũng thường được sử dụng cho chính các tồn tại/hiện hữu [tr.145], là οὐσία ousia tính-là/hiện hữu tính. Đó là cái cấu thành nên cái ὂν ἢ ὂν on e on tồn tại với tư cách Bản/Hữu thể. Và, không phải ngẫu nhiên, bản thân οὐσία ousia có hai nghĩa, và điều này lần đầu tiên được thể hiện rõ ràng trong các tác phẩm của Aristotle, nhưng nó đã có thể được nhận thấy ở khắp mọi nơi trong các tác phẩm của Plato. Oὐσία ousia [bản chất, thực thể, hiện hữu tính] là hữu thể theo nghĩa của modus existendi [phương thức tồn tại], của hữu thể có đó. Ví dụ, trong Theaetetus (155e 4ff.) có đoạn: Ἄθρει δὴ περισκοπῶν μή τις τῶν ἀμυήτων ἐπακούῃ. εἰσὶν δὲ οὗτοι οἱ οὐδὲν ἄλλο οἰόμενοι εἶναι ἢ οὗ ἂν δύνωνται ἀπρὶξ τοῖν χεροῖν λαβέσθαι, πράξεις δὲ καὶ γενέσεις καὶ πᾶν τὸ ἀόρατον οὐκ ὠπρδεχόμενοι ὡς ἐν οὐσίας μέρει. “Có những kẻ tin rằng không có gì tồn tại trừ khi có thể nắm bắt nó bằng tay; mọi thứ khác không thuộc về phạm trù của οὐσία - Bản thể hiện diện khách quan [Vorhandensein]”
[Ghi chú thêm đoạn văn nổi tiếng của Platon, trong đó Heidegger không đưa câu đầu tiên của đoạn văn Ἄθρει δὴ περισκοπῶν μή τις τῶν ἀμυήτων ἐπακούῃ; nếu ai từng liều/cố đọc nguyên bản Theaetetus của Plato như kẻ khảo cổ này thì đều biết câu văn rất quan trọng trên có nghĩa là ‘Hãy nhìn xung quanh và quan sát cẩn thận kẻo những kẻ chưa được khai tâm nghe lén.’ Đây là một câu nói nổi tiếng từ tác phẩm Theaetetus (155e 4ff) của Plato, trong đó Socrates khuyên học trò của mình phải cẩn thận trước khi tiết lộ những bí mật triết học sâu sắc. Ἄθρει athrei - nhìn kỹ, xem xét hoặc quan sát; περισκοπῶν periskopōn -xem xung quanh/quan sát xung quanh; μή τις mē tis - để không nghe thấy; τῶν ἀμυήτων tōn amyētōn - những kẻ chưa được khai tâm’; Plato sử dụng cụm từ trên theo cách ẩn dụ để mô tả những kẻ không am hiểu triết học; ἐπακούῃ epakouē - nghe lén; đây là bối cảnh cuộc đối thoại, Socrates đang chuẩn bị giải thích các lý thuyết triết học phức tạp và cấp tiến—cụ thể là ý tưởng về thực tại luôn ở trạng thái biến đổi liên tục và mọi tri thức đều tương đối; bởi vì những khái niệm cấp tiến này mâu thuẫn với lẽ thường và thách thức quan điểm truyền thống của Athens, nên Socrates đã đùa rằng chúng là những bí ẩn thiêng liêng; Ông dặn Theaetetus phải ‘canh cửa’ ngăn kẻ hiện thực hẹp hòi - ‘chưa được khai tâm’ vì chúng hiểu sai hoặc bác bỏ một cách hung hăng những ý tưởng này mà không nắm bắt được chiều sâu của nó. - HHN]
Oὐσία ousia là Bản chất/Tồn tại theo nghĩa của modus essendi phương thức tồn tại. Cái là-gì, cái nội-dung-gì, bản chất, cái làm cho một thứ gì đó là chính nó dù nó ‘tồn tại’ hay không. Do đó, bản dịch tiếng Latinh essential có tính bản chất (từ thời Boethius) không mô tả οὐσία theo tiếng Hy Lạp; từ essential phong phú hơn và cũng có nghĩa là existentia sự tồn tại. Aristotle muốn cả hai nghĩa, bởi vì ông phân biệt πρὠτη οὐσία protē ousia [bản chất/tồn tại thứ nhất/sơ cấp], sự tồn tại này như nó tồn tại, cái đó tồn tại, và δευτἐρα οὐσία deutéra ousia [bản chất/tồn tại thứ hai/thứ cấp], cái là-gì, bản chất. [Ghi chú về πρὠτη οὐσία protē ousia - bản chất/tồn tại thứ nhất/sơ cấp - đối với Aristotle, πρώτη ουσία đề cập đến các thực thể riêng lẻ, cụ thể tồn tại độc lập trong thế giới; ông giới thiệu khái niệm nền tảng này trong tác phẩm Categories Các phạm trù, trong đó ông xây dựng một khuôn khổ để giải thích bản chất của sự vật và cách chúng ta nói về chúng; các bản chất thứ nhất/sơ cấp sở hữu một số đặc điểm cụ thể xác định vai trò của chúng trong triết học của Aristotle - tồn tại độc lập; chúng không phụ thuộc vào bất cứ điều gì khác để tồn tại; ví dụ, một cá nhân cụ thể như Socrates là bản chất thứ nhất; chúng luôn là chủ thể của một phát biểu và không bao giờ có thể được gán cho một thứ khác; ta có thể nói ‘Socrates nhợt nhạt’ tức là gán một phẩm chất cho Socrates, nhưng không thể gán ‘Socrates’ cho một phẩm chất; chủ thể của sự biến đổi - trong tác phẩm Metaphysics Siêu hình học, Aristotle giải thích chi tiết rằng các tồn tại riêng lẻ này là sự kết hợp của vật chất và hình thức; vì chúng là những thực thể cụ thể, chúng là những thứ trải qua sự thay đổi, phát triển và suy tàn. Aristotle phân biệt πρὠτη οὐσία protē ousia [bản chất/tồn tại thứ nhất/sơ cấp] với δευτἐρα οὐσία deutéra ousia [bản chất/tồn