Powered By Blogger

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2023

Kinh tế học Di sản - Giá trị và Định giá

David Throsby

Người dịch: Hà Hữu Nga

Kinh tế học di sản đã nổi lên như một lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng thực nghiệm riêng biệt trong kinh tế văn hóa. Bài viết xem xét sự phát triển của lĩnh vực này từ những năm 1990 và khám phá tác động của nó đối với thực tiễn và chính sách. Ba lĩnh vực nghiên cứu quan trọng được nhấn mạnh: lý thuyết và ứng dụng phân tích kinh tế cho các vấn đề di sản; phương pháp đánh giá và sự phù hợp của chúng để đánh giá giá trị văn hóa; và hiểu tác động kinh tế của chính sách di sản. Bài viết này minh họa một ví dụ về nghiên cứu và ứng dụng sáng tạo trong một lĩnh vực cụ thể: đầu tư vào di sản như một động lực thúc đẩy các dự án đổi mới đô thị ở các nước đang phát triển. Nó nhắc lại tầm quan trọng liên tục của việc công nhận bối cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa và các tác động của việc thực hành di sản.

Khi Viện bảo tồn Getty tổ chức một hội thảo về các giá trị trong bảo tồn di sản ở Los Angeles vào tháng 12 năm 1998, lĩnh vực kinh tế di sản với tư cách là một chuyên ngành dễ nhận biết trong lĩnh vực kinh tế văn hóa đã được thiết lập vững chắc chỉ mới được một thập kỷ.1 Sự quan tâm lẻ tẻ đến các vấn đề di sản giữa các nhà kinh tế học đã xuất hiện được vài năm, nhưng bài báo của Alan Peacock gửi cho Học viện Anh năm 1994 lần đầu tiên thu hút sự chú ý rộng rãi đến các câu hỏi đặt ra liệu kinh tế học hình thức có được áp dụng cho quá trình ra quyết định về di sản hay không (Peacock 1995). Peacock, một học giả lỗi lạc người Anh, nhà kinh tế tài chính công và nhạc sĩ, lập luận rằng nếu các chính phủ cung cấp kinh phí cho việc bảo tồn di sản, thì công chúng nên được phép nói về cách chi tiêu tiền “của họ”. Sự can thiệp gay gắt của ông đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ các chuyên gia di sản, với nỗi lo rằng sự xâm nhập của các nhà kinh tế vào lãnh địa của họ sẽ chuyển đổi tất cả các giá trị thành các thuật ngữ tiền tệ và cho phép dư luận đại chúng thiếu-hiểu biết ảnh hưởng đến việc phân bổ các nguồn lực bảo tồn (Cannon-Brookes 1996). Trong những năm ngay sau bài báo của Peacock, ngày càng có nhiều nhà kinh tế quan tâm đến tính kinh tế của di sản, dẫn đến sự xuất hiện của hai tuyển tập bài viết được xuất bản vào cuối những năm 1990 (Schuster, de Moncheaux, và Riley 1997; Hutter và Rizzo 1997). Các công trình này đã giúp trấn an những người hoài nghi khi biết rằng có nhiều cơ hội để các nhà kinh tế đóng góp hợp lý vào các cuộc thảo luận về di sản văn hóa mà không cho rằng các giá trị tài chính mới là điều quan trọng. Kể từ những ngày đó, tài liệu về kinh tế học di sản đã được bổ sung thêm một số tuyển tập mới (Navrud & Ready 2002; Rizzo & Towse 2002; Teutonico & Matero 2003; Licciardi & Amirtahmasebi 2012; Rizzo & Mignosa 2013) và ngày càng có nhiều bài báo và nghiên cứu chuyên khảo về nhiều vấn đề về lĩnh vực này.2 Các nhà nghiên cứu đã có thể đưa ra các phát triển lý thuyết và thực nghiệm trong lĩnh vực kinh tế văn hóa rộng lớn, nơi mà việc định giá hàng hóa và dịch vụ văn hóa nói chung vẫn là mối quan tâm chính đối với phân tích kinh tế. Trong bài viết này, tôi thảo luận về những cách thức mà kinh tế học có thể hỗ trợ trong việc hiểu rõ các giá trị xã hội liên quan đến quản lý bảo tồn di sản và đưa ra một số chỉ dẫn về định hướng đổi mới trong nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Các khái niệm cơ bản

Trong số các khái niệm kinh tế liên quan đến di sản đã xuất hiện, quan trọng nhất là vốn văn hóa, được định nghĩa là bất kỳ tài sản vốn nào thể hiện hoặc làm phát sinh giá trị văn hóa bên cạnh bất kỳ giá trị kinh tế nào mà nó sở hữu (Throsby 1999; Rizzo và Throsby 2006).3 Định nghĩa này đòi hỏi một số công phu. Trước hết, thuật ngữ “tài sản” gợi lên ý tưởng về một kho tàng, mà trong trường hợp di sản có thể tồn tại ở dạng hữu hình, chẳng hạn như một tòa nhà, một bức tranh, hoặc có thể là vô hình, như một kỹ năng thủ công truyền thống hay các vở kịch của William Shakespeare. Trong kinh tế học, bất kỳ hạng mục vốn nào, chẳng hạn như một ngôi nhà hoặc một chiếc ô tô, đều phù hợp cho việc phân tích vì nó tạo ra một dòng dịch vụ. Trong trường hợp vốn văn hóa, nguồn vốn tạo ra dòng dịch vụ theo nhiều cách khác nhau, ví dụ như khi một khách du lịch đến thăm một di tích lịch sử, một người nào đó xem một bức tranh, hoặc việc biểu diễn vở kịch Hamlet. Những dòng chảy này có thể được hiểu là các quy trình sản xuất, trong đó đầu ra cuối cùng là dịch vụ văn hóa mà người tiêu dùng trải nghiệm.

Điểm thứ hai liên quan đến giá trị, cơ sở để các nhà kinh tế học diễn giải các đặc trưng của vốn văn hóa giúp phân biệt nó với các hàng hóa tư bản khác. Theo cách nói thông thường, khái niệm tài sản bao hàm giá trị, thường được nghĩ đơn giản về mặt tài chính. Vốn văn hóa cũng không khác - nó tạo ra giá trị kinh tế, và làm như vậy ở cả dạng cổ phần (một tòa nhà lịch sử có thể được bán) và dưới dạng dòng vốn (khách du lịch trả tiền để đến thăm một địa điểm). Nhưng không giống như tài sản vốn “thông thường”, các hạng mục của vốn văn hóa thể hiện hoặc tạo ra một loại giá trị bổ sung và khác: giá trị văn hóa (Throsby 2001). Khái niệm này tìm cách nắm bắt phạm vi các giá trị phi tiền tệ có thể quy cho các hiện tượng văn hóa. Trong trường hợp các tòa nhà, địa điểm di sản, v.v., khái niệm giá trị văn hóa có cùng nguồn gốc với ý nghĩa văn hóa (hoặc giá trị di sản) như được hiểu trong lĩnh vực di sản, sẽ được bàn đến dưới đây.

Cần lưu ý rằng việc đề xuất sự tồn tại của một khái niệm giá trị không thể đo lường bằng thuật ngữ tài chính, cũng như điều cần thiết trong định nghĩa kinh tế về vốn văn hóa, đòi hỏi các nhà kinh tế học theo truyền thống tân cổ điển nghiêm ngặt phải mở rộng tầm nhìn. Trong mô hình chuẩn của một nền kinh tế bao gồm các nhà sản xuất tối đa hóa-lợi nhuận, người tiêu dùng tối đa hóa-tiện ích và thị trường hoạt động hoàn hảo, thì giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ hoàn toàn có thể biểu thị được, ít nhất là về nguyên tắc, dưới dạng tiền tệ. Người ta cho rằng bất kể động cơ của nhu cầu là gì, nếu một cá nhân đánh giá cao thứ gì đó thì họ sẽ sẵn sàng trả tiền để có được thứ đó, và mức độ sẵn sàng trả tiền của họ có thể nắm bắt được tất cả các khía cạnh sở thích cơ bản của họ, bao gồm cả những sở thích xuất phát từ định giá thẩm mỹ hoặc các định giá văn hóa khác. Tuy nhiên, vì các nhà kinh tế quan tâm đến việc tìm hiểu quá trình ra quyết định, nên có thể thuyết phục một người theo chủ nghĩa truyền thống nghiêm ngặt xem xét các dạng giá trị khác nếu có thể chỉ ra rằng, độc lập với các tác động tài chính, các giá trị thay thế đó ảnh hưởng đến sự lựa chọn của mọi người và do đó, ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực.

Việc đưa khái niệm vốn văn hóa vào kinh tế di sản đã rút ra từ khái niệm song hành về vốn tự nhiên trong kinh tế học môi trường (El Serafy 1991; Jansson et al. 1994). Một song hành cụ thể liên quan đến tính bền vững. Việc quản lý vốn tự nhiên có thể được hiểu theo hệ mẫu phát triển bền vững về mặt sinh thái, trong đó các giá trị kinh tế, xã hội và môi trường được diễn giải trong một hệ thống tổng thể (Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển 1987; Costanza và Daly 1992). Tương tự như vậy, có thể thấy rằng tính bền vững cung cấp một khuôn khổ bao quát để diễn giải việc quản lý vốn văn hóa, cho phép đưa ra khái niệm phát triển bền vững về mặt văn hóa phản ánh khái niệm về đối tác môi trường của nó (Throsby 2017). Một ưu điểm nữa của sức mạnh đồng hợp lý thuyết này giữa vốn tự nhiên và vốn văn hóa là các phương pháp đánh giá giá trị của tài sản môi trường đã được chứng minh là có thể chuyển giao trực tiếp cho các quy trình định giá trong kinh tế học di sản văn hóa, như chúng ta sẽ thấy thêm trong phần tiếp theo.

Phương pháp đánh giá

Mặc dù có thể có một số khác biệt về chi tiết của các cách tiếp cận khác nhau để định giá tài sản di sản văn hóa từ góc độ kinh tế, nhưng sự khác biệt cơ bản giữa giá trị kinh tế và văn hóa được đề cập ở trên vẫn đúng, cho dù được áp dụng cho nguồn vốn tài sản hay dịch vụ mà chúng cung cấp. Vì vậy, chúng ta có thể chia việc tường trình của mình về các thủ tục định giá theo hai yếu tố giá trị này. Trước tiên, chúng ta chuyển sang giá trị kinh tế, giá trị này có thể được xác định bằng các phương pháp phân tích kinh tế và có thể biểu thị bằng tiền tệ - những giá trị mà các cá nhân sẵn sàng trả bằng cách này hay cách khác. Các phạm trù mà giá trị kinh tế của di sản có thể được phân chia tương ứng với ba cách có thể xác định được trong đó các cá nhân trải nghiệm di sản giá trị  sử dụng, giá trị không sử dụng hoặc giá trị như một ngoại tác sinh lợi.