tại thứ hai/thứ cấp]. Bản chất sơ cấp là các thực thể riêng lẻ, ví dụ con chó cụ thể này, kẻ người cụ thể kia; bản chất thứ cấp - các phạm trù, chi hoặc loài mà bản chất sơ cấp thuộc về nó, chẳng hạn ‘chó’ hoặc ‘người’; bản chất thứ cấp chỉ tồn tại vì bản chất sơ cấp tồn tại trước; không thể có ‘nhân loại’ nếu không có những kẻ người cụ thể, riêng lẻ; trong khi tác phẩm Phạm trù tập trung vào các thực thể riêng lẻ như là bản chất sơ cấp, thì tác phẩm Siêu hình học sau này của ông đã đào sâu khái niệm đó; sau này Aristotle thiên về việc xác định hình thức - bản chất hoặc đặc điểm xác định của một sự vật - là hình thức cơ bản và chân thực nhất của bản chất sơ cấp, chứ không chỉ là vật chất vật lý chưa hình thành. – HHN; Ghi chú về δευτἐρα οὐσία deutéra ousia -bản chất/tồn tại thứ hai/thứ cấp - đối với Aristotles, bản chất thứ cấp đề cập đến các εἶδος eidos thuộc phạm trù ‘loài’ và γένος genos thuộc phạm trù ‘giống’ dùng để phân loại và mô tả các sự vật riêng lẻ, cụ thể trong tác phẩm Κατηγορίαι Katēgoriai - Categories Phạm trù, để phân biệt giữa sự tồn tại cụ thể của một sự vật và sự phân loại của nó; bản chất sơ cấp so với bản chất thứ cấp hình thành trên cơ sở Aristotle chia ‘chất’ thành hai cấp độ - πρώτη οὐσία chất sơ cấp là những thực thể riêng lẻ, cụ thể, tồn tại độc lập trong thế giới; chúng là những ‘chủ thể’ cơ bản mà mọi thứ khác đều được quy chiếu, ví dụ con mèo cụ thể này, gã Socrates nọ; δευτέρα οὐσία chất thứ cấp là những phân loại, hay thuật ngữ phổ quát, mà chúng ta áp dụng cho các chất sơ cấp; chúng biểu thị chất sơ cấp là gì hoặc thuộc loại nào, chẳng hạn thuộc động vật, con người, loài mèo; . về cách thức hoạt động, đối với Aristotle, các chất thứ cấp chỉ tồn tại trong hoặc nhờ vào các chất sơ cấp; phân loại - nếu ta chỉ vào một người cụ thể và hỏi họ là gì, nghĩa là ta đang áp dụng các chất thứ cấp - chúng là con người (loài) và động vật (chi); quy chiếu thứ bậc được thực hiện bằng cách các chất thứ cấp cho phép phân loại; loài [người] có thể được gán cho cá thể - ví dụ ‘Socrates là một người’, và giống [động vật] có thể được gán cho cả loài và cá thể, ví dụ ‘Người là một động vật’, ‘Socrates là một động vật’; về sự phụ thuộc - không thể có chất thứ cấp ‘người’ nếu không tồn tại từng cá thể người; chất sơ cấp là nền tảng của thực tại, còn chất thứ cấp là khuôn khổ tinh thần và ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng để nhóm lại và hiểu chúng. - HHN]
Cả hai ý nghĩa cơ bản này đều bắt nguồn từ thời gian. Existentia là cái thực sự ‘tồn tại’; being qua existentia Bản thể với tư cách Tồn tại xuất hiện trong cái luôn luôn là, tức là ἀεὶ ὂν always being luôn tồn tại, thứ không bao giờ không tồn tại trong bất kỳ thời điểm nào, thứ luôn có đó ‘bất cứ lúc nào’: Essentia có nghĩa là cái gì, ιδέα idea, [ιδέα ‘ý tưởng’ tiếng Hy Lạp cổ, có nguồn gốc từ động từ ἰδεῖν idein nhìn thấy; có một ý tưởng theo nghĩa đen có nghĩa là có một ‘hình ảnh trong tâm trí’ hoặc ‘một thứ được nhìn thấy’ trong tâm trí ta. - HHN] thứ xác định trước mọi hiện hữu như một hữu thể, và do đó là ὂντως ὄν ‘hữu thể về phương diện tồn tại’, đúng ra là ἀεὶ ὂν luôn tồn tại. Mối quan hệ thời gian trở nên rõ ràng không chỉ ở đặc điểm về thời gian không đổi này, của cái ἀεὶ aei luôn luôn, mà còn nguyên thủy hơn, mặc dù ít rõ ràng hơn, ở một đặc điểm khác. Oὐσία, thuật ngữ chỉ một hữu thể và sự tồn tại của nó (đồng thời là cái gì và - cái đó) cũng là một thuật ngữ mang tính bản thể, một thuật ngữ được người Hy Lạp sử dụng cho những thứ luôn có sẵn trong Dasein hàng ngày của con người: những vật dụng hữu ích, nhà cửa, tài sản, của cải, những thứ có sẵn bất cứ lúc nào để sử dụng hàng ngày, những thứ hiện hữu ngay lập tức và phần lớn luôn luôn hiện diện [Anwesende]. Ý nghĩa thời tính của οὐσία càng rõ ràng hơn trong ý nghĩa tiền triết học này. Cái gì hiện diện Gegenwärtigel theo nghĩa này không chỉ và không hẳn là ἀεὶ aei luôn luôn, mà nó hiện diện trong mọi khoảnh khắc hiện tại, tuy nhiên hiện diện thời tình theo nghĩa Anwesenheit hiện tại tính. Thường thì οὐσία chỉ là dạng rút gọn của παρουσία parousia, hiện diện tính. παρἀ với tư cách thuật ngữ chỉ sự hiện diện-với, cho sự hiện diện liên tục của cái gì đó gần nhất, xuất hiện trong mọi vấn đề bản thể luận của Plato.
[Tr.146] Bản/Hữu thể/Tồn tại là cái luôn hiện diện, trong tính hiện diện liên tục. Trạng thái tồn tại kéo dài và trạng thái hiện diện có đặc điểm thời tính, theo một nghĩa thoạt đầu là có vấn đề. (Ở đây chúng ta đề cập đến những biểu hiện đã được nhắc đến trước đó trong tác phẩm của Thomas Aquinas: intuitus praesens trực giác hiện diện, omme praesentialiter subjectum mọi chủ thể đều hiện diện, esse Dei as actus purus Thượng đế/Thiên Chúa là bản thể hiện hữu (Esse) thuần túy, trong đó về nguyên tắc cùng một quan niệm về tồn tại xuất hiện.) [Ghi chú về đoạn Latin trên của Thánh Tomas: Những cụm từ triết học và thần học Latinh này diễn đạt quan niệm cổ điển về Thượng đế như là thực tại tối thượng, bất biến, hoàn toàn thoát khỏi những giới hạn của thời gian và tiềm năng vật chất; trong thần học kinh viện, điều này có nghĩa là vì Thượng đế/Thiên Chúa là sự tồn tại hoàn toàn chủ động, Ngài không chờ đợi thời gian trôi qua hay những tiềm năng được hiện thực hóa; Ngài là Kẻ quan sát luôn hiện diện, bao trùm toàn bộ thực tại trong một hiện tại vĩnh hằng, bất biến; Actus Purus Hành động Thuần túy - Khái niệm nền tảng trong thần học Aristoteles và Thomistic; nó có nghĩa là Thượng đế/Thiên Chúa là hiện thực tuyệt đối với tiềm năng bằng không, không giống như con người hay thiên nhiên, những thứ phát triển, thay đổi hoặc tiến hóa thành những gì chúng có thể trở thành, Thượng đế/Thiên Chúa đã hoàn hảo và trọn vẹn vô hạn; Intuitus Praesens Trực giác Hiện tại đề cập đến cách thức nhận thức của Thượng đế/Thiên Chúa - bởi vì Thượng đế/Thiên Chúa là Actus Purus Hành động Thuần túy và nằm ngoài thời gian, kiến thức của Ngài không phải là một quá trình suy luận từng bước hay một ký ức về quá khứ; thay vào đó, toàn bộ thực tại hiện hữu trước trí tuệ linh thánh của Ngài như một ‘hiện tại’ tức thì, trực tiếp và vĩnh hằng; Omne Praesentialiter Subjectum Mọi chủ thể hiện tại đều là chủ thể - có nghĩa là mọi thứ tồn tại đều hiện diện ngay lập tức trước mặt Thượng đế/Thiên Chúa; mọi hữu thể/hiện hữu, sự kiện hay thực thể đều hoàn toàn được phơi bày trước ánh nhìn của Ngài và phụ thuộc vào hành động duy trì sự tồn tại của Ngài trong mỗi khoảnh khắc; cách diễn đạt này tổng hợp mối quan hệ siêu hình giữa Thượng đế/Thiên Chúa và Thời gian; bởi vì Thượng đế/Thiên Chúa là hành động thuần túy không bị ràng buộc bởi thời gian, Ngài không có quá khứ hay tương lai; do đó, quan điểm của Ngài bao hàm toàn bộ thực tại trong một ‘trực giác hiện tại’, có nghĩa là tất cả các chủ thể/sự sáng tạo tồn tại như là hiện diện tức thì và vĩnh hằng trước mặt Ngài.- HHN] Nhưng mối liên hệ giữa Bản/Hữu thể/Tồn tại và Thời gian cũng nổi lên ở một khía cạnh khác, mặc dù lúc đó nó không trở thành vấn đề mà chỉ được coi là hiển nhiên. Trong bản thể luận cổ đại Aristotle, Bản/Hữu thể với tư cách ιδέα idea ý niệm và γένος genos chủng loại, hay cái xác định một Bản/Hữu thể là một chất, được cho là πρότερον [sơ cấp] so với các tồn tại/hiện hữu/thực thể, và là cái gì đó có trước theo một cách độc nhất vô nhị.