Giá trị sử dụng tích lũy cho các cá nhân, hộ gia đình hoặc doanh nghiệp thông qua việc tiêu dùng trực tiếp các dịch vụ di sản. Nó có thể được trải nghiệm, ví dụ, thông qua quyền sở hữu tài sản di sản, hoặc tận hưởng các dịch vụ của tài sản di sản (sống trong một ngôi nhà di sản hoặc làm việc trong một tòa nhà lịch sử). Những giá trị như vậy được phản ánh trong các quy trình thị trường, và có thể thấy trong các giao dịch tài chính khác nhau. Giá trị sử dụng trực tiếp của di sản cũng tích lũy cho khách du lịch đến thăm các địa điểm văn hóa, được đo bằng các biến như phí vào cửa. Khía cạnh thứ hai của định giá cá nhân là các giá trị phi sử dụng hoặc các giá trị sử dụng thụ động, được các cá nhân trải nghiệm nhưng không được phản ánh trong các quá trình thị trường, vì chúng bắt nguồn từ các thuộc tính của di sản văn hóa có thể được phân loại là hàng hóa công cộng. Việc tiêu dùng hàng hóa công cộng được định nghĩa là phi-cạnh tranh (tiêu dùng của người này không làm giảm giá trị của người khác) và phi-loại trừ (một khi hàng hóa có sẵn, thì mọi người không thể bị loại trừ khỏi việc tiêu dùng nó). Các nghiên cứu về kinh tế môi trường và sinh thái trong hơn 20 năm qua đã xác định được ba loại giá trị sử dụng thụ động có liên quan như nhau đối với di sản: giá trị tồn tại, giá trị lựa chọn và giá trị thừa kế.4 Tất cả các nguồn giá trị này làm phát sinh nhu cầu bảo tồn của di sản có thể biểu thị dưới dạng sẵn sàng chi trả của cá nhân, và việc đo lường sẽ được thảo luận dưới đây.

Loại giá trị thứ ba của di sản văn hóa do các cá nhân trải nghiệm có phần khác biệt so với hai loại trên, mặc dù nó bao hàm cả đặc điểm sử dụng và không sử dụng. Nó xuất phát từ thực tế là di sản có thể tạo ra tác động lan tỏa tích cực, hay còn gọi là ngoại tác. Ví dụ, các tòa nhà di sản sẽ tạo ra ngoại tác có lợi nếu người qua đường đạt được niềm vui nhất thời khi quan sát các phẩm chất thẩm mỹ hoặc lịch sử của chúng. Ví dụ, người đi bộ ở Milan có thể thưởng thức cảnh tượng của Duomo Nhà thờ Chính tòa khi họ đi bộ qua quảng trường liền kề. Về nguyên tắc, giá trị kinh tế của một lợi ích như vậy có thể được ước tính, mặc dù trên thực tế hiếm khi như vậy. Nhưng sự thật vẫn rõ ràng: tác động lan tỏa tích cực là một giá trị di sản có thể xác định được và có tiềm năng quan trọng tích lũy cho các cá nhân.

Liên quan đến đo lường, việc đánh giá các giá trị sử dụng phải đơn giản, vì chúng bắt nguồn từ các giao dịch tài chính có thể quan sát hoặc ước tính được. Người ta đã chú ý đến việc đánh giá các giá trị phi-sử dụng có vấn đề nhiều hơn trong nghiên cứu ứng dụng về kinh tế học di sản văn hóa, bằng cách điều chỉnh các phương pháp từ các lĩnh vực khác. Các cách tiếp cận được sử dụng có thể phân loại thành các phương pháp sở thích-bộc lộ và sở thích-tuyên bố. Phương pháp thứ nhất dựa vào suy luận từ hành vi được quan sát, chẳng hạn như việc sử dụng giá bất động sản để ước tính xem liệu chất lượng di sản của nhà ở trong một khu vực nhất định có ảnh hưởng đến giá bán của chúng hay không (Moorhouse and Smith 1994). Những nghiên cứu này và những nghiên cứu khác dựa trên dữ liệu về sở thích-bộc lộ, bao gồm cái gọi là phương pháp chi phí lữ hành (Bedate, Herrero, và Sanz 2004), giới hạn trong tính hữu ích cho việc ước tính các giá trị không sử dụng vì về cơ bản chúng đo lường các hiệu ứng lợi ích cá nhân hơn là hiệu ứng lợi ích chung (Armbrecht 2014). Do đó, việc đánh giá của các nhà kinh tế về lợi ích phi thị trường của di sản văn hóa chủ yếu tập trung vào các phương pháp sở thích-tuyên bố bằng cách sử dụng định giá ngẫu nhiên hoặc gần đây hơn là mô hình lựa chọn rời rạc. 

Cách tiếp cận sở thích-tuyên bố liên quan đến việc yêu cầu mọi người cho biết họ sẵn sàng trả tiền cho những lợi ích nhận được, hoặc sẵn sàng chấp nhận bồi thường cho những mất mát của họ. Việc khảo sát có thể diễn ra trong các điều kiện cận-thử nghiệm, hoặc thông thường hơn, có thể được thực hiện thông qua các cuộc điều tra mẫu cá nhân. Ví dụ, giá trị phi-sử dụng của một địa điểm di sản địa phương có thể được đánh giá bằng cách sử dụng định giá ngẫu nhiên bằng phương pháp khảo sát một mẫu cư dân trong khu vực (Cuccia 2011). Những người trả lời có thể được yêu cầu giả định cho biết khoản tài chính tối đa mà họ sẽ đóng góp vào quỹ để hỗ trợ địa điểm di sản, hoặc thay vào đó liệu họ có sẵn sàng trả bằng một số phương tiện khác chẳng hạn như thông qua điều chỉnh thuế của mình (Tuan and Navrud 2008). Một thí nghiệm lựa chọn rời rạc mang lại nhiều thông tin hơn so với thông tin có thể thu được từ một thực hành định giá ngẫu nhiên. Phương pháp này có thể áp dụng cho di sản nói chung (Allen Consulting Group 2005), hoặc phổ biến hơn là định giá tiên chiêm (ex ante: trước khi xem thấy) hoặc hậu chiêm (ex post: sau khi xem thấy) đối với một dự án hoặc địa điểm bảo tồn cụ thể. Một nghiên cứu lựa chọn rời rạc điển hình được áp dụng cho một địa điểm di sản sẽ tìm kiếm đánh giá của người trả lời về nhiều thuộc tính như khả năng tiếp cận, chất lượng thẩm mỹ, cơ sở vật chất mà nó cung cấp, v.v. (Alexandros and Jaffry 2005; Willis 2009; Choi et al. 2010). Cần có một số yêu cầu thanh toán sao cho có thể suy ra mức độ sẵn sàng chi trả cho các thuộc tính khác nhau hoặc cho toàn bộ địa điểm di sản. Các khảo sát lựa chọn rời rạc được thực hiện trực tuyến dễ dàng và do đó có thể yêu cầu kích cỡ mẫu tương đối lớn. Chúng đòi hỏi thiết kế thử nghiệm phức tạp, tuy nhiên những loại phương pháp đánh giá này dự  tính tìm ra các ứng dụng rộng rãi hơn trong tương lai.

Có thể rút ra được những kết luận nào về tính hữu dụng của các phương pháp đánh giá kinh tế này trong thực tiễn bảo tồn di sản? Một số hình thức định giá kinh tế của một dự án bảo tồn rất có thể phù hợp, nếu không nói là nhất thiết phù hợp, nếu dự án đang tìm kiếm nguồn tài trợ hoặc để giải trình nguồn tài trợ đã nhận được. Phần lớn các dự án di sản được bắt đầu vì lý do văn hóa hơn là vì lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, có khả năng là tất cả các dự án sẽ tạo ra những lợi ích nào đó mà giá trị của chúng có thể được trình hiện trong khuôn khổ tài chính. Tất cả các đánh giá đều có khả năng bao gồm một cách thức đo lường nào đó bằng tiền về các giá trị sử dụng trực tiếp. Ngoài ra, như một thành phần của đánh giá tổng thể về giá trị kinh tế của một dự án, có thể mong muốn hoặc cần thiết để chứng minh về mặt kinh tế rằng các lợi ích phi-sử dụng thực tế là to lớn hoặc có khả năng là to lớn. Thật vậy, đối với các dự án bảo tồn, thường thì các lợi ích phi sử dụng sẽ chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng giá trị kinh tế của dự án.5 Tuy nhiên, các loại đánh giá kinh tế được mô tả ở trên đòi hỏi phải có chuyên môn và nguồn lực. Ngay cả khi nguồn lực có sẵn, thì chuyên môn có thể vẫn bị thiếu. Các xem xét, cân nhắc này củng cố đều góp phần khẳng định đề xuất cho rằng việc đánh giá các dự án quan trọng, tốt nhất nên được một nhóm bao gồm một hoặc nhiều nhà kinh tế có thể làm việc cùng với các chuyên gia di sản khác tiến hành đánh giá các khía cạnh kinh tế liên quan đến chi phí và lợi ích của dự án.

Giờ đây chúng ta chuyển sang đánh giá giá trị văn hóa. Trong kinh tế học về di sản, giá trị văn hóa đã được thể hiện như một khái niệm đa diện và luôn thay đổi mà không có đơn vị tính toán duy nhất (Mazzanti 2003; Choi 2010). Với đặc tính đa diện của nó, có ý kiến cho rằng cách thích hợp để tiến hành đánh giá giá trị văn hóa là phân tích các yếu tố cấu thành của nó (Throsby 2001, 26 - 31). Ví dụ, giá trị văn hóa của một tòa nhà di sản có thể được xác định là có các cấu thành thẩm mỹ, biểu tượng, xã hội, lịch sử, giáo dục và khoa học. Việc phân loại các khía cạnh giá trị văn hóa như vậy tương tự như đặc điểm kỹ thuật của các tiêu chí để đánh giá ý nghĩa văn hóa của các tòa nhà hoặc địa điểm được đưa ra trong các thủ tục đánh giá di sản như Hiến chương ICOMOS của Úc về các Địa điểm có Ý nghĩa Văn hóa (Hiến chương Burra) hoặc các yêu cầu đối với các địa điểm được đề cử vào Danh sách Di sản Thế giới.

Việc xác định giá trị văn hóa theo các khuôn khổ này là điều kiện tiên quyết để đánh giá toàn diện, nhưng việc đo lường lại làm xuất hiện các vấn đề. Đánh giá về cấp độ ý nghĩa văn hóa hoặc cấp độ giá trị văn hóa của một hạng mục di sản chắc chắn là một đánh giá chủ quan, vì vậy thách thức trước hết là phát minh ra các phương tiện đánh giá minh bạch nhất có thể, với hy vọng cung cấp một tiêu chuẩn chung bằng cách dựa vào đó người đánh giá có thể xác định điểm số mà họ muốn phân bổ cho một mục cụ thể theo một tiêu chí nhất định. Một điểm số như vậy có thể là một đánh giá trực tiếp đối với tiêu chí đó, một cách đại diện hiệu quả bằng số của một đánh giá định tính (“rất quan trọng”, “quan trọng”, “không đặc biệt quan trọng”, v.v.). Cách tiếp cận đánh giá này có thể được áp dụng trong thực tế bằng cách tìm kiếm sự đồng ý hoặc không đồng ý của các cá nhân với một loạt các tuyên bố định tính về các yếu tố giá trị văn hóa cụ thể, trong đó một số tuyên bố khác nhau có thể được sử dụng cho từng thành phần giá trị để cho phép khám phá các cách thể hiện giá trị khác nhau đó. Điểm số có thể biểu thị cho các câu trả lời cho phép tổng hợp các đánh giá giữa các cá nhân, các yếu tố giá trị hoặc cả hai; nếu cần, tổng hợp lại có thể được tính thành trọng số để phản ánh các mức độ quan trọng khác nhau gắn với các thành phần khác nhau.