Là πρότερον φύσει próteron phýsei cái có trước về bản chất, nó cần được phân biệt với πρότερον γνώσει protéron gnósei cái có trước theo tri thức, tức là πρότερον πρὸς ὴμάς próteron prós ímás [có trước đối với chúng ta]. Bản/Hữu thể có trước các hiện hữu/thực thể; đặc tính ‘có trước’ này, được gán cho Bản/Hữu thể, là một ‘đặc điểm’ phân biệt, và nó không áp dụng cho γνῶσις gnosis tri thức, như là sự sắp xếp trật tự trong khái niệm hóa của chúng ta về các hiện hữu/thực thể. Bản/Hữu thể có trước, là cái về bản chất là ‘có trước’; nó thuộc về cái có trước, theo ngôn ngữ của bản thể luận a priori tiên nghiệm sau này. Mọi sự chất vấn bản thể luận đều là sự tìm tòi và định nghĩa về cái ‘a priori’ ‘tiên nghiệm’ đó. Có ‘trước so với’ rõ ràng vẫn là một sự xác định thời tính, vì không có cái gọi là ‘sớm hơn’ nào lại không có thời gian. Nhưng trước so với mọi ‘trước so với’ khả thể chính là thời gian! Vì vậy, nếu tồn tại là πρότερον proteron sơ cấp, tức là cái tiên nghiệm, thì nó lại đại diện cho mối liên hệ nguyên thủy với thời gian. Tất nhiên, ý nghĩa của từ ‘sớm hơn’, tức là quy chiếu theo thời gian, rất mơ hồ và vẫn hoàn toàn khó hiểu nếu cố gắng tiếp tục với quan niệm thông thường về thời gian. Chúng ta thấy nó không hiệu quả; đã bị người Hy Lạp bác bỏ từ lâu thông qua sự phân biệt mà chúng ta đã đề cập.
Bản/Hữu thể là πρότερον proteron sơ cấp không phải là πρότερον πρὸς ὴμάς próteron prós ímás sớm hơn đối với chúng ta, không phải theo nghĩa chúng ta biết nó như vậy trước các hiện hữu/thực thể. Chúng ta luôn nắm bắt các hiện hữu/thực thể ngay lập tức, và điều này hầu hết vẫn đúng, mà không cần chúng ta hình dung hiện hữu/thực thể theo đúng nghĩa. Trong trật tự khái niệm hóa, thì hiện hữu/thực thể không phải là cái đầu tiên mà là cái cuối cùng. Tuy nhiên, nó lại là cái φύσει physis [tự nhiên] sớm hơn (đây là lý do tại sao lại có các hiện hữu/thực thể với tư cách khách thể/đối tượng), nó có trước cả bản thân nó. Ý nghĩa của điều này chắc chắn là mơ hồ và không rõ ràng; tất cả đều không được làm rõ về mặt bản thể luận, phép hoán dụ học và do đó được hiểu theo nghĩa ontically hiện hữu. [Thuật ngữ ontically là một trạng từ triết học có nghĩa là ‘từ quan điểm của sự tồn tại thực tế hoặc các sự kiện thực tế’; nó mô tả những thứ cụ thể, thực nghiệm như đồ vật, sự kiện hoặc cá nhân cụ thể chứ không phải là bản chất trừu tượng, tiềm ẩn của sự tồn tại; ontically được hiểu rõ nhất khi đối sánh với ontological – trong khi ontically liên quan đến chính các thực thể - các thuộc tính, hành vi và đặc điểm thực tế cụ thể của chúng thì ontological lại liên quan đến Bản/Hữu thể - các cấu trúc sâu sắc, ý nghĩa hoặc điều kiện cho phép các hiện hữu/thực thể tồn tại; ví dụ nếu ta đang xem xét một quả táo – ontically của nó là: quả táo màu đỏ, nặng 150 gram và đang nằm trên bàn; còn ontologically - ta đang hỏi điều đó có nghĩa là gì khi quả táo ‘tồn tại’ - cái ‘tính chất táo’ hay sự tồn tại của nó như một vật thể vật lý; cách phân biệt này tách biệt khoa học thực nghiệm và các sự kiện hàng ngày khỏi nghiên cứu rộng hơn về Bản/Hữu thể.- HHN] Mặc dù có thứ hạng của toàn bộ ὂντως ὄν ‘hữu thể về phương diện tồn tại’, mà Hữu thể không phải là một hiện hữu/thực thể. Tính ưu tiên của nó cũng không có nghĩa Bản/Hữu thể là một cái gì đó tồn tại trước đó, như một thực thể theo một nghĩa nào đó trước các thực thể khác. Do đó có trước không thuộc về trật tự khái niệm hóa cũng không thuộc về trật tự của hiện hữu/thực thể có đó; nó không phải là sớm hơn về mặt logic hoặc về mặt hiện hữu/thực thể, không phải là một trong hai. Thật vậy!
[Tr.147] Trước đó chúng ta đã thường xuyên nói rằng Bản/Hữu thể đã được hiểu trước trong việc nắm bắt các hiện hữu/thực thể; hiểu-biết-về -Hữu-thể kiểu báo trước như thể soi sáng cho mọi nắm bắt về các hiện hữu/thực thể. ‘Đi trước’, ‘báo trước’ - chẳng phải đây là những cái tiên nghiệm sao? Chắc chắn rồi! Nhưng chúng ta cũng đã nói rằng cái tiên nghiệm không liên quan đến trật tự khái niệm hóa, và giờ đây chúng ta đang nói về một hiểu-biết-về-bản thể theo cách báo trước, một sự hiểu biết trước. Tuy nhiên, cái πρότερον sơ cấp của οὐσία chất, của ιδέα ý niệm, không phải là πρότερον γνώσει protēron gnousei tri thức sơ cấp. Chúng ta nên lưu ý rằng γνῶσις ở đây luôn có nghĩa là biết các hiện hữu/thực thể, và việc bác bỏ loại πρότερον sơ cấp này chỉ có nghĩa phủ định, khi được hiểu đúng. Nó có nghĩa là Bản/Hữu thể không phải là một hiện hữu/thực thể và việc khái niệm hóa của nó không thuộc trật tự của việc hình dung các hiện hữu/thực thể. Như vậy, cuối cùng, Bản/Hữu thể thực sự có trước xét về việc được nắm bắt theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ đó, có trước việc nắm bắt các hiện hữu/thực thể. Và, cuối cùng, Hữu thể [gibt sich das Sein – Hữu thể tự bộc lộ] được hiểu theo một cách hoàn toàn khác với sự nắm bắt các thực thể/hiện hữu của chúng ta. Hữu thể là gibt sich ‘an sich’ ‘tự thân’ theo nghĩa nguyên thủy: nó là một πρότερον φύσει protēron physei tự nhiên sơ cấp và πρὸς ὴμάς prós ímás có trước đối với chúng ta - chỉ khi được hiểu đúng, chứ không phải là một sự vật mang tính thực thể hiện hữu trong số những thực thể khác. Hữu thể là duy nhất và thực sự ‘tự thân’; và do đó là bản chất nguyên thủy của hiểu-biết-về-hữu-thể và (như chúng ta sẽ thấy) của tự do. Hữu thể không có trước về mặt thực thể/hiện hữu cũng không có trước về mặt logic, mà có trước theo một nghĩa nguyên thủy vượt trước cả hai. Nó có trước mỗi cái theo một cách khác nhau; không có trước về mặt thực thể/hiện hữu cũng không có trước về mặt logic mà là về mặt bản thể luận. Nhưng đây mới chính là vấn đề. Vấn đề nằm ở chỗ Hữu thể ‘có trước’ như thế nào, mối quan hệ ban đầu của nó trong tư cách Hữu thể với thời gian ra sao. Hữu thể và Thời gian, đây mới là vấn đề cơ bản! Và chừng nào vấn đề này chưa được đặt ra hoặc chỉ được giải quyết một cách tương đối, thì ngay cả việc sử dụng từ ‘a priori’ tiên nghiệm - cũng vẫn không chính đáng và không có cơ sở, cũng như việc nói về ‘a posteriori’ hậu nghiệm và sự phân biệt chúng nói chung.
Theo một nghĩa mơ hồ, Hữu thể có trước. Nó trở nên rõ ràng hơn, theo một cách nào đó, nếu chúng ta đề cập đến một điều khác mà Plato, đặc biệt đã thấy trong học thuyết ἀνάμνησις anamnesis hồi tưởng/ký ức của ông. Hữu thể là những gì chúng ta nhớ lại, những gì chúng ta chấp nhận như một điều mà chúng ta ngay lập tức hiểu được theo đúng nghĩa, những gì luôn luôn đã được ban cho chúng ta; Hữu thể không bao giờ xa lạ mà luôn luôn thân thuộc, ‘của chúng ta’: Do đó, Hữu thể là những gì chúng ta luôn luôn đã hiểu, và chúng ta chỉ cần nhớ lại nó một lần nữa để nắm bắt được nó theo đúng nghĩa. Khi nắm bắt Hữu thể, chúng ta không hình dung ra bất cứ điều gì mới mẻ, mà là một điều gì đó về cơ bản thân thuộc; chúng ta luôn luôn tồn tại trong sự hiểu-biết-về-hữu-thể, chừng nào chúng ta còn liên hệ với những gì mà giờ đây chúng ta gọi là ‘các hiện hữu’. Hồi tưởng này liên quan đến Hữu thể và do đó tiết lộ một mối liên hệ cội nguồn của Hữu thể với Thời gian: luôn luôn đã ở đó, tuy nhiên luôn luôn chỉ được nắm bắt khi quay trở lại với nó. Đây không phải là sự hồi tưởng thông thường về một điều gì đó thuộc về thực thể đã xảy ra, một hiện hữu; mà đúng hơn là [tr.148] sự hồi tưởng siêu hình, trong đó mối liên hệ nguồn cội của Hữu thể với Thời gian xuất hiện. Trong hồi tưởng siêu hình này, hiện hữu người hiểu chính mình trong bản chất đích thực của hắn, như là Hữu thể hiểu Hữu thể và liên hệ với các hiện hữu khác trên cơ sở hiểu biết này.