Vấn đề Kinh tế trong Chính sách Di sản

Việc các chủ sở hữu tư nhân và cơ quan công quyền sử dụng và lạm dụng di sản văn hóa có những tác động đáng kể đến lợi ích công cộng. Vì lý do này mà hầu như tất cả các chính quyền - quốc gia, vùng, tiểu bang, địa phương - đều có chính sách di sản theo cách này hay cách khác. Chính sách của họ sẽ liên quan hệ trọng đến hành vi của chính họ, vì họ thường là người nắm giữ tài sản di sản, thông qua quyền sở hữu các tòa nhà công cộng lịch sử, v.v. Ngoài ra, cần có sự can thiệp về chính sách để kiểm soát hành vi của các chủ sở hữu cá nhân và tập thể đối với di sản nhằm ngăn chặn các hành vi được đánh giá là đi ngược lại lợi ích công cộng. Một số vấn đề chính sách phát sinh. Trước hết, mặc dù thực tế là hầu hết các nhà kinh tế thích sự vận hành của thị trường hơn là sự can thiệp của cơ quan quản lý như một phương tiện để tác động đến việc phân bổ nguồn lực trong bất kỳ ngành nào, nhưng quy định hóa ra lại là công cụ chính mà các chính phủ trên khắp thế giới sử dụng để đưa ra chính sách về di sản - nghĩa là, liệt kê các tòa nhà hoặc địa điểm di sản theo mức độ quan trọng của chúng. Việc lập danh sách áp đặt các ràng buộc đối với chủ sở hữu về cách thức sử dụng di sản, xem liệu nó có thể được sửa đổi hoặc bán trác hay không, v.v... Với tư cách là một công cụ chính sách, các quy định có một số nhược điểm mà các nhà kinh tế rất quen thuộc: chúng tạo ra sự kém hiệu quả, liên quan đến chi phí hành chính, đưa ra những động cơ khuyến khích sai trái và chúng có thể bị các nhóm lợi ích lợi dụng, biến thành lợi ích của riêng họ. Bất chấp những hạn chế này, các quy định có một số đặc điểm hấp dẫn trong việc thực thi chính sách, đặc biệt là trong trường hợp di sản: chúng trực tiếp, có tính quyết định và mang lại kết quả chắc chắn. Hơn nữa, chúng vận hành nhanh hơn nhiều so với sự can thiệp của thị trường - một lợi thế, chẳng hạn, khi cần thiết để ngăn chặn việc phá hủy một tài sản di sản.

Thứ hai, xung đột giữa lợi ích công và tư thường xuyên nảy sinh trong lĩnh vực di sản. Ví dụ: đánh giá của chủ sở hữu tư nhân về lợi ích và chi phí của một dự án bảo tồn liên quan đến việc tái sử dụng thích ứng tài sản di sản của họ sẽ chỉ dựa trên dòng tài chính vào và ra khỏi tài khoản cá nhân của họ, trong khi cùng một dự án được đánh giá ở cấp độ xã hội có khả năng bao gồm một loạt các lợi ích tập thể và chi phí không được cá nhân tính đến. Khi xem xét cách giải quyết các trường hợp chủ sở hữu tư nhân cho rằng mình bị thiệt thòi khi lên danh sách hoặc hậu quả của nó, chính phủ không thể bỏ qua mục đích chính của quy định di sản, đó là bảo vệ lợi ích công cộng phát sinh từ di sản được xây dựng ở bất kỳ cấp độ nào mà lợi ích đó được trải nghiệm. Đặc biệt, điều quan trọng là không nên cho phép nhu cầu cấp thiết tài chính ngắn hạn của một số chủ sở hữu tài sản lấn át lợi ích công cộng dài hạn. Chìa khóa để đạt được sự cân bằng phù hợp giữa lợi ích công và tư trong bảo tồn di sản đặc biệt nằm ở hai định hướng chính sách: áp dụng các thủ tục khách quan, nhất quán và kỹ lưỡng để đánh giá di sản và cung cấp đủ nguồn lực để đền bù khi có nhu cầu chính đáng có thể được chứng minh là thực sự tồn tại.

Cuối cùng, chúng tôi chuyển sang vấn đề cân bằng các mục tiêu kinh tế và văn hóa trong hoạch định chính sách di sản. Đối với một số dự án, việc tạo ra giá trị kinh tế và văn hóa có thể bổ sung và cân bằng, dẫn đến kết quả đôi bên cùng có lợi. Tuy nhiên, trong những trường hợp khác, có thể có sự đánh đổi giữa hai loại giá trị. Một số tòa nhà hoặc địa điểm di sản có thể có giá trị văn hóa cao nhưng giá trị kinh tế tương đối thấp, ngay cả khi giá trị kinh tế bao gồm các lợi ích phi thị trường. Những lợi ích khác có thể hoàn toàn ngược lại. Sự lựa chọn giữa chúng, nếu có, kéo theo một trao đổi nào đó giữa giá trị này đổi lấy giá trị kia. Chúng ta với tư cách cá nhân hay xã hội sẵn sàng từ bỏ bao nhiêu giá trị kinh tế để đảm bảo một cấp độ giá trị văn hóa nhất định và ngược lại? Trong thực tế, những tình huống khó xử này được giải quyết thông qua một số loại quy trình chính trị hoặc thủ tục đàm phán. Trong những trường hợp như vậy, không cần phải nói rằng việc đánh giá toàn diện cả giá trị kinh tế và văn hóa do dự án tạo ra, được thực hiện bằng cách sử dụng các thủ tục được thảo luận trong bài viết này, là cần thiết để đi đến quyết định cuối cùng hợp lý.

Một số lĩnh vực ứng dụng mới

Nghiên cứu về kinh tế di sản đã có một số hướng đổi mới trong những năm gần đây. Ví dụ, vai trò của di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trong việc đóng góp vào khái niệm terroir thổ sản trong phân tích quá trình địa phương hóa sản xuất rượu vang và thực phẩm chuyên biệt theo vùng đã được nghiên cứu (Douguet and O'Connor 2003; Cross, Plantinga and Stavins 2011; Anatole-Gabriel 2016). Trong bài viết này, tôi thảo luận thêm một ví dụ nữa về một lĩnh vực nghiên cứu mà kinh tế học đang được áp dụng cho các vấn đề di sản văn hóa: đổi mới đô thị tại các nước đang phát triển. Ở các nước đang phát triển, các tài sản di sản văn hóa tập trung đáng kể tồn tại trong kết cấu kiến trúc truyền thống của các thị trấn và thành phố. Ai cũng biết rằng quá trình phát triển đô thị ở những quốc gia như vậy thường vòng tránh khu vực trung tâm, nơi mô hình đường phố, mạng lưới xã hội và các hoạt động truyền thống không thay đổi, có lẽ trong nhiều thế kỷ (Razzu 2005). Trong những trường hợp như vậy, hiện đại hóa và mở rộng đô thị đã diễn ra ở những nơi khác, do đó, phần lõi lịch sử bao gồm một tập hợp ít nhiều đồng nhất của cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Mặc dù chúng có thể được các nhà bảo tồn quan tâm, nhưng những phần lõi lịch sử này đôi khi đặt ra những vấn đề khó khăn cho các nhà quy hoạch đô thị, đặc biệt khi chiến lược phát triển của thành phố là tăng mật độ nhà ở nội thành và mở rộng đầu tư thương mại quy mô lớn. Trong những trường hợp này, con đường phát triển thiết thực và tiết kiệm chi phí nhất cho thành phố có thể là di dời cư dân của vùng trung tâm, phá bỏ các tòa nhà và thay thế chúng bằng các công trình hiện đại.

Mặt khác, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng một giải pháp thay thế khả thi cho việc phá dỡ có thể là phục hồi các tòa nhà di sản, nâng cấp cơ sở hạ tầng trong vùng lõi và cải thiện việc cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp và hộ gia đình địa phương (Rypkema 2013). Các trung tâm đô thị lịch sử, chẳng hạn như medinas các khu trung tâm và souks chợ búa ở nhiều thị trấn và thành phố thuộc Trung Đông và Bắc Phi, thường là mạng lưới liên kết của các ngành công nghiệp sáng tạo địa phương cung cấp hàng hóa và dịch vụ văn hóa cho cả cư dân và khách hàng, kể cả khách du lịch (Cernea 2001; Bigio và Licciardi 2010). Việc cải tạo vùng lõi cung cấp kích thích tố cho các ngành công nghiệp này, tạo thu nhập và việc làm cho người dân và doanh nghiệp địa phương. Hơn nữa, tài sản vốn văn hóa, cả vật thể và phi vật thể, đều rất quan trọng trong việc duy trì cấu trúc xã hội và văn hóa của cộng đồng (Steinberg 1996). Rõ ràng là sự gắn kết xã hội, sự tham gia của cộng đồng và sự phát triển vốn xã hội được tăng cường đáng kể trong môi trường đô thị thuộc lĩnh vực con người, phản ánh các giá trị văn hóa truyền thống và khuyến khích sự tham gia sáng tạo của người dân địa phương (Serageldin 1999; Bandarin và van Oers 2012; Rojas và Lanzafame 2011).

Chi tiêu công hoặc tư nhân cho bảo tồn di sản ở các thành phố và thị trấn ở bất kỳ quốc gia nào cũng có thể được coi là một dự án đầu tư, và do đó có thể định giá tiên chiêm (ex ante: trước khi xem thấy) hoặc hậu chiêm (ex post: sau khi xem thấy) khi sử dụng các phương pháp đánh giá đầu tư như phân tích chi phí-lợi ích. Về nguyên tắc, các phương pháp này liên quan đến việc tập hợp chi phí vốn của dự án, ước tính dòng lợi ích và chi phí được chiết khấu trong tương lai do dự án tạo ra và thể hiện kết quả dưới dạng thống kê như tỷ lệ chi phí lợi ích hoặc tỷ lệ phần trăm hoàn vốn đầu tư ban đầu. Các tính toán lý tưởng nên bao gồm đánh giá về bất kỳ tác động lan tỏa hoặc phi thị trường nào của dự án. Hơn nữa, bảo tồn di sản có thể được kỳ vọng sẽ có những tác động đáng kể về xã hội và văn hóa, và một số giải thích về những tác động này cũng nên được đưa vào phân tích. Tuy nhiên, khi các kỹ thuật này được áp dụng để đánh giá tác động kinh tế, xã hội và văn hóa của các chương trình phục hồi đô thị do di sản-dẫn dắt ở các nước đang phát triển, thì một số sửa đổi của các thủ tục thẩm định thông thường này như được sử dụng ở các nước phát triển là cần thiết. Quan trọng nhất, dữ liệu thường không có sẵn để ước tính chi tiết dòng thời gian của dự án về lợi ích và chi phí, và thậm chí chi phí vốn của dự án có thể khó xác định một cách chắc chắn do có nhiều nguồn tài chính có thể liên quan. Hơn nữa, một nghiên cứu định giá ngẫu nhiên nghiêm ngặt để đo lường các tác động phi thị trường có thể không thực hiện được do các nguồn lực cần thiết và các vấn đề trong việc xác định kích cỡ dân số khảo sát phù hợp.6

Trong những trường hợp này, một cách tiếp cận mang tính phương pháp luận có thể được áp dụng để duy trì khuôn khổ tổng thể được cung cấp bởi phân tích chi phí-lợi ích nhưng chỉ định lượng các thành phần khác nhau trong chừng mực dữ liệu cho phép. Thay vì đưa ra các ước tính chính xác về chi phí và lợi ích tài chính của dự án theo thời gian, cách tiếp cận như vậy có thể chỉ định một loạt các chỉ số kinh tế để nắm bắt một cách khái quát các tác động đối với cư dân, hộ gia đình và doanh nghiệp sống và hoạt động trong các khu vực bị ảnh hưởng, và tìm cách đo lường chúng thông qua các cuộc điều tra mẫu đối với các nhóm liên quan phù hợp. Nếu trung tâm thành phố lịch sử được khách du lịch đến thăm, thì chi tiêu của họ cũng có thể được tính vào đó. Hơn nữa, theo cách tiếp cận này, các công cụ khảo sát được sử dụng để thu thập dữ liệu về tác động kinh tế của việc đầu tư vào di sản ở các trung tâm lịch sử có thể được điều chỉnh để thu thập thông tin về các tác động xã hội và văn hóa của dự án. Ví dụ, một loạt câu hỏi về giá trị văn hóa được cảm nhận từ việc nâng cấp tài sản di sản có thể được đưa vào bảng câu hỏi và khả năng tác động có lợi đến sự gắn kết xã hội, chất lượng cuộc sống, v.v. do những cải thiện trong môi trường đô thị có thể cũng được điều tra. Mặc dù các quy trình này không có khả năng mang lại số liệu thống kê kết quả tiêu chuẩn của phân tích chi phí-lợi ích, chẳng hạn như tỷ lệ chi phí-lợi ích hoặc tỷ lệ hoàn vốn nội bộ, nhưng chúng có thể cung cấp một giải thích rộng hơn và theo một nghĩa nào đó phong phú hơn về các tác động tổng thể của các dự án đầu tư đô thị do di sản-dẫn dắt. Đặc biệt, có thể tập trung chú ý vào vai trò cụ thể của bảo tồn di sản trong việc tạo ra lợi ích kinh tế, xã hội và văn hóa cho cộng đồng.7

Kết luận

Có thể lập luận rằng một thách thức lớn đối với lĩnh vực bảo tồn di sản trong thế kỷ 21 là chứng minh sự liên quan của lĩnh vực này với xã hội hoặc các xã hội mà nó phục vụ. Sự phù hợp trong bối cảnh này có thể được đánh giá dựa trên tham chiếu đến các giá trị: Các giá trị mà hoạt động bảo tồn dựa vào có phù hợp với các giá trị xã hội không? Việc xem xét câu hỏi này đòi hỏi phải mở rộng bối cảnh trong đó thực hành bảo tồn được đánh giá, đưa vào các quan điểm từ các khoa học xã hội và nhân văn, nơi suy tư về các giá trị xã hội là mối quan tâm chính. Kinh tế học có thể đóng góp nhiều vào sự phản ánh này. Trong truyền thống lâu đời của kinh tế chính trị, các cuộc tranh luận về giá trị và định giá đã đóng một vai trò cơ bản. Các vấn đề đã được tiến hành trong thời hiện đại trong lĩnh vực kinh tế học di sản, đặc biệt quan tâm đến việc khám phá mối tương tác giữa các giá trị kinh tế và văn hóa trong lý thuyết và thực hành đánh giá di sản. Một loạt các phương pháp phát sinh từ nghiên cứu này đã được áp dụng vào các cuộc khảo sát về các giá trị kinh tế và văn hóa do một loạt các dự án bảo tồn thực tế mang lại. Việc ra quyết định trong lĩnh vực bảo tồn di sản rõ ràng liên quan đến các giá trị đa chiều đòi hỏi nhiều chuyên môn khác nhau. Ở đây, tôi hy vọng đã chỉ ra rằng các nhà kinh tế học có thể đóng góp điều gì đó vào việc hoạch định chính sách di sản dựa trên giá trị vượt xa một đánh giá đơn giản tập trung vào lợi nhuận tài chính hữu hình. Ngược lại, các phương pháp tiếp cận giá trị và định giá được phát triển bởi các nhà kinh tế di sản cho phép tích hợp phân tích kinh tế chính thức vào các khái niệm rộng hơn về giá trị xã hội mà việc bảo tồn di sản cần phải phục vụ. Bằng những phương tiện này, các nhà kinh tế có thể hỗ trợ xây dựng các chiến lược chính sách phản ánh chặt chẽ hơn các giá trị của xã hội nơi các chính sách phải được áp dụng một cách hiệu quả.

________________________________________________

Nguồn: Throsby, David (2019). Heritage Economics: Coming to Terms with Value and Valuation. In Book: Values in Heritage Management: Emerging Approaches and Research Directions, Edited by Erica Avrami, Susan Macdonald, Randall Mason, and David Myers. https://www.getty.edu/publications/heritagemanagement/part-two/14/

Notes

1. See Mason (1999) for a report on the meeting.

2. For overviews of the field see Mason (2005) and Benhamou (2011). For a discussion from a conservation perspective of the potential for dialogue between economics and conservation practice see Mason (2008).

3. Usage of the term “cultural capital” in this sense is now well established in cultural economics. It contrasts with the way the term “cultural capital” is used in sociology, where it refers to the cultural competencies or acquired cultural knowledge of an individual or group, following the writings of Pierre Bourdieu (1986). In economics, these competencies and knowledge would be seen as one component in an individual’s human capital (Becker 1964).

4. For explanation of these terms see for example Throsby (2001, 78–79).

5. Note that if resources are not available for a full stated-preference evaluation for a particular heritage site, the relevant nonuse values may be inferred by reference to a similar study elsewhere, using so-called benefit-transfer methods. See Tuan, Seenprachawong, and Navrud (2009); Ulibarri and Ulibarri (2010).

6. An exception is the comprehensive contingent valuation study carried out in relation to the rehabilitation of the medina in Fez, Morocco, in the early 1990s, undertaken by the World Bank. See Carson, Mitchell, and Conaway (2002).

7. For illustrations of the development of these methodologies in evaluating urban heritage investments in developing countries, see applications in Macedonia and Georgia (Throsby 2012) and in Jordan (Throsby and Petetskaya 2014). For an outline of the methods used, see Throsby (2016).

References

Alexandros, Apostolakis, and Shabbar Jaffry. 2005. “Stated Preferences for Two Cretan Heritage Attractions.” Annals of Tourism Research 32 (4): 985–1005.

Allen Consulting Group. 2005. Valuing the Priceless: The Value of Historic Heritage in Australia. Research Report 2. Sydney: Heritage Chairs and Officials of Australia and New Zealand.

Anatole-Gabriel, Isabelle, ed. 2016. La valeur patrimoniale des économies de terroir: volume constitué des actes du colloque international “La valeur patrimoniale des économies de terroir comme modèle de développement humain,” tenu au collège des Bernardins, les 18 et 19 février 2015 et organisé par l’association des Climats du vignoble de Bourgogne-patrimoine mondial. Collection Sociétés. Dijon, France: Éditions universitaires de Dijon.

Armbrecht, John. 2014. “Use Value of Cultural Experiences: A Comparison of Contingent Valuation and Travel Cost.” Tourism Management 42 (6): 141–48.

Bandarin, Francesco, and Ron van Oers. 2012. The Historic Urban Landscape: Managing Heritage in an Urban Century. Chichester, UK: Wiley-Blackwell.

Becker, Gary S. 1964. Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education. New York: National Bureau of Economic Research.

Bedate, Ana, Luis César Herrero, and José Ángel Sanz. 2004. “Economic Valuation of the Cultural Heritage: Application to Four Case Studies in Spain.” Journal of Cultural Heritage 5 (1): 101–11.

Benhamou, Françoise. 2011. “Heritage.” In A Handbook of Cultural Economics, edited by Ruth Towse, 255–62. Cheltenham, UK: Edward Elgar.

Bigio, Anthony G., and Guido Licciardi. 2010. The Urban Rehabilitation of Medinas: The World Bank Experience in the Middle East and North Africa. Urban Development Series Knowledge Papers 9. Washington, DC: World Bank.

Bourdieu, Pierre. 1986. “Forms of Capital.” In Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education, edited by John G. Richardson, 241–58. New York: Greenwood.

Cannon-Brookes, Peter. 1996. “Cultural-Economic Analysis of Art Museums: A British Curator’s Viewpoint.” In Economics of the Arts: Selected Essays, edited by Victor Ginsburgh and Pierre-Michel Menger, 255–77. Amsterdam: North-Holland.

Carson, Richard T., Robert C. Mitchell, and Michael B. Conaway. 2002. “Economic Benefits to Foreigners Visiting Morocco Accruing from the Rehabilitation of the Fes Medina.” In Valuing Cultural Heritage: Applying Environmental Valuation Techniques to Historic Buildings, Monuments and Artifacts, edited by Ståle Navrud and Richard C. Ready, 118–41. Cheltenham, UK: Edward Elgar.

Cernea, Michael M. 2001. Cultural Heritage and Development: A Framework for Action in the Middle East and North Africa. Washington, DC: World Bank.

Choi, Andy S., Brent W. Ritchie, Franco Papandrea, and Jeff Bennett. 2010. “Economic Valuation of Cultural Heritage Sites: A Choice Modeling Approach.” Tourism Management 31 (2): 213–20.

Choi, Jong-Deok. 2010. “The Palace, the City and the Past: Controversies Surrounding the Rebuilding of the Gyeongbok Palace in Seoul, 1990–2010.” Planning Perspectives 25 (2): 193–213.

Costanza, Robert, and Herman E. Daly. 1992. “Natural Capital and Sustainable Development.” Conservation Biology 6 (1): 37–46.

Cross, Robin, Andrew J. Plantinga, and Robert N. Stavins. 2011. “What Is the Value of Terroir?” American Economic Review 101 (3): 152–56.

Cuccia, Tiziana. 2011. “Contingent Valuation.” In A Handbook of Cultural Economics, edited by Ruth Towse, 90–99. Cheltenham, UK: Edward Elgar.

Douguet, Jean-Marc, and Martin O’Connor. 2003. “Maintaining the Integrity of the French Terroir: A Study of Critical Natural Capital in Its Cultural Context.” Ecological Economics 44 (2–3): 233–54.

El Serafy, Salah. 1991. “The Environment as Capital.” In Ecological Economics: The Science and Management of Sustainability, edited by Robert Costanza, 168–75. New York: Columbia University Press.

Hutter, Michael, and Ilde Rizzo, eds. 1997. Economic Perspectives on Cultural Heritage. London: Macmillan.

Jansson, AnnMari, Monica Hammer, Carl Folke, and Robert Costanza, eds. 1994. Investing in Natural Capital: The Ecological Economics Approach to Sustainability. Washington, DC: Island.

Licciardi, Guido, and Rana Amirtahmasebi, eds. 2012. The Economics of Uniqueness: Investing in Historic City Cores and Cultural Heritage Assets for Sustainable Development. Urban Development Series. Washington, DC: World Bank.

Mason, Randall, ed. 1999. Economics and Heritage Conservation: A Meeting Organized by the Getty Conservation Institute, December 1998, Getty Center, Los Angeles. Los Angeles: Getty Conservation Institute.

Mason, Randall. 2005. Economics and Historic Preservation: A Guide and Review of the Literature. Washington, DC: Brookings Institution.

Mason, Randall. 2008. “Be Interested and Beware: Joining Economic Valuation and Heritage Conservation.” International Journal of Heritage Studies 14 (4): 303–18.

Mazzanti, Massimiliano. 2003. “Valuing Cultural Heritage in a Multi-Attribute Framework Microeconomic Perspectives and Policy Implications.” Journal of Socio-Economics 32 (5): 549–69.

Moorhouse, John C., and Margaret Supplee Smith. 1994. “The Market for Residential Architecture: 19th Century Row Houses in Boston’s South End.” Journal of Urban Economics 35 (3): 267–77.

Navrud, Ståle, and Richard C. Ready, eds. 2002. Valuing Cultural Heritage: Applying Environmental Valuation Techniques to Historic Buildings, Monuments and Artifacts. Cheltenham, UK: Edward Elgar.

Peacock, Alan. 1995. “A Future for the Past: The Political Economy of Heritage.” Proceedings of the British Academy 87:189–243.

Razzu, Giovanni. 2005. “Urban Redevelopment, Cultural Heritage, Poverty and Redistribution: The Case of Old Accra and Adawso House.” Habitat International 29 (3): 399–419.

Rizzo, Ilde, and Anna Mignosa, eds. 2013. Handbook on the Economics of Cultural Heritage. Cheltenham, UK: Edward Elgar.

Rizzo, Ilde, and David Throsby. 2006. “Cultural Heritage: Economic Analysis and Public Policy.” In Handbook of the Economics of Art and Culture, edited by Victor A. Ginsburgh and David Throsby, 1:983–1016. Handbooks in Economics 25. Amsterdam: Elsevier (North-Holland).