Theo Plato (trong Phaedrus, 249b5-c6), ‘μια ψυχή που δεν έχει δει ποτέ την αλήθεια’ δεν μπορεί να λάβει ανθρώπινη μορφή’ ‘một linh hồn chưa từng nhìn thấy chân lý thì không bao giờ có thể mang hình dạng con người.’ [Ghi chú đoạn này: Trong bối cảnh triết học cụ thể này, Plato đề cập đến sự luân hồi và nhấn mạnh rằng một linh hồn chưa từng gặp gỡ Chân lý (những Ý niệm vĩnh hằng) không thể đầu thai vào một thân xác con người, mà sẽ mang hình dạng của một loài động vật bậc thấp. Điều này là do quy luật Ghi nhớ. Trong Phaedrus (249b5-c6), Socrates phát triển lý thuyết của mình về sự sa ngã và thăng thiên của linh hồn: Tầm nhìn về Chân lý: Πριν την πτώση της στη γη, η αθάνατη ψυχή περιπλανιόταν στους ουρανούς ακολουθώντας τους θεούς, όπου είχε τη δυνατότητα να αντικρίσει την ίδια την Αλήθεια Trước khi sa ngã xuống trần gian, linh hồn bất tử lang thang trên thiên đường theo các vị thần, nơi nó có cơ hội chiêm ngưỡng chính Chân lý (những ὄντες tồn tại đích thực, chẳng hạn như Công lý, Sự khôn ngoan và Vẻ đẹp Tuyệt đối). Quy luật Đầu thai: Η ανθρώπινη φύση προϋποθέτει ότι η ψυχή έχει συλλάβει νοητικά αυτά τα αιώνια ιδεώδη.Η Αδυναμία Ενσάρκωσης (249b5-c6): Επειδή η ενσάρκωση σε άνθρωπο απαιτεί την ικανότητα να θυμηθείς (ἀνάμνησις) τις Ιδέες που αντίκρισες στον υπερουράνιο τόπο, μια ψυχή που ‘δεν έχει δει ποτέ την αλήθεια’ δεν μπορεί να λάβει ανθρώπινη μορφή. Αντίθετα, περιορίζεται σε μορφή ζώου, καθώς της λείπει η απαραίτητη επαφή με το νοητό φως για να λειτουργήσει ο ανθρώπινος λόγος (νους) Bản chất con người giả định rằng linh hồn đã hình dung ra những lý tưởng vĩnh hằng này trong tâm trí. Tình trạng bất khả của việc nhập thể (249b5-c6): Bởi vì việc nhập thể vào con người đòi hỏi khả năng ἀναμνησις nhớ lại những Ý niệm mà nó đã thấy ở Thiên giới, nên một linh hồn ‘chưa từng thấy chân lý’ không thể mang hình dạng con người. Ngược lại, nó bị giới hạn ở hình dạng động vật, vì nó thiếu sự tiếp xúc cần thiết với ánh sáng trí tuệ để lý trí (tâm trí) của con người hoạt động. - HHN]
Bởi vì, tương ứng với phương thức tồn tại của nó, con người phải hiểu và biết theo cách mà nhờ đó, nó hướng đến những gì mà mình biết liên quan đến hiện hữu của nó (κατ' εἶδος λέγειν kat' eidos legein - ‘nói theo chủng loại’ hoặc ‘nói theo hạng mục’). [Ghi chú về Κατ' εἶδος λέγειν là một cụm từ Hy Lạp cổ đại nghĩa đen là ‘nói theo loại’ hoặc ‘nói theo chủng loại’; trong triết học và hùng biện cổ điển, nó có nghĩa là nói một cách chính xác hoặc phân tích bằng cách chia một chủ đề rộng lớn thành các phạm trù cụ thể, hình thức của nó; trong triết học Platon, nó gắn liền với phương pháp διαίρεσις diairesis phân chia và tập hợp của Socrates; κατ' εἶδος kat' eidos có nghĩa là ‘cắt bản chất tại các khớp của nó’ - xác định εἶδος eidos hình thức thực sự, thiết yếu của một sự vật thay vì dựa vào những khái quát mơ hồ; nó liên quan đến việc tổ chức các khái niệm theo chủng loại cụ thể của chúng để thực sự hiểu bản chất của chúng; ngoài ra trong phép tư từ học, chẳng hạn như trong các tác phẩm của Aristotle, cụm từ này đề cập đến việc thực hành trình bày chi tiết các lập luận theo các thể loại, loại hình hoặc hình thức cụ thể của một trường hợp; nó trái ngược với việc nói một cách mơ hồ, phổ quát hoặc chung chung; cụm từ này thường gặp trong các chủ đề hoặc phạm trù của Aristotle khi phân tích các loại logic cụ thể.- HHN] Con người chỉ có thể có chân lý về một điều gì đó khi hiểu được các hiện hữu trong Hữu thể của chúng. Hiểu-biết-về-Hữu-thể là sự hồi tưởng về những gì linh hồn chúng ta đã thấy trước đây; nghĩa là, trước đây khi linh hồn vẫn còn lang thang cùng Thượng đế/Thiên Chúa và nhìn vượt khỏi những gì giờ đây chúng ta gọi là hiện hữu. Trong hiện tượng hồi tưởng, Plato nhận thấy mối quan hệ giữa Hiểu-biết-về-Hữu-thể với Thời gian, mặc dù điều này chỉ có thể được làm rõ thông qua việc sử dụng một huyền thoại. Đây là những tham chiếu để kết nối vấn đề Hữu thể với Thời gian. Tuy nhiên, vấn đề Hữu thể là vấn đề cơ bản của triết học nói chung, và gắn bó chặt chẽ với nó là vấn đề hướng dẫn về siêu việt, mà theo đó, khảo sát của chúng ta về bản chất của các cơ sở và liên hệ bản chất của cơ sở và chân lý đã hướng dẫn chúng ta, theo chủ đề: logic với tư cách siêu hình học của chân lý được dẫn dắt bởi vấn đề cơ sở. Nếu vấn đề Hữu thể hoàn toàn là trọng tâm, đặc biệt là đối với việc khảo sát của chúng ta, và nếu đạt được mối quan hệ ấy giữa tồn tại và thời gian, mà hiện nay vẫn còn mơ hồ và được coi là hiển nhiên, thì việc đặt ra câu hỏi trọng tâm này về Hữu thể và mối quan hệ của nó với Thời gian thực sự rất quan trọng.