Rizzo, Ilde, and Ruth Towse, eds. 2002. The Economics of Heritage: A Study of the Political Economy of Culture in Sicily. Cheltenham, UK: Edward Elgar.

Rojas, Eduardo, and Francesco Lanzafame, eds. 2011. City Development: Experiences in the Preservation of Ten World Heritage Sites. Washington, DC: Inter-American Development Bank.

Rypkema, Donovan. 2013. “Heritage Conservation and Property Values.” In The Economics of Uniqueness: Investing in Historic City Cores and Cultural Heritage Assets for Sustainable Development, edited by Guido Licciardi and Rana Amirtahmasebi, 107–42. Urban Development Series. Washington, DC: World Bank.

Schuster, J. Mark, John de Moncheaux, and Charles A. Riley II, eds. 1997. Preserving the Built Heritage: Tools for Implementation. Salzburg Seminar. Hanover, NH: University Press of New England.

Serageldin, Ismail. 1999. Very Special Places: The Architecture and Economics of Intervening in Historic Cities. Washington, DC: World Bank.

Steinberg, Florian. 1996. “Conservation and Rehabilitation of Urban Heritage in Developing Countries.” Habitat International 20 (3): 463–75.

Teutonico, Jeanne Marie, and Frank Matero, eds. 2003. Managing Change: Sustainable Approaches to the Conservation of the Built Environment: 4th Annual US/ICOMOS International Symposium Organized by US/ICOMOS, Program in Historic Preservation of the University of Pennsylvania, and the Getty Conservation Institute, Philadelphia, Pennsylvania, April 2001. Los Angeles: Getty Conservation Institute.

Throsby, David. 1999. “Cultural Capital.” Journal of Cultural Economics 23 (1/2): 3–12.

Throsby, David. 2001. Economics and Culture. Cambridge, UK: Cambridge University Press.

Throsby, David. 2012. Investment in Urban Heritage: Economic Impacts of Cultural Heritage Projects in FYR Macedonia and Georgia. Urban Development Series Knowledge Papers 16. Washington, DC: World Bank.

Throsby, David. 2016. “Investment in Urban Heritage Conservation in Developing Countries: Concepts, Methods and Data.” City, Culture and Society 7 (2): 81–86.

Throsby, David. 2017. “Culturally Sustainable Development: Theoretical Concept or Practical Policy Instrument?” International Journal of Cultural Policy 23 (2): 133–47.

Throsby, David, and Ekaterina Petetskaya. 2014. The Economic Impacts of World Bank Heritage Investments in Jordan. Washington, DC: World Bank.

Tuan, Tran Huu, and Ståle Navrud. 2008. “Capturing the Benefits of Preserving Cultural Heritage.” Journal of Cultural Heritage 9 (3): 326–37.

Tuan, Tran Huu, Udomsak Seenprachawong, and Ståle Navrud. 2009. “Comparing Cultural Heritage Values in South East Asia: Possibilities and Difficulties in Cross-Country Transfers of Economic Values.” Journal of Cultural Heritage 10 (1): 9–21.

Ulibarri, Carlos A., and Victor C. Ulibarri. 2010. “Benefit-Transfer Valuation of a Cultural Heritage Site: The Petroglyph National Monument.” Environment and Development Economics 15 (1): 39–57.

Willis, Kenneth G. 2009. “Assessing Visitor Preferences in the Management of Archaeological and Heritage Attractions: A Case Study of Hadrian’s Roman Wall.” International Journal of Tourism Research 11 (5): 487–505.

World Commission on Environment and Development. 1987. Our Common Future. Oxford and New York: Oxford University Press

 

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2023

Man Bách Việt và Di Hải đảo Đông Nam Trung Quốc Cổ đại (Phần I)

Ngô Xuân Minh

Người dịch: Hà Hữu Nga

Chương 1. “Trung quốc – Tứ phương Tứ hải Man di”: Trật tự Địa chính trị Đại lục – Hải đảo của Văn minh Trung Hoa sơ khai

[Tr.3] Mặc dù là một quốc gia ven biển nằm ở phía tây Thái Bình Dương, Trung Quốc cổ đại về bản chất có một mô thức văn hóa lục địa, với tầm nhìn hướng về đất liền, và trật tự địa chính trị của các tương tác đất-biển của nền văn minh cổ đại lấy Đồng bằng Trung Nguyên (中原) làm trung tâm thuộc trung và hạ lưu sông Hoàng Hà và được bao quanh bởi “Tứ Phương Man Di” (四方蠻夷) trong “Tứ Hải” (四海). Tuy nhiên, các “man dân” trên biển ngoại vi là Di ( Yi), Việt ( Yue) và Phiên ( Fan) đã hoạt động và phát triển dọc theo bờ biển phía đông nam của Trung Quốc ở rìa của “Tứ phương” này. Ở đây, về mặt khách quan, họ đã đóng một vai trò quan trọng và không thể thiếu trong lịch sử cổ đại của nền văn minh Trung Hoa, từ truyền thống đi biển bản địa “thạo dùng thuyền” trong thời kỳ tiền sử và sơ sử cho đến “Con đường tơ lụa trên biển” thời trung cổ và lịch sử muộn thuộc các triều đại từ Hán () đến Đường (). Văn hóa hàng hải ngoại biên của bờ biển phía đông nam Trung Quốc đại diện cho phần chính của lịch sử hàng hải Đông Á cổ đại, đã tiến hóa và phát triển dọc theo “Hào rãnh Bốn biển” (四海為壑 Tứ hải vi hác) trong trật tự địa chính trị đất-biển của nền văn minh Trung Quốc cổ đại. Trong lịch sử so sánh giữa thế giới phương Đông và phương Tây, văn hóa hàng hải phương Đông cổ đại phát triển trong “Hào rãnh Bốn biển” này ở ngoại vi của nền văn minh Trung Quốc cổ đại nói chung khác với văn hóa hàng hải phương Tây phát sinh ở Địa Trung Hải và phát triển thành một trung tâm truyền bá đa văn hóa của nền văn minh phương Tây.

1.1 Mô thức Văn hóa Lục địa của một “Trung quốc” với Phiên thuộc “Tứ phương” và “trong Tứ hải” của Lịch sử Văn minh Đông Á

[Tr.4] Cả các khu vực đất liền và vùng biển đều đóng vai trò là không gian quan trọng cho các hoạt động của con người trong lịch sử lâu dài của thế giới. Các phát hiện khảo cổ học ở phương Đông và phương Tây chứng minh rằng con người đã tích cực tham gia vào các hoạt động hàng hải trong hàng nghìn năm từ thời tiền sử trong suốt thời sơ sử, dẫn đến hai hoạt động kinh tế và xã hội khác nhau trên đất liền và trên biển tương ứng. Do đó, cả đặc tính lục địa và đại dương đều là nội hàm kép vốn có của văn hóa nhân loại. Tuy nhiên, đất liền và biển đóng vai trò khác nhau trong lịch sử khu vực của loài người, đặc biệt là trong nguồn gốc của các nền văn minh sơ khai của phương Đông và phương Tây.

Dù sao đi nữa, mô thức thông thường của lịch sử loài người cũng cho thấy rằng những vùng đất trên các đồng bằng màu mỡ của một vài con sông lớn ở Cựu Thế giới có tầm quan trọng then chốt đối với nguồn gốc và sự phát triển của các vương quốc và nền văn minh cổ điển sớm nhất. Sự xuất hiện và diễn tiến của các nền văn minh sớm nhất của các vương quốc và quốc gia ở cả phương Đông và phương Tây đều có quan hệ mật thiết với các con sông lớn, chẳng hạn như sông Tigris, sông Euphrates, sông Nile, sông Hằng, sông Hoàng Hà và sông Dương Tử. Các yếu tố văn hóa và môi trường trên cạn thiết yếu, bao gồm các đồng bằng phù sa rộng lớn ở trung và hạ lưu các con sông này, đất đai màu mỡ và canh tác nông nghiệp phát triển, sự tăng trưởng của các cư dân định cư, quá trình tích lũy của cải của các xã hội, v.v., tất cả đã tạo thành cơ sở cho các vương quốc sơ khai ở những vùng này. Kiểm soát lãnh thổ đất đai, cạnh tranh và xung đột về nguồn nước tưới tiêu, phân tầng và tập trung hóa trong các xã hội nông nghiệp, tất cả đều làm tăng tính phức tạp xã hội ở những vùng đất màu mỡ ôn hòa này của Cựu Thế giới. Chính trên những đồng bằng phù sa màu mỡ này, các vương quốc sớm nhất, chẳng hạn như Babylon cổ đại, Ai Cập cổ đại, Ấn Độ cổ đại và nhà Hạ (), nhà Thương () của Trung Quốc sơ khai, đã được hình thành và ra đời. “Ở những khu vực này, các Vương quốc rộng lớn đã hình thành và nền tảng của các quốc gia vĩ đại bắt đầu” (Hegel, G.W.F. 2001: 107).

Nền văn minh sớm của Trung Quốc cũng bắt nguồn từ đồng bằng phù sa lớn nhất tập trung ở trung và hạ lưu sông Hoàng Hà ở nội địa lục địa Đông Á, nổi tiếng là “Trung tâm Thế giới” (天下之中 Thiên hạ chi trung), vùng “Trung nguyên” và “Đại hà địa” (大河之上 Đại hà chi thượng) được ghi chép trong các tài liệu lịch sử cổ đại của Trung Quốc, từng là những vùng canh tác lý tưởng về mặt địa lý và môi trường để phát triển trồng trọt ngũ cốc. Lục địa Đông Á có trung tâm là vùng “Trung nguyên” này là một môi trường địa lý nội địa và nửa kín có hình dạng tự nhiên, không chỉ được bao quanh bởi các sa mạc, cao nguyên và núi lớn đóng vai trò là rào cản tự nhiên, mà còn ngăn cách với các quốc gia bên ngoài bởi đại dương mênh mông. “Bản thân Trung Quốc là một đơn vị địa lý khổng lồ, tương đối cô lập hoặc bán cô lập với thế giới bên ngoài.” “Quê hương của dân tộc Trung Hoa nằm trên lục địa rộng lớn ở Đông Á, trải dài từ cao nguyên Pamir ở phía tây, đại sa mạc ở phía bắc và núi non trùng điệp vùng tây nam, đến biển lớn và các đảo đại dương ở phía đông và đông nam tiếp giáp với Thái Bình Dương bao la. Những rào cản [tr.5] tự nhiên này của đồi núi và đại dương bao quanh đại lục tạo ra đơn vị địa lý nội địa và tương đối độc lập với một hệ thống có cấu trúc chặt chẽ bên trong” (Yan, W.M. 1987; Fei, X.T. 1989). Vùng nội địa tương đối độc lập với núi non, sa mạc và đại dương ấy được phân định là “Thế giới”, “Gầm trời” (天下 Thiên hạ), “Tứ hải” (四海), “Nội hải” (海内) trong tầm nhìn địa lý quốc gia Trung Quốc sơ khai của người Hoa Hạ (華夏) và người Hán ( Hán) trong các tài liệu lịch sử của họ.

Chương “Phi công” (非攻) trong Sách Mặc Tử (墨子) viết: 一天下之和,總四海之 Nhất thiên hạ chi hòa, tổng tứ hải chi nội “Một thiên hạ hòa hợp, tất cả trong bốn biển” (Mo, D. et al. 2001: 105). Chương “Bất cẩu” (不苟) trong Sách Tuân Tử (荀子) viết về người quân tử: 推禮義之統,分是非之分,總天下之要,治海眾.Thôi lễ nghĩa chi thống, phân thị phi chi phân, tổng thiên hạ chi yếu, trị hải nội chi chúng. Thúc đẩy lễ nghĩa thống trị, phân biệt rạch ròi phải trái, cốt yếu là nắm lấy thiên hạ, sửa trị chúng dân trong bốn biển. (Xun , K. và cộng sự 1995: 40). [Chương “Vương chế” (王制) trong Lễ ký (禮記) viết: 凡四海之九州,州方千里。州,建百里之國三十,七十里之國六十,五十里之國百有二十,凡二百一十國;名山大澤不以封,其餘以為附庸間田。八州,州二百一十國。天子之縣內,方百里之國九,七十里之國二十有一,五十里之國六十有三,凡九十三國;名山大澤不以封,其餘以祿士,以為間田。凡九州,千七百七十三國。天子之元士,諸侯之附庸不與Phiên: Phàm tứ hải chi nội cửu châu, châu phương thiên lí. Châu, kiến bách lí chi quốc tam thập, thất thập lí chi quốc lục thập, ngũ thập lí chi quốc bách hữu nhị thập, phàm nhị bách nhất thập quốc; danh sơn đại trạch bất dĩ phong, kì dư dĩ vi phụ dung gian điền. Bát châu, châu nhị bách nhất thập quốc. Thiên tử chi huyện nội, phương bách lí chi quốc cửu, thất thập lí chi quốc nhị thập hữu nhất, ngũ thập lí chi quốc lục thập hữu tam, phàm cửu thập tam quốc; danh sơn đại trạch bất dĩ phong, kì dư dĩ lộc sĩ, dĩ vi gian điền. Phàm cửu châu, thiên thất bách thất thập tam quốc. Thiên tử chi nguyên sĩ, chư hầu chi phụ dung bất dữ. Dịch: Tổng cộng có 9 châu nằm trong bốn biển, mỗi châu dọc ngang ngàn dặm. Một châu có 30 nước dọc ngang trăm dặm, 60 nước dọc ngang 70 dặm, 120 nước dọc ngang 50 dặm, cả thảy có 210 nước. Tám châu còn lại, mỗi châu có 210 nước. Trong địa hạt của Thiên tử, có 9 nước dọc ngang trăm dặm, 21 nước dọc ngang bảy mươi dặm, 63 nước dọc ngang 50 dặm, tổng cộng là 93 nước; núi thiêng đầm lớn không được phép phân phong, còn lại làm lộc cho tầng lớp sĩ, làm ruộng rẫy. Cả thảy 9 châu có 1773 nước. Thiên tử xưng Nguyên sĩ, Chư hầu là Phụ thuộc, không đồng hàng.HHN] Chương “Phường ký” 坊記 trong cùng cuốn sách viết: 子云:「孝以事君,弟以事長」,示民不貳也,故君子有君不謀仕,唯卜之日稱二君。喪父三年,喪君三年,示民不疑也。父母在,不敢有其身,不敢私其財,示民有上下也。故天子四海之無客禮,莫敢為主焉。故君適其臣,升自阼階,即位於堂,示民不敢有其室也。父母在,饋獻不及車馬,示民不敢專也。以此坊民,民猶忘其親而貳其君Phiên: Tử vân: [hiếu dĩ sự quân, đễ dĩ sự trưởng], thị dân bất nhị dã, cố quân tử hữu quân bất mưu sĩ, duy bốc chi nhật xưng nhị quân. Tang phụ tam niên, tang quân tam niên, thị dân bất nghi dã. Phụ mẫu tại, bất cảm hữu kì thân, bất cảm tư kì tài, thị dân hữu thượng hạ dã. Cố thiên tử tứ hải chi nội vô khách lễ, mạc cảm vi chủ yên. Dịch: Lễ ký, Phường ký: Tử viết: “Đạo hiếu thờ vua chúa, đạo đễ kính trưởng thượng”, dạy cho chúng dân không được làm trái vậy, cho nên kẻ quân tử thờ vua không cầu quan tước, chỉ được gọi là nhị quân vào ngày xem quẻ [忠臣不事二君trung thần bất sự nhị quân – tôi trung không thờ hai chúa]. Để tang cha ba năm, để tang vua ba năm, dạy cho chúng dân không được nghi hoặc vậy. Cha mẹ còn, không dám nghĩ đến bản thân, không dám tư lợi của cải, dạy cho chúng dân biết trên dưới vậy. Vậy nên, Thiên tử trong bốn biển cư xử phải đúng lễ nghi, không được ra vẻ chủ tớ vậy.  HHN] (Ruan, Y. 2009: 2916–2917, 3518). Luận ngữ (論語), Nhan Uyên Chương XII (顏淵,第十二) viết: 論語·顏淵第十二: 司馬牛憂曰:「人皆有兄弟,我獨亡。」子夏曰:「商聞之矣:死生有命,富貴在天。君子敬而無失,與人恭而有禮。四海之,皆兄弟也。君子何患乎無兄弟也? Phiên: Tư mã Ngưu ưu viết: nhân giai hữu huynh đệ, ngã độc vô. Tử Hạ viết: Thương văn chi hĩ: tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên. Quân tử kính nhi vô thất, dữ nhân cung nhi hữu lễ. Tứ hải chi nội, giai huynh đệ dã. Quân tử hà hoạn hồ vô huynh đệ dã? Dịch: Tư Mã Ngưu buồn rầu nói: người ta đều có anh em, tôi thì không. Tử Hạ nói: Thương tôi từng nghe: sống chết có mệnh, sang giàu ở trời. Kẻ quân tử kính trọng không sơ lầm, đối với người thì khiêm cung lễ nghĩa. Người ta trong bốn biển đều anh em cả. Vậy thì hà cớ kẻ quân tử lo buồn không huynh đệ. [HHN], (Ruan, Y. 2009: 5436)

Sách 淮南子(Hoài Nam tử), 地形訓 (Địa hình huấn): 闔四海之,東西二萬八千里,南北二萬六千里,水道八千里,通穀其名川六百,陸徑三千里。禹乃使太章步自東極,至於西極,二億三萬三千五百里七十五步。使豎亥步自北極,至於南極,二億三萬三千五百里七十五步。凡鴻水淵藪,自三百仞以上,二億三萬三千五百五十里,有九淵Phiên: Hạp tứ hải chi nội, đông tây nhị vạn bát thiên lí, nam bắc nhị vạn lục thiên lí, thủy đạo bát thiên lí, thông cốc kì danh xuyên lục bách, lục kính tam thiên lí. Vũ nãi sử thái chương bộ tự đông cực, chí ư tây cực, nhị ức tam vạn tam thiên ngũ bách lí thất thập ngũ bộ. Sử thụ hợi bộ tự bắc cực, chí ư nam cực, nhị ức tam vạn tam thiên ngũ bách lí thất thập ngũ bộ. Phàm hồng thủy uyên tẩu, tự tam bách nhận dĩ thượng, nhị ức tam vạn tam thiên ngũ bách ngũ thập lí, hữu cửu uyên. Dịch: Toàn bộ trong bốn biển, đông tây 2.8000 dặm, bắc nam 2.6000 dặm, đường biển 8000 dặm, đường sông hẻm núi 600 dặm, đường bộ 3000 dặm. Vì vậy vua Vũ sai bề tôi Thái Chương đi bộ từ cực đông sang cực tây tất cả là 2 ức (1 ức = 100 triệu) 3 vạn 3 nghìn và 5 trăm dặm và 75 bộ. Lại sai Thụ Hợi đi bộ từ cực bắc xuống cực nam là 2 ức 3 vạn 3 nghìn 5 trăm dặm và 75 bộ. Tổng cộng vực sâu đầm lớn, trong vòng 2 ức 3 vạn 3 nghìn 5 trăm 50 dặm có chín vực thẳm cao 3 trăm nhận (mỗi nhận = 8 thước). 覽冥訓 (Lãm minh huấn): 往古之時,四極廢,九州裂,天不兼覆,地不周載,炎而不滅,水浩洋而不息,猛獸食顓民,鷙鳥攫老弱,於是女媧煉五色石以補蒼天,斷鼇足以立四極。殺黑龍以濟冀州,積蘆灰以止淫水。蒼天補,四極正,淫水涸,冀州平,狡蟲死,顓民生Phiên: vãng cổ chi thì, tứ cực phế, cửu châu liệt, thiên bất kiêm phúc, địa bất chu tái, hỏa lãm viêm nhi bất diệt, thủy hạo dương nhi bất tức, mãnh thú thực chuyên dân, chí điểu quặc lão nhược, ư thị Nữ Oa luyện ngũ sắc thạch dĩ bổ Thương Thiên, đoạn Ngao túc dĩ lập tứ cực. Sát hắc long dĩ tế Ký châu, tích lô hôi dĩ chỉ dâm thủy. Thương Thiên bổ, tứ cực chính, dâm thủy hạc, Ký châu bình, giảo trùng tử, chuyên dân sinh. Dịch: Vào thời Thái cổ, bốn trụ trời sụp đổ, chín châu ly tán, trời không còn che, đất không còn chở, lửa thiêu hầm hập không dứt, nước dâng cuồn cuộn chẳng ngừng, mãnh thú ăn thịt dân đen, ác điểu rỉa xác kẻ già yếu. Vì vậy, Nữ Oa đã luyện đá ngũ sắc để vá trời, chặt chân Thần Ngao làm đủ bốn cột trụ Trời. Giết Rồng Đen cứu Ký Châu, gom tro lau làm đê ngăn lũ. Trời xanh lại dựng, lũ lớn lùi xa, Ký Châu thái hòa, muông hung thú tợn chết, dân lành sinh sôi. [HHN], (Liu, A. et al. 2010: 65, 92).