Điều này có nghĩa là vấn đề trọng tâm, trong ý nghĩa cơ bản của nó đối với triết học nói chung, phải được đặt ra và giải quyết 1) một cách triệt để, và 2) một cách phổ quát. 1) Triệt để hóa vấn đề Hữu thể. Người ta đã đề cập đến mối quan hệ giữa είναι tồn tại và ψυχή psyche linh hồn, và giữa είναι tồn tại và χρόνος chronos thời gian, cũng như giữa ψυχή psyche linh hồn và χρόνος chronos thời gian; trong ἀνάμνησις anamnesis hồi tưởng/ký ức. Mối quan hệ giữa Hữu thể và linh hồn phải được hình dung một cách nguyên thủy hơn, cũng như mối quan hệ giữa Hữu thể và Thời gian. Nhưng điều này có nghĩa là mối quan hệ giữa linh hồn và thời gian cần được làm rõ. Làm rõ mối quan hệ giữa Hứu thể và linh hồn có nghĩa là chỉ ra cách có một hiểu-biết-về-Hữu-thể trong linh hồn, trong Hữu thể mà hiện hữu của nó được đặc trưng chủ yếu bởi linh hồn; điều này đòi hỏi một cách diễn giải nguyên thủy và thích hợp về Dasein. Cách diễn giải này, bởi vì nó được thực hiện dựa trên câu hỏi về Hữu thể, do đó cũng mang tính siêu hình, bản thể luận; tức là, [tr.149] cách diễn giải này nhằm mục đích làm sáng tỏ phương thức hiện hữu đặc thù của Dasein để làm rõ cách thức đặc biệt này bao gồm một cái gì đó giống như hiểu-biết-về-Hữu-thể. Tuy nhiên, khi cố gắng đưa ra một cách diễn giải về Dasein mang tính bản thể luận nguyên thủy và phù hợp, người ta nhận thấy rằng truyền thống triết học đã giải thích tồn tại này, về mặt siêu hình học, theo một cách không mang tính nguyên thủy và phù hợp, và hoàn toàn không nằm trong bối cảnh của vấn đề cơ bản. Và truyền thống đã làm như vậy, không phải do sự cẩu thả, thiếu năng lực, mà vì những nguyên do nằm trong bản chất của sự sinh thành của tự thân hiểu-biết-về-Hữu-thể. Một cách diễn giải Dasein mang tính bản thể luận nguyên thủy cũng đồng nghĩa với một cách diễn giải thời gian nguyên thủy. Thời gian cũng được hiểu là một cái gì đó hiện-diện-có-đó, được xem xét theo khái niệm thời gian truyền thống, như một cái gì đó được giải thích từ góc nhìn của cái bây giờ. Vậy thì nhiệm vụ của chúng ta là thực hiện một cách diễn giải về thời gian nguyên thủy cũng như về Dasein, có nghĩa là làm rõ cách thức liên hệ giữa chúng. Một nhận thức cổ xưa (xem Aristotle và Augustine) cho rằng thời gian là ἐν τῇ ψυχῇ en te psyche trong anima linh hồn. Nhưng thời gian được coi là thứ hiện diện trước mắt, bằng cách nào đó lại hiện diện trong tâm hồn. Điều này vẫn hoàn toàn chưa được làm rõ trong Kant (như vấn đề về mối liên hệ giữa thời gian và con lương suy tư) và trong những Kẻ Kế thừa ông.
Gần đây, Bergson đã cố gắng hình dung khái niệm thời gian một cách độc đáo hơn. Ông đã làm rõ hơn bất kỳ nhà triết học nào trước đó rằng thời gian đan xen với ý thức. Nhưng điều cốt yếu vẫn chưa được giải quyết trong tư tưởng của Bergson, thậm chí không trở thành một vấn đề. Ông đã phát triển cách diễn giải về thời gian dựa trên khái niệm truyền thống về ý thức, về res cogitans của Descartes. [Res cogitans là một thuật ngữ tiếng Latinh trong triết học, có nghĩa là ‘thực thể tư duy’ hoặc ‘bản thể tư duy’. Đây là khái niệm cốt lõi trong thuyết nhị nguyên của triết gia René Descartes, dùng để chỉ tâm trí, linh hồn, hoặc phần ý thức của con người; theo Descartes, res cogitans mang những đặc điểm phi vật chất và vô hình, không chiếm không gian và không thể bị phân chia thành các phần nhỏ hơn; bản chất là suy tư nên hoạt động chính và duy nhất của nó là tư duy; theo Descartes, ‘tư duy’ bao hàm mọi trạng thái ý thức như suy nghĩ, nghi ngờ, hiểu biết, khẳng định, phủ định, cảm nhận và tưởng tượng; đối lập với Res Extensa - để giải thích cấu trúc của thực tại, Descartes chia thế giới thành hai loại thực thể khác biệt - Res Cogitans ‘Thực thể tư duy’ và Res Extensa – ‘Thực thể mở rộng’ gồm thể xác/vật chất, là thế giới vật lý, có hình khối, chiếm không gian và có thể chia nhỏ; khái niệm này làm nền tảng cho nhị nguyên luận Descartes, mô tả mối quan hệ giữa thể xác và tâm trí là hai thứ độc lập nhưng tương tác với nhau bên trong mỗi con người. - HHN]
Ông không đặt ra vấn đề siêu hình cơ bản về mối liên hệ nguyên thủy giữa Dasein và thời gian, và càng không đặt ra vấn đề về Hữu thể, mà đối với nó vấn đề kia chỉ là sự chuẩn bị. Nhưng nếu Hữu thể có mối quan hệ nguyên thủy với Thời gian, và nếu hiểu-biết-về-Hữu-thể thuộc về bản chất nguyên thủy của Dasein, thuộc về khả tính nội tại của nó, thì thời gian phải cùng xác định khả tính nội tại này của Dasein. Nghĩa là, hướng tới và định hướng bởi vấn đề về Hữu thể, thời gian phải được chứng minh là cấu thành cơ bản của Dasein. Tuy nhiên, chính khái niệm về thời gian cũng bị biến đổi bởi điều này. Vậy là một lập trường độc đáo đối với lịch sử siêu hình học, theo đúng nghĩa đã xuất hiện. Chúng ta đã nói về Hiện hữu như là tiên nghiệm. Nếu tiên-nghiệm-tính là đặc điểm cơ bản của Hiện hữu, và nếu tiên-nghiệm-tính là một sự chỉ định thời gian, và nếu Hiện hữu được kết nối với thời gian theo cách mà hiểu-biết-về-Hữu-thể bắt nguồn từ thời tính của Dasein [tr.150], thì có một mối liên hệ nội tại giữa cái tiên nghiệm và thời tính, cấu thành-Hữu thể của Dasein, chủ thể tính của chủ thể. Cuối cùng, không phải là một định kiến duy tâm võ đoán, như ngày nay người ta thích tuyên bố rằng vấn đề về cái tiên nghiệm ở Plato và Aristotle, Descartes, Leibniz, Kant và chủ nghĩa duy tâm Đức có mối liên hệ mật thiết với vấn đề chủ thể, cho dù mối liên hệ đó trước đây có thể vẫn còn mơ hồ.