Cũng có một số kinh điển đề cập đến “tứ hải”, không rõ ràng đề cập đến “trong” biển hay “bên ngoài” biển, nhưng ngữ cảnh ngữ nghĩa của chúng có thể được hiểu là ý nghĩa của nội địa “trong bốn biển”. ”. Bài Huyền điểu (玄鳥) trong Thi kinh (詩經) viết: [天命玄鳥,降而生商,宅殷土芒芒。古帝命武湯,正域彼四方。方命厥后,奄有九有。商之先後,受命不殆,在武丁孫子。Phiên: Thiên mệnh huyền điểu, Hàng nhi sinh Thương, Trạch Ân thổ mang mang. Cổ đế mệnh Vũ Thang, Chánh vực bỉ tứ phương. Phương mệnh quyết hậu, Yểm hữu cửu hữu. Thương chi tiên hậu, Thụ mệnh bất đãi, Tại Vũ Đinh tôn tử. Dịch: Trời cho Thần Nhạn, Hạ sinh nhà Thương, Đất đai mênh mang. Xưa Trời lệnh Vũ Thang, Chỉnh trị cả bốn phương. Chư hầu phục mệnh, Hết thảy chín châu. Dòng dõi nhà Thương, Vững vàng thụ mệnh, Truyền lại Vũ Đinh...HHN] (Ruan, Y. 2009: 1344). Chương 離婁上 Ly Lâu Thượng: 孟子曰:「離婁之明,公輸子之巧,不以規矩,不能成方員。師曠之聰,不以六律,不能正五音。堯舜之道,不以仁政,不能賓士天下Phiên: Mạnh tử viết: Ly Lâu chi minh, Công Thâu tử chi xảo, bất dĩ quy củ, bất năng thành phương viên. Sư Khoáng chi thông, bất dĩ lục luật, bất năng chính ngũ âm; Nghiêu Thuấn chi đạo, bất dĩ nhân chính, bất năng bình trị thiên hạ. Dịch: Mạnh tử nói: Ly Lâu minh bạch [Li Lâu, người đời Hoàng Đế, tương truyền có thể nhìn xa hơn trăm bước, thấy cả sợi lông thú mới mọc mùa thu. Vì thế, 離婁之明 Li Lâu chi minh dùng để tỉ dụ sức nhìn cực tốt. HHN], Công Thâu (Lỗ Ban) tinh xảo, nhưng chẳng dùng khuôn tròn thước vuông, thì chẳng dựng nên được vuông tròn. Quan nhạc sư Khoáng là người thính sáng, nếu không dùng sáu cặp (âm dương) âm luật [gồm 12 đơn vị: 黃鐘 (hoàng chung),大呂 (đại lữ), (thái thốc),夾鍾 (giáp chung),姑洗 (cô tẩy),中呂 (trung lữ),蕤賓 (nhuy tân),林鍾 (lâm chung),夷則 (di tắc),南呂 (nam lữ),無射 (vô xạ),應鐘 (ứng chung) HHN], thì cũng chẳng định được ngũ âm (,,,, cung, thương, giốc, chủy, vũ). Đạo vua Nghiêu vua Thuấn nếu không có lòng nhân thì cũng không làm cho thiên hạ thái bình. HHN]. Sách Ly Lâu: 離婁上•第三章,孟子曰: 三代之得天下也以仁,其失天下也以不仁。國之所以廢興存亡者亦然。天子不仁,不保四海;諸侯不仁,不保社稷;卿大夫不仁,不保宗廟;士庶人不仁,不保四體。今惡死亡而樂不仁,是猶惡醉而強酒Phiên: Ly Lâu thượng, đệ tam chương Mạnh Tử viết: Tam đại chi đắc thiên hạ dã dĩ nhân, kì thất thiên hạ dã dĩ bất nhân. Quốc chi sở dĩ phế hưng tồn vong giả diệc nhiên. Thiên tử bất nhân, bất bảo tứ hải; chư hầu bất nhân, bất bảo xã tắc; khanh đại phu bất nhân, bất bảo tông miếu; sĩ thứ nhân bất nhân, bất bảo tứ thể. Kim ác tử vong nhi nhạc bất nhân, thị do ác túy nhi cường tửu. Dịch: Mạnh tử nói: Đời Tam đại (Hạ, Thương, Chu của các vua Vũ, Thang, Văn, Võ) có được thiên hạ là vì có lòng nhân, mất thiên hạ (các vua Kiệt, Trụ, U, Lệ) là vì bất nhân. Nước chư hầu hưng hay phế, còn hay mất cũng hệt như vậy. Thiên tử mà bất nhân thì chẳng giữ được bốn biển; chư hầu bất nhân thì không gìn được xã tắc; quan khanh đại phu mà bất nhân thì mất tông miếu, kẻ sĩ, thứ dân bất nhân thì ngay đến thân thể cũng khó vẹn nguyên. Nay thù ghét mất chết mà vui thú điều bất nhân thì khác nào thù ghét mê lả mà rượu vẫn nốc tràn. HHN] (Ruan, Y. 2009: 5912). Thiên Đại Vũ mô (大禹謨) sách Thượng thư (尚書) nói: [曰若稽古,大禹曰文命,敷於四海,祗承於帝。曰:克艱厥,臣克艱厥臣,政乃乂,黎民敏德Phiên: Viết nhược kê cổ, Đại Vũ viết Văn Mệnh (tên chữ của Đại Vũ), phu ư tứ hải, chi thừa ư đế. Viết: “Hậu khắc gian quyết hậu, thần khắc gian quyết thần, chính nãi nghệ, lê dân mẫn đức.” Dịch: Tích xưa kể rằng Đại Vũ tự Văn Mệnh trị vì cả bốn biển kính phục mệnh Trời. Lại nói: “Vua vượt khó phận vua, tôi vượt khó phận tôi, việc cai trị cậy ở người tài, dân đen cũng theo đòi đức hạnh”. HHN], (Ruan, Y. 2009: 282–283, 286).

Thiên Vũ cống (禹貢) trong sách Thượng thư (尚書) viết: 禹別九州,隨山濬川,任土作貢。禹敷土, 隨山刊木,奠高山大川Phiên: Vũ biệt cửu châu, tùy sơn tuấn xuyên, nhậm thổ tác cống. Vũ phu thổ, tùy sơn khan mộc, điện cao sơn đại xuyên. Dịch: Vua Vũ chia đất đai làm chín châu, theo thế núi khơi sông, dùng đất ban phong. Vua Vũ phân đất đai thành bờ cõi, theo thế núi mà chặt cây, đặt định cúng tế núi cao sông lớn. HHN], (Ruan, Y. 2009: 320). Chương “Lễ khí” (禮器) của sách Lễ ký nói: 大饗其王事與!三牲魚臘,四海九州之美味也;籩豆之薦,四時之和氣也。,示和也。束帛加璧,尊德也。龜為前列,先知也。金次之,見情也。丹漆絲纊竹箭,與眾共財也。其餘無常貨,各以其國之所有,則致遠物也。其出也,肆夏而送之,蓋重禮也。Phiên: Đại hưởng kì vương sự dữ! tam sinh ngư lạp, tứ hải cửu châu chi mĩ vị dã; biên đậu chi tiến, tứ thì chi hòa khí dã. Nội kim, thị hòa dã. Thúc bạch gia bích, tôn đức dã. Quy vi tiền liệt, tiên tri dã. Kim thứ chi, kiến tình dã. Đan tất ti khoáng trúc tiễn, dữ chúng cộng tài dã. Kì dư vô thường hóa, các dĩ kì quốc chi sở hữu, tắc trí viễn vật dã. Kì xuất dã, tứ hạ nhi tống chi, cái trọng lễ dã. Dịch: Đại tế tiệc là do Thiên tử cử hành! Ba tế vật (bò, dê, lợn), ngư lạp (cá khô) là mĩ vị (món hiếm quý) của chín châu bốn biển vậy; các giỏ lễ vật là hòa khí của bốn mùa vậy. Nội kim (vàng, bạc, đồng) biểu thị hòa thuận vậy! Bó lụa thêm ngọc bích chỉ cho đức hạnh cao quý vậy. Rùa là hàng đầu, vì biết trước sự việc vậy! Vàng là thứ hai, để tỏ rõ chân tình vậy. Đan sa, sơn then, tơ tằm, sợi bông, mũi tên tre tất cả cũng là cống vật vậy. Ngoài ra còn là những hóa vật khác nhau, mà mỗi thứ đều do mỗi nước chư hầu dâng cống, suy cho cùng đều là tài vật từ các vùng xa xôi vậy. Khi sứ bộ ra về bèn cử khúc Tứ Hạ mà đưa tiễn, đại để là lễ trọng vậy. [HHN], (Ruan, Y. 2009: 3122).

Thiên Thục Chân huấn (俶真訓) trong sách Hoài Nam tử (淮南子) viết: 夫曆陽之都,一夕反而為湖,勇力聖知與疲怯不肖者同命,巫山之上,順風縱火,膏夏紫芝與蕭艾俱死。故河魚不得明目,稚稼不得育時,其所生者然也。故世治則愚者不能獨亂,世亂則智者不能獨治。身蹈於濁世之中,而責道之不行也,是猶兩絆騏驥,而求其致千里也。置猿檻中,則與豚同,非不巧捷也,無所肆其能也。舜之耕陶也,不能利其里;南面王,則德施乎四海Phiên: Phù Lịch Dương chi đô, nhất tịch phản nhi vi hồ, dũng lực thánh tri dữ bì khiếp bất tiếu giả đồng mệnh, vu sơn chi thượng, thuận phong túng hỏa, cao hạ tử chi dữ tiêu ngải câu tử. Cố hà ngư bất đắc minh mục, trĩ giá bất đắc dục thì, kì sở sinh giả nhiên dã. Cố thế trị tắc ngu giả bất năng độc loạn, thế loạn tắc trí giả bất năng độc trị. Thân đạo ư trọc thế chi trung, nhi trách đạo chi bất hành dã, thị do lưỡng bán kì kí, nhi cầu kì trí thiên lí dã. Trí viên hạm trung, tắc dữ đồn đồng, phi bất xảo tiệp dã, vô sở tứ kì năng dã. Thuấn chi canh đào dã, bất năng lợi kì lí; nam diện vương, tắc đức thi hồ tứ hải. Dịch: Ôi! Kinh đô Lịch Dương qua một đêm bỗng biến thành hồ, bậc thánh nhân thông tuệ dũng lược cùng lũ hèn đớn bất tài đều chung số phận; trên núi Vu Sơn gió réo lửa bùng, cả cây to cáo hạ, mụn nấm linh chi, lẫn lùm tiêu ngải thảy đều chết cháy. Vì vậy, khi cá sông không thể nhìn xa, và cây giống kém phần sinh trưởng, thì cha mẹ của chúng cũng vậy. Do đó, khi thời thế bình trị thì kẻ ngu không thể tự mình làm loạn, và nếu thời thế tao loạn thì người ngoan đâu dám bình trị một mình. Thân quẫy trong thời loạn mà trách đạo không được thực hành, chẳng khác nào kìm cương tuấn mã cứ đòi nó phải phi ngàn dặm vậy. Con vượn bị nhốt vào cũi cũng chẳng hơn gì con heo sữa, sao linh lợi được vậy, đâu thể khuyếch trương được năng lực của nó vậy. Đế Thuấn mà cũng tự cày ruộng làm gốm đấy, nhưng đâu có ích lợi gì cho quê hương của Ngài; bậc đế vương yên vị quay mặt về phương Nam, noi theo đức mà trị bình bốn biển. [HHN], (Ruan, Y. 2009: 3122).

Thiên Lãm Minh huấn (覽冥訓) trong sách Hoài Nam tử (淮南子) viết: 覽冥訓:逮至當今之時,天子在上位,持以道德,輔以仁義,近者獻其智,遠者懷其德,拱揖指麾而四海賓服,春秋冬夏皆獻其貢職,天下混而為一,子孫相代,此五帝之所以迎天德也。夫聖人者,不能生時,時至而弗失也。輔佐有能,黜讒佞之端,息巧辯之說,除刻削之法,去煩苛之事,屏流言之跡,塞朋黨之門,消知能,修太常,隳肢體,絀聰明,大通混冥,解意釋神,漠然若無魂魄,使萬物各復歸其根,則是所修伏犧氏之跡,而反五帝之道也。Phiên: Lãm Minh huấn: Đãi chí đương kim chi thì, thiên tử tại thượng vị, trì dĩ đạo đức, phụ dĩ nhân nghĩa, cận giả hiến kì trí, viễn giả hoài kì đức, củng ấp chỉ huy nhi tứ hải tân phục, xuân thu đông hạ giai hiến kì cống chức, thiên hạ hỗn nhi vi nhất, tử tôn tương đại, thử ngũ đế chi sở dĩ nghênh thiên đức dã. Phù thánh nhân giả, bất năng sanh thì, thì chí nhi phất thất dã. Phụ tá hữu năng, truất sàm nịnh chi đoan, tức xảo biện chi thuyết, trừ khắc tước chi pháp, khứ phiền hà chi sự, bính lưu ngôn chi tích, tắc bằng đảng chi môn, tiêu tri năng, tu thái thường, huy chi thể, truất thông minh, đại thông hỗn minh, giải ý thích thần, mạc nhiên nhược vô hồn phách, sử vạn vật các phục quy kì căn, tắc thị sở tu phục hi thị chi tích, nhi phản ngũ đế chi đạo dã. Dịch: Cho đến nay, Thiên tử ở ngôi tôn, đề cao đạo đức, bổ sung nhân nghĩa, người gần hiến trí, kẻ xa mến đức, chắp tay cung kính chỉ huy mà bốn biển vẫn tòng phục, xuân hạ thu đông thảy đều cống nạp, thiên hạ hỗn độn mà vẫn dung hợp làm một, con cháu đời đời trị vì, ngũ đế sở dĩ được ban thiên đức cũng nhờ đó vậy. Ôi! kẻ thánh nhân không thể sinh ra thời thế, nhưng dựa vào thời thế mà trừ bỏ vậy. Kẻ phò tá có tài, trừ mầm mống sàm nịnh, dứt xảo biện ngoa ngôn, loại hình luật khắc nghiệt, bỏ chính sự phiền hà, ngăn đồn thổi vô cớ, chặn cánh cửa bè phái, diệt trí năng, dưỡng nghi lễ, hủy thân thể, vứt thông minh, khơi tăm tối, cởi ý, mở thần, bơ thờ không hồn phách, để vạn vật trở về nguồn chính là chỉnh trị công nghiệp dòng dõi Phục Hy, trái ngược với lề thói của Ngũ Đế vậy. [HHN], (Liu, A. et al. 2010: 52, 92).

Sơn Hải kinh (山海) Nam Kinh hải ngoại (海外南經) viết: 地之所載,六合之間,四海之,照之以日月,經之以星辰,紀之以四時,要之以太,神靈所生,其物異形,或夭或壽,唯聖人能通其道。海外自西南陬,至東南陬者。結匈國在其西南,其為人結匈。南山在其東南。自此山來,蟲為蛇,蛇號為魚。一曰南山在結匈東南。比翼鳥在其東,其為鳥青,赤,兩鳥比翼。一曰在南山東。羽民國在其東南,其為人長頭,身生羽。一曰在比翼鳥東南,其為人長頰有神人二八,連臂,為帝司夜於此野。在羽民東。其為人小頰赤肩。盡十六人畢方鳥在其東,青水西,其為鳥人面一。一曰在二八神東。讙頭國在其南,其為人人面有翼,鳥喙,方捕魚。一曰在畢方東。或曰讙朱國狄山,帝堯葬于陽,帝嚳葬于陰。爰有熊、羆、文虎、蜼、豹、離朱、視肉。吁咽、文王皆葬其所。一曰湯山。一曰爰有熊、羆、文虎、蜼、豹、離朱、𩿨久、視肉、虖交。其范林方三百里Phiên: địa chi sở tái, lục hợp chi gian, tứ hải chi nội, chiếu chi dĩ nhật nguyệt, kinh chi dĩ tinh thần, kỉ chi dĩ tứ thì, yếu chi dĩ thái tuế, thần linh sở sinh, kì vật dị hình, hoặc yểu hoặc thọ, duy thánh nhân năng thông kì đạo. Hải ngoại tự tây nam tưu, chí đông nam tưu giả. Kết hung quốc tại kì tây nam, kì vi nhân kết hung. Nam sơn tại kì đông nam. Tự thử sơn lai, trùng vi xà, xà hào vi ngư. Nhất viết nam sơn tại kết hung đông nam. Bỉ dực điểu tại kì đông, kì vi điểu thanh, xích, lưỡng điểu bỉ dực. Nhất viết tại nam sơn đông. Vũ dân quốc tại kì đông nam, kì vi nhân trường đầu, thân sinh vũ. Nhất viết tại bỉ dực điểu đông nam, kì vi nhân trường giáp. Hữu thần nhân nhị bát, liên tí, vi đế ti dạ ư thử dã. Tại vũ dân đông. Kì vi nhân tiểu giáp xích kiên. Tận thập lục nhân. Tất phương điểu tại kì đông, thanh thủy tây, kì vi điểu nhân diện nhất cước. Nhất viết tại nhị bát thần đông. Hoan đầu quốc tại kì nam, kì vi nhân nhân diện hữu dực, điểu uế, phương bộ ngư. Nhất viết tại tất phương đông. Hoặc viết hoan chu quốc. Địch sơn, đế Nghiêu táng vu dương, đế Khốc táng vu âm. Viên hữu hùng, bi, văn hổ, vị, báo, li chu, thị nhục. Hu yết, văn vương giai táng kì sở. Nhất viết thang sơn. Nhất viết viên hữu hùng, bi, văn hổ, vị, báo, li chu, si cửu, thị nhục, hô giao. Kì phạm lâm phương tam bách lí. Dịch: Đất chở vạn vật, trong cõi lục hợp (thượng, hạ, đông, tây, nam, bắc), bao bọc bốn biển, nhật nguyệt sáng soi, tinh tú vạch đường, bốn mùa giềng mối, Thái Tuế buộc đòi, thần linh sinh ra, vạn vật dị hình, thọ dai chết yểu, chỉ có thánh nhân tường minh lẽ đó. Hải ngoại khéo là tận mé đông nam chí mé tây nam. Nước Kết Hung nằm mé tây nam, bọn đó là rợ Kết Hung. Nam Sơn nằm về phía đông nam nước đó. Rợ Nam Sơn gọi sâu trùng là rắn, kêu rắn là cá. Có kẻ nói Nam Sơn ở mé đông nam Kết Hung. Chim kiêm kiêm  sống ở phía đông nước đó, loại chim ấy có lông màu xanh, đỏ, trống mái liền cánh. Có kẻ nói chúng ở phía đông Nam Sơn. Nước Lông Vũ ở mé đông nam, rợ ấy đầu dài, mình mọc lông vũ. Có kẻ nói ở phía đông nam nơi ở của chim kiêm kiêm có giống rợ má dài. Có hai mươi tám vị thần nhân, liền tay, là Thần Cầm canh ở cõi đó. Ở phía đông của rợ Lông Vũ có rợ má nhỏ vai đỏ. Tất cả có mười sáu tên. Chim Tất phương sống ở mạn đông, phía tây Thanh Thủy, giống chim ấy mặt người, một chân. Có kẻ nói nó ở phía đông của bọn 28 Thần nhân. Nước Hoan Đầu ở mạn nam, rợ đó mặt người, có cánh chim, mỏ chim, là loài ăn cá. Có kẻ nói rợ đó ở phía đông của giống chim Tất phương, hoặc đó là nước Hoan Chu vậy. Tại Địch Sơn, Đế Nghiêu táng tại phía Dương (Nam), còn Đế Khốc táng tại phía Âm (Bắc). Rồi thì Hữu Hùng, Gấu Bi, Hổ Vằn, Vượn, Báo, Li Chu (Thần cầm, Cận thần của Hoàng đế)Thị Nhục (động vật huyền thoại). Cả Hu YếtVăn Vương đều được an táng ở đó. Có kẻ nói là Thang Sơn. Lại có kẻ nói: Hữu Hùng, Gấu Bi, Hổ Vằn, Vượn, Báo, Li Chu, Si Cửu, Thị Nhục và Hô Giao. [:郭璞《注》: “所未詳也袁珂《校注》以為是人名,即帝舜Phiên: Hu Yết: Quách Phác “Chú”: “sở vị tường dã”. Viên Kha “Giáo chú” dĩ vi thị nhân danh, tức Đế Thuấn. Dịch: “Hu Yết” – Quách Phác ghi chú là “Vẫn chưa rõ”. Viên Kha đối chiếu, và chú là Đế Thuấn vậy. [HHN], (Yuan, K. 2014: 171)

_____________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Chunming Wu 春明 Ngô Xuân Minh (2021). The Prehistoric Maritime Frontier of Southeast China Indigenous Bai Yue and Their Oceanic Dispersal, The Archaeology of Asia-Pacific Navigation, Volume 4, Series Editor, The Center for Maritime Archaeology, The Belt and Road Research Institute, Xiamen University, Xiamen, Fujian, China; published by the registered company Springer Nature Singapore Pte Ltd. The registered company address is: 152 Beach Road, #21-01/04 Gateway East, Singapore 189721, Singapore.

Tác giả: Ngô Xuân Minh, nam, sinh năm 1966, quê ở Cổ Điền, Phúc Kiến. Giáo sư Khoa Lịch sử của Trường Nhân văn cũ, Đại học Hạ Môn, và hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ về Khảo cổ học và Bảo tàng học. Ông cũng là nhà nghiên cứu thỉnh giảng tại Trung tâm Nghiên cứu Văn minh Cổ đại thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, Viện Văn hóa Trung Quốc tại Đại học Hồng Kông, Trung tâm Nghiên cứu Lương Chử Quốc tế (Chiết Giang), đồng thời là giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Hải Dương (Thanh Đảo). Giám đốc kiêm Phó Tổng thư ký Hội Nghiên cứu Lịch sử Dân tộc Bách Việt. Vào ngày 14 tháng 10 năm 2014, Đại học Hạ Môn đã khai trừ ông khỏi đảng và thu hồi tư cách giáo sư của ông vì bị tố cáo quấy rối tình dục và quan hệ bất chính với một số sinh viên đã tốt nghiệp và nghiên cứu sinh. Vào tháng 1 năm 2018, ông trở thành thủ thư của Viện Nghiên cứu Biển Đông thuộc Đại học Hạ Môn.

Tài liệu dẫn

Ban, G. 班固, 1962. History of the Han Dynasty. Originally published in East Han Dynasty, new edition, Beijing: Zhonghua Book Company (Han Shu 汉书, 华书 Zhongua Shuju).

Fei, X.T. 孝通, 1989. The Integration Pattern of the Pluralistic Cultures of Chinese Nation. Journal of Peking University, No. 4, pp. 1–19 (Fei Xiaotong, Zhonghua Minzu de Duoyuan Yiti Geju 《中民族的多元一体格局》, in Beijing Daxue Xuebao 《北京大学学).

Hegel, Georg Wilhelm Friedrich, 2001. The Philosophy of History. Kitchener: Batoche Books.

Li, B.Q. 李伯, 1990. The Development Stage and Zoning System of Bronze Culture in Ancient China. Huaxia Archaeology, No. 2, PP. 82–91 (Zhongguo Qingtong Wenhua de Fazhan Jieduan yu Fenqu Xitong 《中国青文化的段与分区系, in Huaxia kaogu 夏考古》).

Liu, A. , Chen, J. , ed. 2010. The Book of the Prince of Huainan. Originally published in Han Dynasty, new edition, Zhengzhou: Zhongzhou Ancient Book Publishing House (Huai’nanzi 《淮南子》, Zhongzhou Guji Chubanshe 中州古籍出版社).

Mo, D. 墨翟, Shi, M. 施明 (ed.), 2001. Book of the Master Mocius. Originally made by D. Mo in Warring State period and annotated by M. Shi. New edition, Guangzhou: Guangzhou Press (Mozi 《墨子》, Guangzhou chubanshe 广州出版社).

Ruan, Y. 阮元, ed. 2009. The Thirteen Classics, with Annotations and Commentaries. Originally published in Song Dynasty and re-edited & printed by Ruan Yuan in 20th year of Jiqqing () reign (1815) of Qing dynasty. New edition, Beijing: Zhonghua Book Company (Shisanjing Zhushu 《十三注疏》, Zhongua Shuju 华书).

Sima, Q., 1959. Records of the Historian. Originally published in Han Dynasty, with annotations by S.J. Zhang () of Tang Dynasty, Z. Sima (马贞) of Tang Dynasty and Y. Pei () of Song Dynasty. New edition, Beijing: Zhonghua Book Company (Shiji《史, Zhongua Shuju (华书).

Xun, K. 荀况, Zhang, J. 张觉, ed. 1995. Annotation on the Book of Master Xuncius. Originally made by K. Xun in Warring State period and annotated by J. Zhang with new edition, Shanghai: Shanghai Classic Publishing House (Xunzi Yizhu 《荀子著》, Shanghai Guji Chubanshe 上海古籍出版社).

Yan, W.M. 文明, 1987. The Unity and Diversity of the Prehistoric Cultures in China. Cultural Relics, No. 3, PP. 38–50 (Zhongguo Shiqian Wenhua de Tongyixing yu Duoyangxing 《中国史前文化的一性与多性》, in Wenwu 《文物》).

Yuan, Ke 袁珂ed. 2014. Commentaries on the Classic of the Mountains and Seas (final revision). Beijing: Beijing United Publishing House (Shanhaijing Jiaozhu 《山海校注》 (), Beijing Lianhe Chubanshe 北京合出版社).