2) Khái quát hóa vấn đề Hữu thể. Ở đây, vấn đề cũng đã trở nên xa lạ với thời đại của chúng ta và càng trở nên xa lạ hơn bởi một phong trào dường như muốn đổi mới bản thể luận và siêu hình học. Có một quan niệm sai lầm phổ biến, bắt nguồn từ chủ nghĩa Kantianism, đó là cho rằng nếu cần đặt ra một vấn đề bản thể luận, thì người ta đã lựa chọn chủ nghĩa hiện thực nhận thức luận, vì chủ nghĩa hiện thực này vẫn cho phép các hiện-hữu-trong-tự-thân. Mối quan tâm đương thời đến bản thể luận chủ yếu được hồi sinh bởi hiện tượng học. Nhưng ngay cả Husserl cùng Scheler, và chắc chắn cả những người khác nữa, cũng không nhìn thấy toàn bộ phạm vi của bản thể luận. Bằng bản thể luận, họ hiểu - như ngày nay ở khắp mọi nơi người ta hiểu, chẳng hạn ở Rickert - là một khảo sát đặt ra vấn đề về hiện-hữu-trong-tự-thân của sự vật trong cái gọi là sự độc lập của chúng với chủ thể. Do đó việc khảo sát về chủ thể không phải là một vấn đề của bản thể luận, mà thuộc về lý thuyết nhận thức. Bản thể luận được hiểu là sự nhấn mạnh vào khách thể, sau khi chỉ có chủ thể đến giờ là được nhấn mạnh. Theo nghĩa này, bản thể luận gắn liền với lập trường nhận thức luận của chủ nghĩa hiện thực - đối lập với chủ nghĩa duy tâm. Do đó bản thể luận phải bỏ xa chủ thể càng nhiều càng tốt, trong khi ngược lại, nhu cầu cơ bản trên thực tế nằm ở việc đặt vấn đề về chủ thể tính. Nhưng ngược lại, theo cách hiểu hiện nay, bản thể luận được hiểu, trước hết, không phải là khoa học về Bản/Hữu thể mà là về các hiện hữu, và thứ hai, với tư cách là khoa học về các khách thể, về tự nhiên theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này. Sự phục hưng của bản thể luận được coi là sự trở lại với chủ nghĩa Kinh viện hiện thực luận thời trung cổ và với Aristotle, vốn đã được ngụy trang thành một trong những Giáo phụ của Giáo hội. Người ta cũng có thể tìm thấy sợi dây liên kết của bản thể luận, theo nghĩa này của thuật ngữ, ở Kant.
Có một quan điểm ở Scheler, Nicolai Hartmann và Heimsoeth cho rằng, bên cạnh những đường lối tư duy nhận thức luận-duy tâm, Kant còn có khuynh hướng hướng tới cái gọi là chủ nghĩa hiện thực bản thể luận, những khuynh hướng vẫn thừa nhận sự tồn tại của một thế giới khách quan. Quan niệm về bản thể luận này là vô nghĩa và không phải là của Aristotle cũng không phải của Kant. Cái mà cách diễn giải bản thể luận được cho là của Kant coi lại coi lý thuyết nhận thức chính xác là bản thể luận đích thực. Siêu hình học không nên đối lập với lý thuyết tri thức. [Tr.151] Hơn nữa, cần phải chỉ ra rằng phân tích Phê phán Lý tính Thuần túy là nỗ lực đầu tiên kể từ Plato và Aristotle nhằm thực sự biến bản thể luận thành một vấn đề triết học. Nhưng nỗ lực như vậy được cho là bất khả thể, bởi vì Kant dĩ nhiên là một nhà tư tưởng phê phán, tức là quan điểm của Kant cho rằng tri thức không được sắp xếp theo đối tượng, mà đối tượng được sắp xếp theo tri thức. Trước hết, vấn đề bản thể luận hoàn toàn không liên quan gì đến giả-vấn đề được ca ngợi về cái thực tại của thế giới bên ngoài và sự độc lập của các hiện-hữu-tự-thân khỏi chủ thể hữu tri. Đúng hơn, vấn đề bản thể luận nằm ở chỗ cái gọi là vấn đề nhận thức luận này hoàn toàn không thể được đặt ra nếu ý nghĩa của cái Hữu-thể-trong-tự-thân của sự vật hiện tồn không được làm rõ. Nhưng điều này thậm chí không thể được đặt ra như một vấn đề, chứ đừng nói đến việc giải quyết, nếu vẫn chưa rõ câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể theo đúng nghĩa phải được đặt ra như thế nào.
___________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.
Notes
6. Cf. also "Kants Lehre yom Schematismus und die Frage nach dern Sinn des Seins," the Cologne lecture held on January 26, 1927.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét